TRUỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
TRẦN THỊ NGỌC HẰNG
HIỆU QUẢ THUỐC CEQUIN 250 VÀ CEFOTAXIM
ĐIỀU TRỊ VIÊM TỬ CUNG, VIÊM DA, NHIỄM
TRÙNG SAU PHẨU THUẬT TRÊN CHÓ, MÈO
TẠI PHÒNG MẠCH CHI CỤC THÚ Y
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ngành: BÁC SĨ THÚ Y
Giáo viên huớng dẫn
Nguyễn Thu Tâm
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Cần Thơ, tháng 9 năm 2012
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Hiệu quả của thuốc Cequin 250 và Cefotaxim điều trị viêm tử
cung, viêm da, nhiễm trùng sau phẩu thuật trên chó, mèo tại phòng mạch
Chi Cục Thú Y thành phố Cần Thơ do sinh viên Trần Thị Ngọc Hằng
thực hiện tại Chi Cục Thú Y Phố Cần Thơ từ tháng 08 đến tháng 11 năm
2012.
Cần Thơ, ngày tháng năm
Cuối cùng, xin cám ơn tất cả các bạn lớp liên thông thú y K36 đã giúp đỡ tôi
trong thời gian học vừa qua.
Mục Lục
Lời Cảm Tạ
Mục lục
Danh sách biểu bảng
Danh sách hình
Tóm lược
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái
2.1.1 Cơ quan sinh dục chó cái
2.1.2 Sinh lý sinh sản chó cái
2.2 Các dạng viêm nhiễm thường gặp trên chó, mèo
2.2.1 Bệnh trên đường sinh dục chó cái
2.2.1.1 Bệnh tích mủ tử cung
2.2.1.2 Bệnh viêm tử cung cấp
2.2.1.3 Bệnh viêm nội mạc tử cung
2.2.3 Bệnh nhiễm trùng sau phẫu thuật
2.2.4 Bệnh trên da
2.3 Đặc điểm một số vi sinh vật gây bệnh
2.3.1 Vi khuẩn Staphylococcus aureus
2.3.2 Vi khuẩn Escherichia coli
2.4 Thuốc sử dụng điều trị
2.4.1 Thuốc Cequin 250
2.4.2 Thuốc Cefotaxim
2.5 Nghiên cứu trong nước và ngoài nước
7
13
16
16
18
20
20
20
22
22
22
22
22
22
22
23
3.2.3 Phân lập vi khuẩn
3.2.4 Phương pháp làm kháng sing đồ
3.2.5 Bố trí thí nghiệm
3.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi
23
28
31
31
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
33
4.1 Một số bệnh đã gặp trong thời gian theo dõi
31
33
34
35
36
36
37
Danh Sách Hình
Hình 1: Khuẩn lạc E. coli trên môi trường EMB
Hình 2: Phản ứng sinh hóa của E. coli
Hình 3: Khuẩn lạc Staphylococcus aureus trên môi trường MSA
Hình 4: Phản ứng đông huyết tương của Staphylococcus aureus
Hình 5: Đĩa kháng sinh đồ
30
30
30
30
30
Tóm Lược
Chúng tôi tiến hành thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung, viêm da, viêm
nhiễm do nhiễm trùng phẩu thuật trên chó, mèo của Cequin 250 và Cefotaxim từ
tháng 7 đến tháng 10 năm 2012 tại bệnh xá phòng mạch số 01 Chi Cục Thú Y thành
phố Cần Thơ. Kết quả thử nghiệm cho thấy: có 32 ca bệnh viêm nhiễm điều trị bằng
Cequin 250 và Cefotaxim khỏi bệnh 100%. Trong đó các bệnh về da chiếm tỷ lệ
chó, mèo.
