Sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ở trường THPT (vận dụng qua phần lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, lớp 11, chương trình chuẩn) - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới
TS. Nguyễn Văn Ninh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa, gia đình, bạn bè đã
luôn ở bên cạnh động viên và ủng hộ em trong thời gian qua.
Và em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện
trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, Trung tâm Thông tin và Thư viện trường
Đại học sư phạm Hà Nội 1, Thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đã
giúp đỡ em tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cần thiết để hoàn thành khóa
luận này.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh
trường THPT Yên Phong số 1, THPT Hiệp Hòa số 1, THPT Hiệp Hòa số 3 đã
tạo điều kiện thuận lợi để em điều tra và thực nghiệm đề tài của mình.
Lần đầu tiên bước vào nghiên cứu khoa học nên bản thân không tránh
khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
chân thành từ thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Yến


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TH:

Tự học

THLS:


HS:

Học sinh

SGK:

Sách giáo khoa

DHLS:

Dạy học lịch sử

PPDH:

Phương pháp dạy học

BTTNKQ:

Bài tập trắc nghiệm khách quan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 5
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .............................. 6
6. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 6
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................... 6

2.2. Những yêu cầu khi xây dựng và sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ
năng tự học cho học sinh THPT .................................................................. 51
2.3. Một số biện pháp sư phạm sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ
năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới từ 1918 - 1939, lớp
11, chương trình chuẩn ................................................................................ 55
2.3.1. Sử dụng bài tập nhận thức .............................................................. 55
2.3.2. Sử dụng bài tập có tính chất thực hành........................................... 59
2.3.3. Bài tập trắc nghiệm khách quan...................................................... 69
2.4. Thực nghiệm sư phạm........................................................................... 78
2.4.1. Mục đích thực nghiệm .................................................................... 78
2.4.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm ............................................... 78
2.4.3. Nội dung thực nghiệm .................................................................... 79
2.4.4. Tiến hành thực nghiệm ................................................................... 79
2.4.5. Kết quả thực nghiệm ....................................................................... 81
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 89
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học chiếm
một vị trí hết sức quan trọng. Tự học giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng
cố và ghi nhớ bài học một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích,
tổng hợp tài liệu, từ đó có khả năng vận dụng những tri thức đã học vào việc
giải quyết những nhiệm vụ học tập mới. Đồng thời, tự học giúp người học
hình thành được tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập. Vấn đề tự học
được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Trung ương V khóa
VIII từng nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng

phân tích, tổng hợp kiến thức; so sánh đối chiếu sự kiện, hiện tượng; đánh giá
nhân vật, sự kiện. Bên cạnh đó, rèn luyện cho học sinh tính tự giác, tích cực,
chủ động và hứng thú đối với bộ môn.
Sử dụng bài tập lịch sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong
quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò rất quan trọng. Tuy
nhiên, hiện nay phần lớn giáo viên vẫn dạy học theo cách truyền thống, đó là
truyền đạt kiến thức cho học sinh, ít khuyến khích học sinh tự học, ít giao bài
tập về nhà cho học sinh, hay đôi khi chỉ là mang tính hình thức. Học sinh ghi
chép tỉ mỉ, học thuộc lòng. Một số học sinh học thuộc lòng cả quyển sách giáo
khoa, nhất là học sinh khối C. Cách học này, học sinh luôn chú ý ghi chép bài,
nhớ kiến thức nhưng mang tính chất “học vẹt’’ cao hơn, học sinh thụ động,
không có tư duy sáng tạo. Một bộ phận lớn học sinh phổ thông hiện nay
không có ý thức làm bài tập, hoặc chỉ làm một cách đối phó chống đối với
việc kiểm tra của giáo viên. Điều đó khiến cho việc sử dụng bài tập nhằm rèn
luyện kĩ năng tự học cho học sinh chưa phát huy hết tác dụng của nó, hiệu quả
học tập của học sinh chưa cao.
Thực trạng trên là do nhiều nguyên nhân. Do cách dạy của giáo viên; do
tâm lý của học sinh quan niệm sai lệch “môn chính”, “môn phụ” nên ý thức

