HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ TIỀN VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 31

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................6
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NHNN VIỆT NAM................10
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NHNN VIỆT NAM. .10
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
...............................................................................................................................................................11
CHƯƠNG HAI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NHNN VIỆT NAM..........37

2.2 Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của NHNN Việt Nam 49
2.2.1 Các văn bản pháp quy...........................................................................................................49
2.2.2 Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá (Công cụ và biện pháp thực hiện)...........................50

2.3 Đánh giá chung về thực trạng điều hành chính sách tỷ giá....................65
2.3.1 Những kết quả đạt được.......................................................................................................65
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại....................................................................................................67
CHƯƠNG BA: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NHNN VIỆT NAM
...............................................................................................................................................................72

3.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam trong thời kì hậu suy thoái (Giai đoạn 2010 2011)72
3.1.1 Cơ hội....................................................................................................................................72
3.1.2 Thách thức............................................................................................................................73
3.1.3 Mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô.........................................................................................75

3.2 Định hướng chính sách tỷ giá của NHNN Việt Nam năm 2011.............76
3.3 Các giải pháp hoàn thiện điều hành chính sách tỷ giá của NHNN Việt
Nam. 78
3.3.1 Điều hành linh hoạt tỷ giá cơ bản do NHNN công bố............................................................78
3.3.2 Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô để hoạt động can thiệp vào tỷ giá đạt hiệu quả cao. 79
3.3.3 Hoàn chỉnh và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng................................................80
3.3.4 Kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường chợ đen...................................................................81

DN XNK

: Doanh nghiệp Xuất Nhập Khẩu

VNĐ

: Việt Nam đồng

USD

: Đô la Mỹ

TMQT

: Thương Mại quốc tế

NSNN

: Ngân sách Nhà nước

CSTT

: Chính sách Tiền tệ



LỜI MỞ ĐẦU
Từ năm 2000 đến nay, kinh tế thế giới luôn trải qua nhiều biến động.
Bắt đầu từ sự phá sản của WorldCom năm 2003, Mardoff với vụ lừa đảo
lịch sử 65 tỷ USD năm 2005, và lớn nhất là khủng hoảng tín dụng Mỹ

nền kinh tế thế giới. Gia nhập WTO là một trong những biểu hiện cho sự
hội nhập này, đây được coi là một cơ hội nhưng cũng là một thách thức
rất lớn. Đó là tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng,
cán cân vốn đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn bị biến động mạnh. Thực
trạng cán cân thanh toán toán tổng thể cộng với tác động tiêu cực của
khủng hoảng tài chính 2008 đã ảnh hưởng đến nền tài chính tiền tệ của
Việt Nam.
Về chính sách tỷ giá, trong những năm qua, NHNN đã chuyển đổi
điều hành tỷ giá theo cơ chế cố định sang thả nổi có kiểm soát (2/1999).
Mặc dù đã được điều chỉnh linh hoạt hơn nhưng dưới tác động của các
yếu tố nội sinh và ngoại sinh hiện nay tỷ giá VND/USD chưa phản ảnh
đúng cung –cầu ngoại tệ trên thị trường, tỷ giá chính thức và tỷ giá trên
thị trường chợ đen vẫn có độ lệch lớn, hiện tượng găm giữ ngoại tệ vẫn
gia tăng v.v.. Tỷ giá vẫn còn là nỗi lo ngại của các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, của các nhà đầu tư nước ngoài, của chính NHTM và của các
nhà hoạch định chính sách tiền tệ.
Nhận thức được tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái trong tổng thể
chính sách tài chính – tiền tệ của chính phủ trong suốt thời gian qua, khái
quát sự đổi mới hệ thống tài chính trên lĩnh vực tỷ giá nhằm làm sáng tỏ
những ưu nhược điểm để từ đó có những điều chỉnh thích hợp góp phần
đưa tỷ giá trở thành công cụ giúp ổn định giá trị VND và hỗ trợ họat động
kinh tế đối ngoại, góp phần tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn hội nhập


kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay. Chính vì vậy nhóm em
quyết định chọn đề tài "Hoàn thiện điều hành chính sách tỷ giá tại Việt
Nam hiện nay”.
Với kiến thức còn nhiều thiếu sót, cơ sở số liệu thống kê không
đầy đủ và tính phức tạp của đề tài nên trong bài viết không tránh khỏi
khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của thầy cô giáo