1
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Cấu tạo và chức năng cơ quan sinh dục chó cái
2.1.1 Cơ quan sinh dục của chó cái
Buồng trứng (noãn bào)
Ở chó buồng trứng nhỏ, hình bầu dục, dài và dẹt có cấu trúc tương đối cứng và
đậm đặc. Kích thước buồng trứng thay đổi tùy theo trọng lượng cơ thể. Chó có tầm
vóc lớn thì buồng trứng lớn hơn nhưng chênh lệch không quá 0,2cm (Lăng Ngọc
Huỳnh, 2003). Chức năng cơ bản của buồng trứng là tạo giao tử cái (noãn) và tiết ra
các kích thích tố như estrogen, progesterone, oxytocine (Trần Thị Dân et al, 2006).
Ống dẫn trứng (noãn quản)
Ống dẫn trứng còn gọi là vòi Fallope gồm có: phễu, phần rộng và phần eo. Ở
chó ống dẫn trứng nhỏ dài 5-8cm, hơi cong bắt đầu từ cạnh bên buồng trứng bởi
một phần loe rộng gọi là phễu. Phễu nở ra để tiếp nhận noãn và có nhiều lông nhung
để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Chức năng cơ bản của
ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng
tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn.
Tử cung
Tử cung có hình chữ Y là nơi thai phát triển, nằm trong xoang chậu, phía dưới
trực tràng và phía trên bóng đái. Gồm 3 phần:
- Sừng tử cung: dài 12-15cm, có đường kính đồng đều và gần như thẳng. Từ
thân chúng rẽ ra thành hình chữ V hướng về mỗi bên thận.
- Thân tử cung: có hình ống, phía trước thông với đầu sừng tử cung, phía sau
thông với âm đạo qua 1 eo hẹp gọi là cổ tử cung. Ở chó, thân tử cung dài khoảng 23cm.
về hoạt động sinh sản, thể vàng teo dần và bắt đầu chu kỳ mới.
2.2 Các dạng viêm nhiễm thường gặp trên chó, mèo
2.2.1 Bệnh trên đường sinh dục chó cái
2.2.1.1 Bệnh tích mủ tử cung
Đặc điểm
Bệnh thường xảy ra trên cả chó và mèo cái.
3
Những rối loạn nội tiết tố, sự lên giống dẫn đến gây bất thường ở nội mạc tử
cung thường là điều kiện dẫn đến nhiễm trùng tử cung. Trong hoạt động sinh dục,
dịch tiết tử cung tăng lên, đó là môi trường thuận lợi cho vi trùng phát triển.
Nguyên nhân
Escherichia coli là vi khuẩn đáng kể nhất trong tình trạng này, kế đến là
Staphylococcus, Proteus spp, Streptococcus, Pseudomonas, và một số vi khuẩn
khác.
Triệu chứng
Tùy thuộc vào sự mở hay đóng của cổ tử cung mà bệnh ở mức độ nặng hay nhẹ,
có 2 trường hợp:
+ Trường hợp viêm mủ tử cung mở (cổ tử cung mở): dịch tiết có mủ lẫn máu
từ âm đạo 4-8 tuần sau khi lên giống, lừ đừ, suy nhược tiểu nhiều, bỏ ăn ói mửa.
+ Trường hợp viêm mủ tử cung đóng (cổ tử cung đóng): ít biểu hiện bên ngoài
nhưng thực tế chó bệnh nặng hơn do cổ tử cung đóng dịch không bài xuất ra ngoài
được. Có dấu hiệu ói do nhiễm độc huyết, khó chẩn đoán (Nguyễn Văn Biện, 2001).
2.2.1.2 Bệnh viêm tử cung cấp tính
Đặc điểm
Thường xảy ra sau khi đẻ khó, những trường hợp như sẩy thai, nhiễm trùng thai,
sót nhau, … Hay do gieo tinh nhân tạo hoặc phối giống nhiều lần trong một kỳ lên
giống.
động hớn rối loạn, có trường hợp hoàng thể tồn tại nên không động hớn. Từ âm hộ
chảy ra nhiều niêm dịch lỏng màu trắng có mủ. Gốc đuôi, mông và dưới âm hộ có
thể bết lại những đám mủ khô màu vàng xám. Kiểm tra thấy âm đạo và cổ tử cung
sung huyết, sưng phù, có khi có cả mủ. Cổ tử cung hơi mở, buồng trứng có hoàng
thể tồn tại hoặc u nan.