2


học tập của học sinh chưa tốt; do nội dung chương trình chưa hấp dẫn học
sinh hoặc giáo viên chưa biết cách lựa chọn nội dung kiến thức cơ bản của bài
học nên làm cho kiến thức “quá tải” đối với học sinh; do cách ra đề thi
“đóng”, kiểu “học gì thi nấy” làm cho học sinh bó hẹp cách học của mình.
Giai đoạn lịch sử thế giới giai đoạn 1918 - 1939, thuộc phần lịch sử thế
giới hiện đại trong chương trình lịch sử lớp 11 THPT, đây là giai đoạn tiếp
nối của giai đoạn lịch sử thế giới cận đại. Giai đoạn lịch sử 1918 - 1939 chiếm
một vị trí quan trọng trong phần lịch sử thế giới hiện đại, nó giúp ta nhìn nhận

các kĩ thuật cơ bản, đơn giản để tổ chức thời gian học, đọc, ghi chép, thu thập
thông tin. Cuốn sách “Phương pháp dạy học Lịch sử qua sơ đồ, bảng biểu và
hình vẽ” của tác giả M.B Kôrôkôva, Stuđennhikin (1999) nêu ra các năng lực
tự học mà giáo viên cần định hướng cho người học như tái hiện và tái tạo lại
các biểu tượng lịch sử, phân tích, xử lí các nguồn thông tin; tư duy logic, tư
duy hiện đại với các nguồn tư liệu lịch sử; sơ đồ hóa; đánh giá sự kiện, hiện
tượng lịch sử.
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vần đề tự học và
sử dụng bài tập nhằm nâng cao kĩ năng tự học cho học sinh. Trong cuốn sách
“Phương pháp dạy học lịch sử” do G.S Phan Ngọc Liên chủ biên, khẳng định
vai trò của bài tập lịch sử đối với khả năng phát triển tư duy của học sinh;
cuốn “Phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường THPT” của PGS.TS. Vũ
Quang Hiển - T.S Hoàng Thanh Tú, đã đề cập đến phương pháp tự học của
học sinh, đến việc sử dụng bài tập trong việc giảng dạy lịch sử; cuốn “Các
con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
của Nguyễn Thị Côi.
Luận văn thạc sĩ, của Trần Thị Thu “Biên soạn và sử dụng bài tập lịch
sử ở lớp 8 THCS” (2012), bài viết đưa ra cách thức biên soạn câu hỏi, bài tập
trong quá trình dạy học lịch sử; “Một số biện pháp phân tích kỹ năng tự học
cho học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường
THPT” (2012) của Nguyễn Hồng Nhung; “Một số biện pháp rèn luyện kỹ
năng thực hành qua dạy học lịch sử thế giới hiện đại từ 1917-1945 cho học

4


sinh lớp 11, trường THPT chuyên Trần Phú - Hải Phòng” của Nguyễn Thị
Xuân Hương; “Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử
Việt Nam 1858-1918, lớp 11, chương trình chuẩn” của Nguyễn Thị Thanh
Thủy; “Thiết kế và sử dụng bài tập về nhà trong dạy học lịch sử ở trường phổ

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng hiệu quả bài tập nhằm rèn luyện kĩ
năng tự học cho học sinh vào dạy học lịch sử, tiêu biểu phần lịch sử thế giới
1918 - 1939.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm .
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp thực nghiệm
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu việc sử dụng bài tập lịch sử trong dạy học được vận dụng một cách
hợp lí, linh hoạt sẽ góp phần rèn luyện tốt kĩ năng tự học cho học sinh và nâng
cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng bài tập lịch
sử nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học lịch sử phần lịch
sử thế giới giai đoạn 1918 -1939, lớp 11, chương trình chuẩn.
- Đánh giá được thực trạng sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử ở
trường THPT nhằm rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh.
- Đề ra một số biện pháp sử dụng bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng tự học
cho học sinh trong dạy học lịch sử thế giới giai đoạn 1918-1939.