Thật vậy, những thay đổi trong điều hành tỷ giá không chỉ tác động đến
chính sách tiền tệ mà còn ảnh hưởng đến chính sách kinh tế đối ngoại của
quốc gia; đến hoạt động sản xuất và chi phối lãnh vực tiêu dùng; đến
thương mại trong nước và quốc tế; đầu tư nội địa và vay mượn nước
ngoài; thị trường chính thức và thị trường tự do; giá cả hàng hoá và giá trị
tiền tệ.
Trong phạm vi giới hạn nhất định, đề tài không nghiên cứu sâu sắc toàn
bộ các vấn đề trên mà chỉ tiếp cận việc điều hành tỷ giá hướng quan sát,
phân tích, đánh giá thực trạng thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đầu
tư, vay nợ nước ngoài và kinh doanh tiền tệ của các NHTM từ 1999 đến
2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, logic học,
chứng minh, phân tích hệ thống, thống kê, chọn mẫu, so sánh, tổng hợp,
kết hợp với sự suy luận khoa học v..v, đề tài hy vọng đóng góp một số
hiểu biết nhất định cho việc nâng cao chất lượng điều hành tỷ giá của
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng số liệu, thông tin từ các
nguồn: NHNN, các NHTM, Qũy Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới tại


Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Viện Nghiên cứu
kinh tế trung ương, các công trình nghiên cứu cấp ngành, tạp chí v.v..
6. Kết cấu đề tài:
Hướng theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
TỶ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH
TỶ GIÁ CỦA NHNN VIỆT NAM
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH

của mình trên thị trường quốc tế.


-

Tỷ giá cũng là nhân tố tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế trong

nước: Khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ giảm giá so với ngoại tệ làm
tăng giá hàng hóa NK dẫn đến tăng chi phí sản xuất, kéo theo sự tăng lên
của giá thành sản phẩm, tất yếu dẫn đến sự gia tăng lạm phát trong nước
và ngược lại. Bởi vậy, nếu được sử dụng một cách đúng đắn, tỷ giá sẽ là
một công cụ hữu ích để điều tiết, quản lý những mất cân đối lớn trong
hoạt động kinh tế. Khi kinh tế khủng hoảng suy thoái, Nhà nước sẽ tìm
cách giảm giá đồng nội tệ để đặt mục tiêu thúc đẩy XK, tăng trưởng kinh
tế. Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển nóng, lạm phát cao, bằng cách
nâng giá đồng nội tệ, Nhà nước có thể hạn chế XK và kiềm chế lạm phát.
Ngoài ra, tỷ giá còn thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển, tác động đến
hành vi của những chủ thể tham gia trên thị trường như đối với các doanh
nghiệp XNK, tỷ giá là cơ sở để xác định giá cả, cơ cấu hàng hoá XNK,
đối với các NHTM, những dự báo về sự biến động của tỷ giá là yếu tố
quan trọng để quyết định loại ngoại tệ và thị trường đầu tư... Và cuối
cùng, tỷ giá là thước đo phản ánh chính xác cung cầu ngoại tệ trong nước,
là tín hiệu cho thực trạng mối quan hệ kinh tế đối ngoại mà thông qua đó,
chính phủ có thể đưa ra chính sách kinh tế phù hợp đáp ứng kịp thời nhu
cầu ổn định kinh tế trong từng thời kì.
1.1.2.Các

mô hình xác định tỷ giá

Trên thực tế các nhà kinh tế học cổ điển và cả hiện đại đã mất rất

số giả định khác nhau về mức độ mềm dẻo của mặt bằng giá và mức độ
hoán đổi của hàng hóa, tài sản nội địa và quốc tế. Với những giả định đó,
các mô hình trên chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ giá cân bằng với một số biến
số vĩ mô quan trọng khác như GDP, lạm phát, tổng thanh khoản, lãi suất,
cán cân thương mại. Cho đến nay, các mô hình này đều được các tổ chức
tài chính tư nhân cũng như các chính phủ và tổ chức quốc tế sử dụng để
xác định tỷ giá cân bằng hoặc dự báo tỷ giá trong tương lai.