Viêm có mủ: đặc điểm là khi cổ tử cung mở là có mủ chảy ra .Thường có mủ
đặc, thối, chảy ra từ âm hộ, nhất là khi con vật nằm mủ chảy ra càng nhiều. Ở xung
quanh âm hộ, gốc đuôi có dính nhiều mủ. Nếu lâu mủ khô và bết lại thành những
đám vẩy (Nguyễn Văn Hào, 2001).
Chẩn đoán
Việc khám bệnh nên bắt đầu bằng cách hỏi bệnh sử, đến khám lâm sàng, rồi kết
hợp với chụp X quang vùng bụng. Việc chuẩn đoán sẽ gặp khó khăn khi không biết
rõ lịch sử bệnh, dịch tiết từ âm đạo không phát hiện, hoặc có sự tiết dịch mà không
thấy hiện tượng nở lớn tử cung. Trong những trường hợp này thì cần thực hiện
những phương pháp khám đặc biệt như siêu âm, nội soi âm đạo, mổ ổ bụng. Cần
chuẩn đoán phân biệt với viêm âm đạo, và các trường hợp khác gây ra tiểu nhiều,
khát nước, có dịch tiết từ âm đạo với màu nho chín.
5
Phòng bệnh
Thường xuyên vệ sinh cơ thể, lau rửa âm môn bằng dung dịch nước muối hay
thuốc tím nhất là trước khi phối giống.
Tay của các kỹ thuật viên hay các dụng cụ sử dụng trong các thao tác khám thai,
đỡ đẻ hay can thiệp đẻ khó, mổ bắt con đều phải vô trùng.
Sau những ca phẫu thuật đẻ khó phải tiêm kháng sinh để chống nhiễm khuẩn và
thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1%.
Cho con vật ăn uống đủ chất, sạch sẽ, chuồng mát, vệ sinh.
Trị bệnh
Dung một trong các loại kháng sinh sau:
Nguyên nhân
Chủ yếu do E.coli, Staphylococcus, Streptococcus,… gây ra tình trạng nhiễm
trùng.
Triệu chứng
Vùng da đỏ, có mụn mủ, có vòng tròn hơi đỏ viền cứng và rụng lông ở giữa. Và
cuối cùng rất dễ nhầm với nấm da (ringworm) và một số bệnh da khác. Con vật có
biểu hiện ngứa lông toàn thân khô ráp, dễ gãy rụng, dày hoặc bong gàu.
Viêm da bề mặt: da biểu hiện nổi mẩn đỏ, nổi mụn nước có dịch rỉ ra có mủ lẫn
máu, da sần sùi, viêm đỏ, lâu ngày vỡ ra, nhiễm nặng làm con vật lở loét lây lan
nhanh, lâu ngày chất dịch dính khô lại, con vật có mùi hôi tanh…(Nguyễn Văn
Biện, 2001).
2.3 Đặc điểm một số vi sinh vật gây bệnh
2.3.1 Vi khuẩn Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn)
Đặc điểm
Tụ cầu khuẩn là loại vi khuẩn sinh mủ điển hình, phân bố rộng rãi trong thiên
nhiên. Tụ cầu khuẩn gồm nhiều cầu khuẩn tạo thành hình giống như chùm nho,
Gram (+), không di động, không sinh nha bào, không có vỏ nhày.
Chia làm 3 loài : là Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis và
Staphylococcus saprophyticus.
Sức đề kháng
Tụ cầu khuẩn đề kháng kém với các tác nhân lý, hóa. Ở 700C tụ cầu khuẩn bị
tiêu diệt trong vòng 30 phút đến 1 giờ. Đun sôi 1000C, tụ cầu khuẩn chết sau 1-2
phút.
7
Tụ cầu khuẩn dễ bị tiêu diệt bởi các loại thuốc sát trùng thông thường, ở nơi khô
ráo tụ cầu khuẩn sống từ 4-5 tháng.