6


8. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Khóa luận
gồm 2 chương:

nội tại trong đó chủ thể tự thể hiện mình, tự làm phong phú giá trị của mình
bằng cách thu nhận, xử lí biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong
con người mình” [29].
Nguyễn Kỳ chỉ ra rằng có ba cách tiếp cận cùng với quan niệm chủ yếu
sau đây về học:

8


Cách tiếp cận thứ nhất, quan tâm đến kết quả cuối cùng đạt được là sản
phẩm học hay hành vi nhận biết được. Đó là cách tiếp cận theo hành vi, đáp
lại phản xạ có điều kiện của Paplop, hay theo hành vi tác động phản xạ có
điều kiện của Skinner: “học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm
hay là từ sự tiếp xúc với môi trường sống của chủ thể”.
Cách tiếp cận thứ hai, quan tâm tới qúa trình học bằng cách tìm hiểu
những gì đã xảy ra trong trí óc người học là cách tiếp cận về trí tuệ theo bước
chân Piaget với cơ chế đồng hóa, cân bằng, ..
Cách tiếp cận thứ ba có xu hướng kết hợp hai cách tiếp cận trên thành
một mô hình quá trình thông tin với các thuật ngữ: thu nhận, xử lí … “Học là
tự tạo khả năng xác định vấn để cần giải quyết, thu nhận, xử lí thông tin và
ứng dụng chương trình giải quyết vấn đề”.
Như vậy, ta có thể thấy, học là quá trình thu nhận thông tin, tiếp thu, xử
lí để giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Học chính là tự học.
- Khái niệm “Tự học”
Trong học tập bao giờ cũng có tự học, người học tự mình lao động trí óc
để chiếm lĩnh kiến thức. Từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, nhà hiền triết đã
bàn luận về vấn đề tự học:
Hêraclit (530 - 475 TCN), nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhận
định: “Thực chất, giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng, để người
học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi

thái cá nhân. Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định, “Tự học là hoạt
động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, …và kinh nghiệm lịch sử
xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học [4; tr.10].
Theo Từ điển giáo dục học cho rằng: “Tự học là quá trình tự mình lĩnh
hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn
trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.
Như vậy, từ những quan điểm trên về tự học, chúng ta có thể thấy rằng:
Tự học là một bộ phận của việc học tập, là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm

10


đạt đến một mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của
nhân loại. Nói cách khác, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và
độc lập cao của từng cá nhân. Tự học là một phần quan trọng của hoạt động
học tập, là nhân tố “nội lực”có tác dụng quyết định chất lượng học tập và sự
phát triển của người học.
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học. Trong quá trình dạy
học, giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức, yêu cầu học sinh học thuộc, mà
giáo viên phải là người định hướng cho hoạt động nhận thức của học sinh,
học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trau dồi kiến thức mới, giải quyết những
vấn đề cuộc sống khoa học đặt ra. Tự học giúp mọi người có thể chủ động học
tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và cống hiến. Tự học
giúp con người thích ứng với mọi hoàn cảnh sống.
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức:
+ Tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, như: tự học của học sinh,
sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh. Kiểu tự học này được tiến hành trên
một nền tảng khoa học đích thực, giáo viên (GV) hướng dẫn người học của
mình tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức có tính chất cá nhân. GV tổ chức cho
người học tự thể hiện mình, hợp tác trao đổi, đối thoại. GV sẽ là người cuối

+ GV là người hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìm ra kiến thức và tự thể
hiện mình trong lớp học. Đồng thời là trọng tài, cố vấn, kết luận trong các
cuộc tranh luận đối thoại giữa học sinh với học sinh, là người kiểm tra, đánh
giá kết quả tự học của học sinh.
+ Học sinh tự đánh giá, tự kiểm tra lại sản phẩm ban đầu của mình và
dựa vào kết luận của GV, tự sửa chữa, điều chỉnh, hoàn thiện, rút kinh nghiệm
về cách học, xử lí tình huống và giải quyết vấn đề của mình.
Như vậy, tự học của học sinh là quá trình học sinh chủ yếu dựa vào các
bài học cụ thể trong sách giáo khoa, đối chiếu với các tài liệu tham khảo, so
sánh, làm cho quá trình học tập của học sinh chủ động hơn. Tự học giúp các

12


em nắm vững kiến thức, hiểu rõ sâu sắc trọn vẹn bài học bằng chính năng lực
của mình, do đó ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
- Khái niệm “Tự học lịch sử”
Trong chương trình phổ thông, môn lịch sử chiếm một vị trí quan trọng.
Vấn đề tự học lịch sử của học sinh được nhiều người quan tâm, nó là một
trong những yếu tố giúp GV xác định những phương pháp dạy học thích hợp.
Nhưng trước đây đã từng có ý kiến cho rằng môn lịch sử chỉ cần học thuộc
lòng những gì thầy cô cho ghi là được, không cần phải có phương pháp học
nào khác. Như vậy, hiển nhiên môn lịch sử đã bị coi nhẹ và không làm phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Nhưng ngày nay cùng với quá trình đổi mới giáo dục, người ta đã có cái
nhìn khác về vấn đề này. Tự học lịch sử của học sinh là quá trình học sinh tự
mình tìm hiểu, nắm bắt kiến thức và có thể vận dụng kiến thức đó vào trong
học tập hay thực tiễn cuộc sống. Tự học lịch sử phải xuất phát từ chính sự
hứng thú, say mê tìm tòi sáng tạo của học sinh thì quá trình đó mới đạt được
kết quả cao. Học sinh hiểu sâu kiến thức, nắm bắt được những quy luật khách