Các chuyên gia IMF đã nghiên cứu và đưa những mô hình lý thuyết
trên vào thực tế, trở thành một dạng mô hình thực nghiệm tên là
BEER(Behavioral Equilibrium Exchange Rate) . Các mô hình BEER
được coi là trung hạn so với mô hình PPP (dài hạn). Tuy nhiên, những mô
hình BEER chỉ đưa ra kết quả khả quan khi sử dụng đánh giá trong mẫu,
hầu hết các đánh giá ngoài mẫu đều cho kết quả không có ý nghĩa thống
kê.
Không chỉ rất kém về mặt dự báo tỷ giá, cả mô hình PPP và các mô
hình thế hệ thứ hai đều không giải thích được một số hiện tượng quan
trọng trong thị trường ngoại hối như sự dao động của lãi suất thực... Và
không đề cập, phân tích hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất,
những đơn vị nhỏ nhất của một nền kinh tế.
Đến khi trường phái Keynes mới xuất hiện vào những năm 1990 dựa
trên nguyên tắc vi mô, các mô hình kiểu mới tiếp tục được ra đời và giải
quyết phần nào những khúc mắc mà các mô hình kiểu cũ không có câu trả
lời. Một mô hình xác định tỷ giá có tính bước ngoặt trong thời kì này là
mô hình vĩ mô mở của Maurice Obstfeld và Kenneth Rogoff. Trong mô
hình Obstfeld-Rogoff, tỷ giá được đặt ngang hàng với các biến số vĩ mô
khác với giả định giá chậm thay đổi. Các mối quan hệ vĩ mô là kết quả
của một quá trình tối ưu tổng thể của các đối tượng kinh tế riêng lẻ (người
tiêu dùng, công ty) và cơ chế cạnh tranh có độc quyền ngắn hạn. Những

của một quốc gia có thể rơi vào một trong ba trạng thái: Cân bằng, thâm
hụt hay thặng dư. Nếu cán cân thanh toán quốc tế thặng dư thì có thể dẫn
đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, từ đó mà tỷ giá hối đoái
sẽ có chiều hướng giảm hoặc giữ vững. Ngược lại nếu cán cân thâm hụt
thì có thể tác động làm tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng. Tương tự như


vậy, mức độ tăng trưởng và suy thoái của nền kinh tế cũng có thể tác
động lên cung cầu ngoại tệ, qua đó tác động bắc cầu đến tỷ giá. Khi nền
kinh tế có mức tăng trưởng ổn định, nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập
khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu
tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì các
hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho
nguồn cung ngoại tệ giảm đi. Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời
được điều chỉnh trong ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên
cao.
Bên cạnh các yếu tố về kinh tế, các nhân tố khác có khả năng tác động
cung cầu ngoại tệ có thể kể đến các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội, thiên
tai, chiến tranh… và hoạt động đầu cơ. Ví dụ như nếu có sự đình công,
biểu tình, có các biến cố về chính trị trong nước thì các nhà đầu tư nước
ngoài sẽ rút vốn làm cho ngoại tệ trở nên khan hiếm làm cho cung ngoại
tệ giảm do vậy tỷ giá giảm. Hay như hoạt động của những nhà đầu cơ
ngoại tệ: khi nhà đầu cơ dự đoán giá của một loại ngoại tệ nào đó sẽ lên,
họ sẽ dùng nội tệ để mua một số lượng lớn ngoại tệ, làm cho ngoại tệ này
ở trên thị trường trở nên khan hiếm, cung sẽ nhỏ hơn cầu về ngoại tệ đó
dẫn đến giá của loại ngoại tệ đó tăng do đó tỷ giá hối đoái tăng lên.
 Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước
Do tất cả các nhà đầu tư đều thực hiện các hành vi kinh tế của mình
dựa trên lợi ích về kinh tế nên nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao
hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào

Chính phủ. Nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế
nhập Nhẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán
ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.
1.2.Các vấn đề cơ bản về chính sách tỷ giá.
1.2.1.Khái

niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá.


Chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chính phủ (mà đại diện thường
là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành
tỷ giá)và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố
định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với
mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia.
Các chính sách tỷ giá NHTW thường sử dụng :
-Chính sách chiết khấu: chính sách này tác động đến tỷ giá thông qua lãi
suất chiết khấu của NHTW. Khi NHTW thực hiện tăng lãi suất chiếu
khấu sẽ làm cho lãi suất trên thị trường tăng lên. Trong ngắn hạn sự tăng
lên của lãi suất trong nước sẽ thu hút một lượng vốn trên thị trường quốc
tế chảy vào trong nước, từ đó làm tăng nguồn cung ngoại tệ nhằm giảm
bớt sự căng thẳng thiếu ngoại tệ trên thị trường, làm tỷ giá giảm xuống
(đồng nội tệ lên giá) và ngược lại.
-Chính sách hối đoái: NHTW tác động đến tỷ giá thông qua hoạt động
mua bán ngoại tệ ra thị trường. Khi tỷ giá lên cao, NHTW bán ngoại hối
ra thị trường là cho cung ngoại hối tăng lên kéo tỷ giá giảm xuống (nội tệ
lên giá) và ngược lại. Tuy nhiên, để thực hiện chính sách này, NHTW cần
có một lượng ngoại hối đủ lớn để thực thi biện pháp này hiệu quả.
-Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức tỷ giá hối đoái hay là
việc Nhà nước hạ thấp sức mua của đồng tiền nội tệ so với ngoại tệ, từ đó
thúc đẩy xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, cải thiện cán cân thương

-Nếu Chính phủ thực hiện phá giá đồng nội tệ ( tỷ giá (E) tăng hay đồng
nội tệ giảm giá so với ngoại tệ), khi đó giá hàng hóa nhập khẩu bao gồm


nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị kĩ
thuật sản xuất… tính bằng nội tệ tăng lên. Giá hàng hóa nhập khẩu tăng
(P*M) là cho giá hàng hóa chung của nền kinh tế tăng lên gây ra lạm phát.
Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu càng lớn càng gây
ra lạm phát cao.
-Ngược lại khi Chính phủ thực hiện giảm giá đồng nội tệ (Tỷ giá E giảm)
làm giá hàng hóa nhập khẩu giảm, từ đó giảm lạm phát.
Như vậy thông qua các chính sách tác động đến tỷ giá mà Chính phủ có
thể tác động đến giá cả của hàng hóa nhập khẩu, từ đó góp phần điều
chỉnh tỷ lệ lạm phát. Trường hợp muốn giảm lạm phát Chính phủ có thể
thực hiện chính sách nâng giá đồng nội tệ so với ngoại tệ, trường hợp
muốn kích thích lạm phát, Chính phủ có thể phá giá đồng nội tệ (giảm giá
nội tệ so với ngoại tệ) từ đó đạt được mục tiêu về kinh tế đề ra hay khi
muốn ổn định lạm phát, Chính phủ có thể sử dụng chính sách ổn định và
cân bằng tỷ giá.
b) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ.
Theo công thức:
Y=C+I+G+X+M
Khi Chính phủ thực hiện chính sách phá giá nội tệ (giảm giá đồng nội tệ,
tăng giá đồng ngoại tệ) điều này sẽ kích thích xuất khẩu (X tăng) , hạn
chế nhập khẩu (M giảm) do đó thu nhập quốc dân Y tăng và công ăn việc
làm đầy đủ hơn (do nhu cầu lao động sản xuất ở các lĩnh vực xuất khẩu).
Ngược lại, Khi thực hiện chính sách nâng giá nội tệ sẽ làm giảm tăng
trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp.
Có thể thấy chính sách tỷ giá cũng có tác động lớn thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và công ăn việc làm. Cụ thể muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