Tụ cầu khuẩn trong mủ có có khả năng đề kháng cao hơn, có thể sống trong mủ
khô nhiều tuần nên cần chú ý đối với vật dụng ở các bệnh xá (Lưu Hữu Mãnh,
màng nảo, viêm khớp ở ngựa, viêm tuyến sữa ở bò trâu và người, viêm tủy xương
và các xoang trong cơ thể.
Tụ cầu khuẩn có thể theo đường máu gây ra mưng mủ ở nội tạng từ đó gây ra
bại huyết và nhiễm độc huyết.
Một số bệnh ở chó do Staphylococcus aureus gây ra là: viêm tử cung cấp tính,
bệnh tích mủ tử cung, viêm vú có nhiễm trùng, viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng
quang, viêm mủ nếp gấp, viêm da mỏm (Nguyễn Văn Biện, 2001).
+ Trong phòng thí ngiệm: thỏ cảm nhiễm nhất
Tiêm vào tĩnh mạch thỏ canh trùng 38-48h làm cho thỏ chết, nếu là độc lực yếu
thì 1- 2 tuần mới chết vì chứng huyết nhiễm mủ, mổ khám thấy nhiều apxe nhất là ở
phủ tạng, thận, bắp thịt, xương, tủy, ở khớp xương, ở lách không có. Lấy mủ ở các
bệnh tích phân lập được vi khuẩn đơn thuần.
Nếu lấy tụ cầu khuẩn tiêm dưới da thì gây apxe cục bộ.
Các chất độc do tụ cầu khuẩn gây bệnh tiết ra:
- Nhân tố diệt bạch cầu (leucocidin):
Làm cho bạch cầu chết, không hoạt động không biến thành không bào, tan rã
thành hạt, mất tính di động, nhân bị phá hủy. Độc tố diệt bạch cầu giữ vai trò quan
trọng trong cơ chế sinh bệnh của tụ cầu.
Độc tố bạch cầu thông qua lọc, ít chịu nhiệt hơn độc tố dung huyết, ở nhiệt độ
56 C- 580C đã bị phá hủy.
0
- Độc tố gây hoại tử da (dermonnecrotoxin) gây hoại tử, viêm da có mủ ở chó:
Chế bằng cách lọc canh trùng tụ cầu. Tiêm vào thỏ độc tố đã được pha loãng
qua 24h ở chổ tiêm phát sinh phản ứng hoại tử, chung quanh nóng và ứ máu.
- Độc tố gây chết (lethal toxin): làm chết thỏ
Nếu tiêm vào động vật cảm nhiễm nước lọc canh trùng tụ cầu thì sẽ sinh ra độc
tố làm chết con vật. Với lượng 0,1- 0,75 ml có thể làm chết con thỏ nặng 1kg. Sau
khi tiêm 15 ml, thỏ bị co giật rất mạnh, thở khó, mê man rồi chết, nếu độc tố không
mạnh lắm thì chuột sẽ chết sau 1 ngày.
- Độc tố đường ruột (enterotoxin):
Độc tố ruột chỉ do một số tụ cầu tiết ra nó gây nên các bệnh đường tiêu hóa:
nhiễm độc do thức ăn, viêm ruột cấp.
Độc tố ruột có 4 loại trong đó có 2 loại đã biết.
+ Độc tố ruột A: tạo ra do một chủng phân lập trong quá trình nhiễm độc thức
ăn.
+ Độc tố ruột B: tạo ra do một chủng phân lập trong các bệnh nhân viêm ruột.
10
Độc tố ruột là những loại độc tố bền với nhiệt độ và không bị phá hủy bởi dịch
vị (Nguyễn Như Thanh et al, 1997).
- Men làm tan tơ huyết (fibrinolysin)
Đây là một loại men đặc trưng cho các chủng gây bệnh ở người. Muốn có loại
men này người ta phải nuôi lên vi khuẩn trong vài ngày sau khi vi khuẩn đã mọc.
Những chủng tụ cầu tiết ra men này phát triển trong cục máu, làm cục máu vở thành
những mảnh nhỏ, những mảnh này dời chổ và gây tắt mạch nhỏ hoặc gây mưng mủ,
đôi khi gây ra hiện tượng nhiễm khuẩn di căn. Có thể dùng rượu hay axeton làm kết
tủa loại men này.
