TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LỊCH SỬ THẾ GIỚI
VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở LỚP 8
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc vốn là hai bộ phận riêng biệt, mỗi phần có những
đặc điểm riêng. Tuy nhiên đây lại là hai bộ phận không tách rời nhau. Những sự kiện lịch
sử xảy ra ở mỗi quốc gia ít nhiều cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của lịch sử thế giới và
những chuyển biến của lịch sử thế giới sẽ tạo nên xu hướng phát triển chung cho các quốc
gia.
Mối quan hệ tác động qua lại giữa lịch sử thế giới với lịch sử dân tộc là điều không
ai có thể phủ nhận. Vì vậy, nếu chúng ta hiểu rõ được tình hình đang diễn ra trên thế giới
thì chúng ta có thể giải thích được các sự kiện đang xảy ra trong nước tại thời điểm đó và
sẽ dự đoán được một phần tương lai phát triển của một quốc gia, dân tộc mình.
Hiểu rõ tầm quan trọng trong mối quan hệ qua lại giữa hai bộ phận lịch sử: thế giới
và dân tộc nên trong các bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông (cả THCS và THPT) các nhà
biên soạn sách đã sắp xếp phần lịch sử thế giới học trước phần lịch sử Việt Nam, nhằm
giúp cho các em có một cách nhìn tổng quan trước khi đi tìm hiểu lịch sử dân tộc. Theo tôi
đây là một cách sắp xếp khoa học và hợp lý có tính chất định hướng tư duy cho cả giáo
viên và học sinh.
Tuy nhiên trên thực tế, nhiều em học sinh và một số giáo viên vẫn luôn coi lịch sử
thế giới và lịch sử Việt Nam là hai bộ phận tách biệt. Các em học sang phần lịch sử Việt
Nam thì quên lịch sử thế giới. Vì thế, khi học đến lịch sử Việt Nam, các em không hiểu
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
Về thời gian: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến năm 1918.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Qua đề tài này, tác giả mong muốn sẽ giúp cho đồng nghiệp cũng như
học sinh thấy rõ mối quan hệ khăng khiết giữa hai bộ phận: lịch sử thế giới và lịch sử Việt
Nam; từ đó vận dụng kiến thức đã học ở phần thế giới lý giải và làm sáng tỏ các sự kiện ở
lịch sử Việt Nam.
- Nhiệm vụ: Vận dụng có hiệu quả vào việc giảng dạy lịch sử.
4. Đóng góp của đề tài.
Đề tài hoàn thành sẽ là nguồn tài liệu giúp cho các giáo viên đang trực tiếp giảng
dạy lịch sử bậc THCS nói chung và lịch sử lớp 8 nói riêng hiểu rõ mối quan hệ qua lại
giữa hai bộ phận: lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam; từ đó có phương pháp riêng bản
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
2
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
thân để vận dụng linh hoạt hai kiến thức này với nhau tạo ra hứng thú học tập môn sử cho
các em học sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước; trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng hai phương pháp chuyên ngành chủ
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
3
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
B. PHẦN NỘI DUNG
I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Bước vào lớp 6, các em học sinh sẽ được học một môn khoa học độc lập đó là môn
Lịch sử. Theo một cấu trúc định sẵn ở bậc THCS thường học hết phần lịch sử thế giới mới
đến phần lịch sử Việt Nam. Và niên đại của các sự kiện thế giới bao giờ cũng tồn tại song
song hoặc gần với thời gian diễn ra các sự kiện trong lịch sử dân tộc.
Ví dụ:
Phần lịch sử lớp 6: các em được học 4 bài (từ bài 3 đến bài 6), là những kiến thức
khái quát nhất về sự tiến hóa của loài người trên trái đất và những quốc gia đầu tiên trên
thế giới. Sang phần lịch sử Việt Nam các em học trong 20 bài (từ bài 8 đến bài 27) là toàn
bộ phần lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc (sự xuất hiện của con người trên đất nước ta) đến
thế kỷ X.