tăng trưởng kinh tế nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi
suất tăng làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế giảm
sút.
c) Với sản lượng và việc làm.
Như đã nói, chính sách tỷ giá có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất
nhập khẩu. Khi thực thi chính sách duy trì tỷ giá cao (nội tệ giảm giá) sẽ
khuyến khích xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, khi đó nhu cầu của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu tăng lên cùng với đó là số lượng công nhân
có việc làm tăng lên.
d) Với đầu tư quốc tế.
-Đầu tư trực tiếp: tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới giá trị phần vốn
mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong nước. Bên cạnh đó tỷ giá còn tác
động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài bởi
ngoại tệ đầu tư được chuyển đổi sang nội tệ thông qua tỷ giá hối đoái. Do
đó sự thay đổi tỷ giá có ảnh hưởng nhất định đến hành vi của các nhà đầu
tư trong việc quyết định đầu tư hay quyết định rút vốn vào nước sở tại
hay không.
-Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư thông qua việc mua bán chứng
khoán trên thị trường chứng khoán quốc tế.
Lợi tức từ khoản cho vay bằng ngoại tệ = lãi suất ngoại tệ +giảm giá đồng nội
tệ.
Trong đầu tư gián tiếp, luồng vốn lưu chuyển tự do hơn và dễ hàng biến
động hơn so với đầu tư trực tiếp. các nhà đầu tư có thể sẵn sàng rút vốn
khỏi thị trường khi có biến động. Do đó biến động tỷ giá cũng có thể có
tác dụng tích cực thu hút đầu tư cũng có thể có tác dụng tiêu cực làm
giảm vốn đầu tư vào trong nước.


Như vậy muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm phát triển kinh tế đòi
hỏi các quốc gia xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định hợp

số lượng ngoại tệ được phép mua… Tất cả các biện pháp này được đưa ra
nhằm giảm thiểu áp lực thiếu hụt ngoại tệ, tránh đầu cơ và ổn định tỷ giá.
Tuy nhiên có thể thấy kết hối là biện pháp có tính chất hành chính, bắt
buộc các Doanh nghiệp thực hiện và không phù hợp trong bối cảnh nền
kinh tế có xu hướng tự do hóa.
Tóm lại các công cụ trực tiếp là những biện pháp có tác động trực tiếp tới
tỷ giá, làm cho tỷ giá lên xuống theo mong muốn của cơ quan quản lý.
Tuy nhiên cùng với đó là sự hạn chế trong việc kìm hạn tính chất tự nhiên
của nền kinh tế cũng như sự gò ép tỷ giá một cách cứng nhắc có thể gây
ra những hậu quả tiêu cực trái với mong muốn.
1.2.3.2. Các công cụ gián tiếp:
a) Lãi suất tái chiết khấu:
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW đánh vào các khoản tiền cho
các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt trong ngắn hạn hoặc bất
thường của các ngân hàng này. Lãi suất tái chiết khấu là một công cụ của
chính sách tiền tệ để điều chỉnh lượng cung tiền từ đó tác động đến tỷ giá
hối đoái.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi NHTW tăng mức lãi suất
tái chiết khấu sẽ tác động làm tăng lãi suất của các NHTM trên thị trường
mà cụ thể là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Vì vậy trong ngắn hạn sẽ
thu hút được một lượng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước. Điều này là
cho cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong khi đó cầu ngoại tẹ
không đổi , do đó tỷ giá giảm hay nội tệ lên giá so với ngoại tệ.


Ngược lại khi NHTW điều chỉnh giảm lãi suất tái chiết khấu làm cho mặt
bằng chung lãi suất trên thị trường giảm. Dẫn đến giảm luồng vốn ngắn
hạn nước ngoài đang đầu tư ở thị trường sẽ chuyển sang đầu tư ở những
nước có lãi suất cao hơn. Khi đó cung ngoại tệ giảm, cầu ngoại tệ không
đổi, vì thế tỷ giá tăng hay nội tệ giảm giá so với ngoại tệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status