- Men làm đông huyết tương (coagulase)
Men này làm đông huyết tương của người và thỏ, nó có tác dụng lên globulin
trong huyết tương.
Men này là một protein bền vững với nhiệt độ có tính kháng nguyên yếu.
Coagulase là một yếu tố cần thiết của các chủng tụ cầu gây bệnh, nó gây nên
các huyết cục trong tĩnh mạch và gây nên nhiễm khuẩn huyết.
Ngoài ra còn có cogulase cố định, nó tác động trực tiếp lên Fibrinogen, chất
này gắng vào vi khuẩn tạo thành một loại vỏ xung quanh vi khuẩn giúp cho vi
khuẩn chống lại hiện tượng thực bào.
Lấy tụ cầu khuẩn trong canh trùng cho vào huyết tương thỏ hay người có
citrate natri trộn đều rồi để tủ ấm 24 giờ thì thấy huyết tương đông lại.
bào vững chắc đồng thời kích thích monocyte sản xuất Interleukin để lôi cuốn thực
bào thực hiện quá trình thực bào. Peptidoglican kích thích cả hai loại miễn dịch tế
bào và dịch thể.
Protein A là kháng nguyên đặc biệt có ở các chủng Staphylococcus aureus, 90%
protein A được tạo thành trong tế bào kết hợp với peptidoglican. Ở hầu hết các loài
động vật ptotein A kích thích tạo kháng thể kết hợp bổ thể.
Sở dĩ kháng nguyên này mang tên protein A là vì protein này gắn được phần Fc
của IgG, điều này dẫn tới làm mất tác dụng của IgG, chủ yếu làm mất đi opsonin
hóa (opsonisation) nên làm giảm thực bào. Sự gắn Fc của IgG cũng làm mất đi vị trí
để bổ thể gắn trên bề mặt và hoạt hóa theo đường thay đổi, làm giảm tác dụng bảo
vệ cơ thể. Những Staphylococcus aureus sản sinh ra rất nhiều protein A thì tác dụng
thực bào giảm đi rõ rệt (Lê Huy Chính, 2003).
Ngoài ra còn có acid teichoic là kháng nguyên ngưng kết chủ yếu của tụ cầu và
làm tăng tác dụng hoạt hóa của bổ thể. Đây còn là chất bám dính của tụ cầu vào
niêm mạc mũi. Acid này gắn vào polysaccharit vách tụ cầu. Đây là kháng nguyên
O.
12
Kháng nguyên Adherin (yếu tố bám): giống như nhiều loại vi khuẩn khác, tụ cầu
có protein bề mặt đặc hiệu, có tác dụng bám vào recepter đặc hiệu tế bào. Adherin
có thể là các protein: laminin, fibrionectin, collagen. Sự bám này có liên quan đến
sự định vị của tụ cầu khuẩn trên mô, sự xâm nhập và chống thực bào (Tô Minh
Châu et al, 2001).
Miễn dịch
Miễn dịch thu được đối với tụ cầu nói chung là thấp. Hàng rào tế bào tự nhiên,
trong đó tế bào thực bào đóng vai trò quan trọng nhất.
Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào có xảy ra với việc tiết ra các
lymphokin và hoạt hóa đại thực bào. Tuy vậy nhưng không làm tăng sự diệt khuẩn.
kháng nguyên này có tính ngưng kết chéo với kháng nguyên thân.Vì vậy khi thử
nghiệm cần phải đun sôi để loại bỏ kháng nguyên K. Trong kháng nguyên K có
nhiều loại L, A, B nên tạo nhiều type huyết thanh khác nhau. Phần lớn E. coli có
kháng nguyên K bao phủ kín kháng nguyên O nên khi còn sống, vi khuẩn này
không gây ngưng kết với kháng nguyên O tương ứng.
+ Kháng nguyên L: ngăn không cho hiện tượng ngưng kết O.
+ Kháng nguyên A: kháng huyết thanh trộn với E. coli có kháng nguyên A
gây hiện tượng phình vỏ, với nhiệt độ 1200C trong 2 giờ kháng nguyên A mới bị
phá hủy.