Phần lịch sử lớp 7: Các em được học về lịch sử thế giới trung đại trong 7 bài đầu
và phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỷ XIX cũng là thời kì phong kiến giai
đoạn trung đại ở Việt Nam
Phần lịch sử 8: Với 23 bài các em được học phần lịch sử thế giới cận đại và 8 bài
DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở LỚP 8 TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG.
Nhìn chung việc dạy và học lịch sử ở trường THCS – THPT Tà Nung luôn đảm
bảo chương trình, theo đúng tiến độ và thực hiện nghiêm túc theo phân phối chương trình
mà Sở GD – ĐT Lâm Đồng đã đề ra. Tuy nhiên, việc học và dạy là quá trình động, phụ
thuộc vào nhiều yếu tố mà trực tiếp là người dạy (giáo viên) và người học (học sinh), kết
quả cuối cùng là người học đã hiểu, vận dụng được gì từ cái học trước vào phân tích cái
đang học cũng như vận dụng vào cuộc sống hàng ngày của các em.
Thực tế, hầu hết các em học sinh đều chưa hiểu hết mối quan hệ qua lại giữa phần
lịch sử thế giới với phần lịch sử Việt Nam. Do đó, trong tư duy của các em đây là hai phần
độc lập, học hết phần lịch sử thế giới thì có thể bỏ qua theo kiểu (song thì cất đi), các em
chưa có một sự vận dụng nhất định trong quá trình tư duy và học phần lịch sử Việt Nam.
Ví dụ: Ở bài 24: “Cuộc kháng chiến từ năm 1958 đến năm 1873” (SGK Lịch sử 8)
các em học về quá trình xâm lược của thực dân Pháp vào Việt Nam tại Đà Nẵng (1858),
Gia Định (1859)…các em sẽ không thể lý giải được các câu hỏi của lịch sử đề ra như: Tại
sao mãi đến năm 1858 thực dân Pháp mới chính thức xâm lược Việt Nam? Quá trình này
có phải là một tất yếu hay không?. Nếu như các em không còn nhớ kiến thức lịch sử thế
giới đã học ở bài 2 (Cách mạng tư sản Pháp) và bài 3 (Chủ nghĩa tư bản xác lập trên
phạm vi toàn thế giới).
Bài 25: “Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873 – 1884)”, kết thúc bài là hiệp
ước Pa-tơ-nốt đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình nhà Nguyễn. Nước ta từ một
nước độc lập trở thành nước: thuộc địa nửa phong kiến. Vậy câu hỏi được đặt ra là: Việc
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
5
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
6
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
thích rõ ràng các câu hỏi trên nếu các em có được kiến thức lịch sử xuyên suốt và khái
quát của phần lịch sử thế giới cận đại.
Về phía giáo viên dạy: đa số các thầy cô giáo khi lên lớp đều rất tâm huyết với nghề
nghiệp, cố gắng truyền thụ, hướng dẫn các em những kiến thức cần thiết. Tuy nhiên do
thời gian một tiết học có hạn (45 phút) trong khi đó lượng kiến thức của bài học mới
thường dài, vì thế hầu hết các giáo viên đã không có nhiều thời gian để ôn tập, củng cố và
hệ thống kiến thức cho các em. Giáo viên đã chưa thể tạo ra và khắc sâu mối liên hệ chặt
chẽ giữa phần lịch sử thế giới với phần lịch sử Việt Nam.
Tóm lại: Trong việc dạy học lịch sử ở trường THCS – THPT Tà Nung, mối quan hệ
giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam hầu hết vẫn chưa được đánh giá đúng, do đó việc
vận dụng kiến thức lịch sử thế giới vào dạy và học lịch sử Việt Nam vẫn đang còn rất
nhiều hạn chế. Chính hạn chế này là một trong những nguyên nhân không tạo ra được
hứng thú học tập môn lịch sử cho các em học sinh. Các em không thể lý giải các câu hỏi
của phần lịch sử Việt Nam đặt ra do chưa nắm được quy luật vận động và phát triển của
lịch sử thế giới, từ đó gây tâm lý chán nản, khó hiểu và ngại học môn lịch ở cho các em
học sinh. Và đây cũng là lý giải cho câu hỏi: Vì sao học sinh Việt Nam lại ngại học lịch sử
dân tộc mình.