bao gồm những hiểu biết về đối tượng cần tác động, đặc biệt là những quy
luật vận động của đối tượng. Người có kĩ năng là người trước tiên phải nhận
thức đúng, hiểu rõ công việc mà mình phải làm, phải có hành động đúng phù
hợp với quy luật vận động của đối tượng để đạt được kết quả như mực tiêu đã
đề ra, có thể hành động để đạt được kết quả cao với những công việc, tình
huống tương tự. Như vậy, kĩ năng không chỉ đòi hỏi con người phải có hiểu
biết đúng đắn về đối tượng cần tác động mà còn cần phải biết vận dụng vốn
tri thức kinh nghiệm để hành động đúng đắn, đạt kết quả cao. Bản thân con
người khi sinh ra chưa có kĩ năng hoạt động thực tiễn, nhất là kĩ năng trong
công việc. Đa số kĩ năng mà chúng ta có được là xuất phát từ hoạt động thực
tiễn, từ đào tạo [4; tr.28].
Khi xem xét kĩ năng cần phải lưu ý những điểm sau:

14


Kĩ năng trước hết phải được hiểu là mặt kĩ thuật của hành động, kĩ năng
bao giờ cũng gắn với hành động cụ thể.
Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan
trọng để xác định sự hình thành và phát triển của kĩ năng. Một hành động
chưa được gọi là có kĩ năng nếu còn mắc nhiều lỗi vụng về, các thao tác diễn
ra theo khuôn mẫu cứng nhắc.
Kĩ năng không phải là sinh ra đã có. Đó là sản phẩm của hoạt động thực
tiễn, là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt
động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra.
Kĩ năng là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố quan trọng
trong tổ hợp nhiều yếu tố tạo nên năng lực (yếu tố cần nhưng chưa đủ).
+ Kĩ năng tự học của học sinh
Kĩ năng tự học là một bộ phận của kĩ năng học tập, kĩ năng này được đặc
trưng bởi tính tự chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập. Hay nói cách khác kĩ

(3) Kĩ năng khai thác tư liệu (phân biệt niên đại diễn ra sự kiện lịch sử và
niên đại của tư liệu lịch sử; khai thác thông tin trong tập hợp tư liệu, tài liệu; xác
định ưu điểm, hạn chế của tài liệu; tóm tắt được nội dung cơ bản của tài liệu);
(4) Kĩ năng bộ môn (biết sử dụng và trình bày bằng atlas, bản đồ, sách
giáo khoa; trình bày miệng hoặc viết ngắn gọn, có cấu trúc; ghi chép độc lập
trong giờ giảng).
+ Rèn luyện kĩ năng tự học lịch sử cho học sinh
Theo Từ điển Tiếng Việt, rèn luyện là “luyện tập nhiều để đạt tới trình
độ thông thạo, vững vàng”. Để có được một kĩ năng phải trải qua 3 giai đoạn:
hình thành, luyện tập, phát triển. Để hình thành một kĩ năng trước hết phải
nắm vững các tri thức về hành động, rồi thực hiện hành động theo các tri thức
đó. Hành động này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV, và kết quả cao
hay thấp phụ thuộc vào sự nỗ lực của ngươi học giữ vai trò quyết định. Trên
cơ sở các kĩ năng đã được hình thành, người học sẽ luyện tập các kĩ năng theo