+ Kháng nguyên B: gồm nhiều thành phần B1, B2, B3, B4, B5. Kháng nguyên B
cũng ngăn không cho ngưng kết kháng nguyên O của vi khuẩn sống xảy ra, đun
1000C trong một giờ kháng nguyên này bị phá hủy một phần.
Căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, E. coli được chia làm nhiều nhóm, căn cứ
vào tính chất kháng nguyên O, K, H của E. coli chia làm nhiều type, mỗi type được
ghi bằng số thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K và H.
Đặc tính sinh hóa
E. coli lên men sinh hơi các loại đường glucose, fructose, levulose, xylose,
rammoose, mannitol, lactose.
Có thể lên men hoặc không lên men các loại đường saccharose, rafinose, xalixin,
esculin, dunxit, glyxerol.
Không lên men dextrin, amidon, glycogen, inosit, anpha-metylglucosit (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1977).
Tất cả E. coli đều lên men đường lactose nhanh và sinh hơi đó là đặc điểm quan
trọng mà người ta dựa vào đó để phân biệt E. coli và Salmonella. Tuy nhiên vẫn có
một vài chủng E. coli không lên men đường lactose.
Sữa: đông sau 24 – 72 giờ ở 370C.
14
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng đông: không tan chảy.
15
E. coli có sẵn trong ruột của con vật, nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của
con vật giảm sút (do chăm sóc nuôi dưỡng hoặc thời tiết thay đổi).
Bệnh do E. coli có thể xảy ra như một bệnh truyền nhiễm kế phát trên cơ sở
thiếu vitamin hoặc một bệnh virus hoặc kí sinh trùng.
E. coli thường gây bệnh cho súc vật mới đẻ từ 2-8 ngày.
Đường xâm nhiễm
E. coli còn gọi là vi khuẩn cơ hội do chúng co sẵn trong cơ thể người và động
vật nhưng chỉ khi sức đề kháng của con vật giảm sút đi , chăm sóc quản lý kém vi
khuẩn mới gây bệnh. Hầu hết các trường hợp viêm tử cung điều có sự hiện diện của
vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong âm hộ. Lợi dụng lúc chó sinh sản tử
cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập đường sinh dục
gây viêm tử cung (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977).
Chẩn đoán huyết thanh học
Dung bệnh phẩm cấy lên môi trường phân lập, quan sát hình thái trên tiêu
bản, làm các phản ứng huyết thanh ngưng kết và phản ứng sinh hóa, sau đó thử độc
lực trên động vật thí nghiệm.
2.4 Thuốc sử dụng điều trị
2.4.1 Thuốc Cequin 250
Đặc điểm
Cequin 25 có chứa cefquinome (sulfate), là kháng sinh thế hệ mới thuộc nhóm
cefalosporin thế hệ thứ 4 thâm nhập tốt vào màng tế bào và có tính bền với betalactamase. So với các cefquinome thế hệ trước, cefquinome không bị thủy phân bởi
cephalosporinase mã hóa gen của Amp-type C hoặc bởi plasmid trung gian
cephalosporinase của một số loài vi khuẩn đường ruột.
Tuy nhiên, một số Beta-lactamase mở rộng phổ (Extened Spectrum BetaLactamse - ESBL) có thể thủy phân cefquinome và các cephalosporine của các thế
hệ khác. Khả năng phát triển chủng đề kháng với Cefquinome tương đối thấp. Mức
đề kháng cao với cefquinome cần phải có sự trùng hợp của hai biến chủng, thí dụ sự
tăng sản của beta-lactamse đặc biệt cũng như giảm tính thấm của màng.
Heo con: Viêm màng não do Streptococcus suis, viêm khớp, viêm da.
Chó mèo:
Các viêm nhiễm do các loài vi khuẩn Staphylococcus, E. coli…nhạy cảm với
Cefquinome.
Chỉ định
Trâu, bò, dê, cừu: Tụ huyết trùng, viêm phổi, viêm tử cung, viêm vú, thối
móng.
17