III. KINH NGHIỆM CỦA BẢN THÂN RÚT RA TỪ THỰC TẾ GIẢNG DẠY.
Tuy số năm công tác cũng chưa thực sự nhiều song bản thân tôi đã hiểu rất rõ tầm
Do sự phát triển của lịch sử dân tộc mang đặc điểm riêng nên trong cách phân chia
giai đoạn giữa lịch sử Việt Nam với phần lịch sử thế giới không tương đương nhau song
các sự kiện lịch sử dân tộc đều có liên quan đến phần lịch sử thế giới và phần lịch sử thế
giới luôn tác động đến sự phát triển của lịch sử dân tộc ta.
2. Giới thiệu cho các em biết phần lịch sử lớp 8 mà các em chuẩn bị học là nằm ở
giai đoạn chung nào: Đó là phần lịch sử thế giới cận đại (từ khoảng thế kỷ XVI đến năm
1917) và tương đương là phần lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Qua phần giới thiệu khái quát đó các em mới hình dung được cái mà các em đang được
tìm hiểu là nằm ở chương, mục và giai đoạn nào.
3. Trong từng bài học của phần lịch sử Việt Nam, giáo viên cũng nên có khái quát,
liên hệ cụ thể để các em có sự hình dung, so sánh hai chiều các sự kiện đang xảy ra trong
cùng thời điểm giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Từ đó, các em có thể hiểu và lý
giải cặn kẽ các vấn đề lịch sử đặt ra trong từng bài. Cụ thể như sau:
Bài học
Nội dung lịch sử Việt Nam
Kiến thức lịch sử thế giới có liên
Bài 24:
quan, ảnh hưởng đến LSVN
- Từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư - Năm 1789 Pháp tiến hành cuộc cách
Cuôc
bản phương Tây đẩy mạnh việc xâm mạng tư sản.
kháng
-
vực công nghiệp, giao thông vận tải.
Ngày 17/2/1959, quân Pháp - Sau cuộc cách mạng tư sản và cách
chuyển vào đánh Gia Định và các mạng công nghiệp, kinh tế Pháp phát
tỉnh miền Đông Nam Kì.
triển nhanh chóng, đặt ra yêu cầu cần
mở rộng lại thị trường và cung cấp
nguyên liệu, tư bản Pháp tiến hành
các cuộc chiến tranh xâm lược ở các
nước phương Đông, trong đó Việt
Bài 25:
Nam là mục tiêu xâm lược
- Ngày 20/11/1873, quân Pháp đánh - Năm 1870 chiến tranh Pháp – Phổ
Kháng
thành Hà Nội, chính thức đánh nổ ra trong điều kiện không có lợi
chiến lan
chiếm Bắc Kì. Quân triều đình dưới cho Pháp.
rộng ta
9
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
nhưng triều đình Huế lại chủ trương hàng thứ hai thế giới bằng 1/3 diện
thương lượng với Pháp
tích thuộc địa của Anh.
- Quân Pháp lợi dụng triều đình Huế - Các nước Đông Nam Á từ giữa thế
lục đục đã nổ súng đánh thẳng vào kỷ XIX trở thành đối tượng xâm lược
Thuận An, buộc triều đình Huế kí của các nước tư bản phương Tây.
hiệp ước Hác-măng (1883) và hiệp Anh xâm lược Mã Lai, Miến Điện.
ước Pa-ta-nốt (1884).
Pháp chiếm Việt Nam- Lào Campuchia, Bồ Đào Nha thôn tính
In- đô- nê- xi-a… Chỉ có Xiêm là
thoát khỏi tình trạng nước thuộc địa
Bài 28:
nhờ ngoại giao khôn khéo.