16


chiều hướng tích cực từ chưa thuần thục đến thuần thục, từ chưa thành thạo
đến thành thạo.
Việc rèn luyện kĩ năng tự học trong bộ môn lịch sử được hiểu theo hai
khía cạnh. Một là, quá trình hình thành về số lượng các kĩ năng, trên cơ sở các
kĩ năng đã có sẽ luyện tập để hình thành nhiều các kĩ năng mới. Hai là, rèn
luyện để nâng cao về mặt chất lượng kĩ năng. Trên cơ sở các kĩ năng đã được
hình thành sẽ rèn luyện lên một mức độ thông thạo hơn.
Như vậy, rèn luyện KNTH lịch sử là việc GV sử dụng linh hoạt các
phương thức, phương pháp tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, độc
lập, tự giác của người học, dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của GV. Học sinh tự
kĩnh hội kiến thức độc lập, vận dụng vào bài học và thực tiễn cuộc sống.
- Khái niệm bài tập và bài tập lịch sử

tập lịch sử.
Câu hỏi, trong tiếng Anh và Pháp - Question, tiếng Nga - Vôprôx, là
thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có
cách giải quyết. Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống, như trong
dạy học.
Từ định nghĩa trên, chúng tôi nhận thấy câu hỏi và bài tập có điểm giống
nhau và khác nhau, đồng thời có quan hệ với nhau:
Xét về chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập trong dạy học lịch sử đều là
phương tiện để tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả
nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn cho học sinh.
Xét về hình thức (cấu trúc), câu hỏi và bài tập có nhiều điểm khác nhau, câu
hỏi chỉ nêu yêu cầu hoặc nhiệm vụ mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa
có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu (hoặc câu hỏi) và để giải quyết bài tập, học
sinh phải căn cứ vào những dữ liệu đã cho để tìm ra yêu cầu xác đáng.
Như vậy, so với câu hỏi thì bài tập phức tạp hơn học sinh cần phải đầu tư
thời gian và công sức nhiều hơn để giải quyết được vấn đề đặt ra; do đó tác
dụng, kết quả đối với nhận thức, giáo dục và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo của các

18


em cũng cao hơn.
+ Bài tập lịch sử
Trong cuốn Bài tập lịch sử ở trường phổ thông, tác giả đã đưa ra quan
niệm: “Bài tập lịch sử (BTLS) là khái niệm chỉ một hệ thông tin xác định về
tổ chức quá trình dạy học lịch sử khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh trên các lĩnh vực kiến thức, thái độ và kĩ năng, kĩ xảo” [10; tr.18].
Nội hàm của khái niệm “bài tập lịch sử” có những đặc trưng chủ yếu sau:
(1) BTLS được xem là một hệ thông tin, quy định nhiệm vụ mà học sinh
phải thực hiện hay là mục đích mà GV và HS cần phải hoàn thành trong dạy

cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
vệ tổ quốc” [10; tr.8].
Mục tiêu giáo dục trên đòi hỏi hoạt động giáo dục phải thực hiện nguyên
lí “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn
liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội”. Nó quy định phương pháp giáo dục ở nhà trường phổ thông phải:
“phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học”, “bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn”, “tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”.
Phương pháp giáo dục đòi hỏi việc dạy học ở trường phổ thông phải gắn
liền lí luận với thực tiễn; bảo đảm việc cung cấp lí thuyết hợp với trình độ,
chú trọng thực hiện, rèn luyện; giảm bớt việc truyền thụ tri thức “một chiều”
của GV, tăng cường hoạt động nhận thức độc lập của HS. Trong DHLS phải
làm cho HS tự giác, thích thú việc thực hiện nhiệm vụ học tập dưới sự hướng
dẫn của GV, tự mình phải học, phải viết, phải làm bài tập, chứ không phải
ngồi học theo kiểu “xem người khác học” hay chờ đợi thầy cô truyền kiến
thức cho. Điều này, đòi hỏi HS phải biết tự đặt câu hỏi, tự kiểm tra, đánh giá
kết quả làm việc và sửa chữa những sai sót trong bài làm của mình.
1.1.2.2. Mục tiêu dạy học lịch sử ở trường phổ thông

20


Cũng như học tập các môn khác ở trường phổ thông, học tập lịch sử cần
có trí nhớ, song nhớ không phải mục đích cuối cùng của học lịch sử mà là cơ
sở để hiểu và vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, sáng tạo. Trí
nhớ, tư duy là điều không thể thiếu được trong học tập bất cứ môn học nào.
Vì vậy, trong học tập lịch sử, “nếu không có tư duy tích cực, sáng tạo thi học
sinh không biết chọn lựa những sự kiện cơ bản, điển hình để ghi nhớ trong cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status