- Vào những năm 60 của thế kỉ - Ở Nhật Bản diễn ra cuộc cải cách
- Bộ máy chính quyền từ trung ương để phát triển đất nước.
đến địa phương trở nên mục ruỗng, - Tháng 1/1868 sau khi lên ngôi,
mâu thuẫn dân tộc ngày càng gay Thiên hoàng Minh Trị đã chọn con
gắt. Trong bối cảnh đó, các trào lưu đường cải cách tiến bộ nhằm đưa
cải cách Duy Tân ra đời.
Nhật Bản thoát khỏi tình trạng lạc
hậu. Đó là cuộc cải cách Minh Trị
được tiến hành trên nhiều lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,
giáo dục, quân sự…
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
10
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
Bài 29:
- Sau khi căn bản hoàn thành công - ở Trung Quốc: Sau cuộc chiến tranh
Chính
các nước đế quốc còn trực tiếp kinh
biến về
doanh lũng đoạn quyền trên xây dựng
kinh tế, xã
đường sắt, tích cực đầu tư khai thác
hội ở Việt
hầm mỏ ở Trung Quốc.
Nam
Như vậy, mỗi bài lịch sử Việt Nam trong chương trình lớp 8 đều có sự liên hệ chặt
chẽ với các bài ở phần lịch sử thế giới. Đây cũng chính là một trong những mục đích của
các nhà biên soạn sách nhằm muốn học sinh có mối liên hệ hai chiều; từ đó, có cái nhìn
tổng quát, biết lí giải các vấn đề mà lịch sử Việt Nam đặt ra một cách cặn kẽ, lôgic và
đánh giá nó đúng với sự thật khách quan. Vì vậy việc giáo viên hướng dẫn học sinh biết
vận dụng kiến thức lịch sử thế giới vào học lịch sử Việt Nam là rất quan trọng.
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận chung:
- Để học sinh có thể vận dụng tốt kiến thức lịch sử thế giới vào học lịch sử Việt
Nam ở bậc THCS nói chung và lớp 8 nói riêng thì bản thân giáo viên trực tiếp giảng dạy
phải có phương pháp, kĩ năng hướng dẫn học sinh học.
- Để việc vận dụng kiến thức lịch sử thế giới vào học lịch sử Việt Nam thành kĩ
năng thường xuyên của học sinh thì ngay từ đầu (đầu cấp - lớp 6, đầu năm học, đầu học kì,
đầu chương…) giáo viên phải khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức lịch sử thế giới có
%
5
13.8
3
9
6,5 - 7,9
SL
%
17 47.2
16 48.4
Chất lượng cả năm
5,0 - 6,4
3,5 - 4,9
SL
%
SL
%
12 33.3
2
5.5
10 30.3
4
12.1
< 3,5
SL
%
0
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
- Nên tạo tính hệ thống, xuyên suốt giữa các phần, các chương để học sinh có thể
hiểu vấn đề một cách lôgic bởi lịch sử có tính lôgic: các sự kiện xảy ra ngày hôm nay sẽ
dự báo hướng phát triển của ngày mai.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
Lê Xuân Trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo (2003), “Lịch sử lớp 6”, NXB Giáo dục.
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2004), “Lịch sử lớp 7”, NXB Giáo dục.
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
13
Lê Xuân Trường
TRƯỜNG THCS – THPT TÀ NUNG
Năm học 2013-2014
3. Bộ giáo dục và Đào tạo (2005), “Lịch sử lớp 8”, NXB Giáo dục.
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), “Lịch sử lớp 9”, NXB Giáo dục.
5. Bộ giáo dục và Đào tạo (2009), “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
Lịch sử - trung học cơ sở”, NXB Giáo dục Việt Nam.
6. Bộ giáo dục và Đào tạo (2004), “Lịch sử lớp 8 – Sách giáo viên”, NXB Giáo dục.
III. Kinh nghiệm của bản thân rút ra từ thực tế giảng dạy…………………….7
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT………………………………………14
Sáng kiến kinh nghiệm môn lịch sử
15
Lê Xuân Trường