TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÂN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRÀ KHANH TRÚC
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁ LAU KÍNH
Pterygoplichthys disjunctivus (Weber, 1991)
ĐỐI VỚI MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY
SẢN Ở TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH QUẢN LÍ NGUỒN LỢI THỦY SẢN
2014
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁ LAU KÍNH
Pterygoplichthys disjunctivus (Weber, 1991)
ĐỐI VỚI MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN Ở ĐỒNG THÁP
Trà Khanh Trúc
Khoa thủy sản – Trường Đại học Cần thơ.
ABSTRACT
A study on “The impact of sukermouth catfish Pterygoplichthys disjunctivus
(Weber, 1991) on some aquaculture models in Dong Thap” was carried out
during the period of August, 2014 to November, 2014 in two models such as
model catfish and freshwater prawn model.
The results showed that Pterygoplichthys disjunctivus in the catfish model
was more abundant 2,89±5,33 % than in shrimp aquaculture with only
của cá lau kính đối với mô hình nuôi cá tra có mức độ phong phú hơn với sản
lượng cá lau kính là 2,89±5,33 % và mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng
lúa với sản lượng cá lau kính là 0,48±0,28 %. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng
của cá lau kính rất lớn đó là việc phá bờ, hút nhớt đối tượng đang nuôi làm
ảnh hưởng đến môi trường nuôi, ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch giảm.
Mức độ tác động của cá lau kính đến ao nuôi cá tra và nuôi tôm càng xanh
trong ruộng lúa cho thấy cá lau kính tác động không lớn đến đối tượng thủy
sản. Theo kết quả điều tra thì mức độ tác động trong ao nuôi cá tra đến môi
trường sống với tỷ lệ là 34,3%, phá bờ với tỷ lệ là 21,4%, cạnh tranh thức ăn
với tỷ lệ là 35,7%, hút nhớt với tỷ lệ là 8,6%. Tuy nhiên, mô hình nuôi tôm
càng xanh trong ruộng lúa với mức tác động không đáng kể.
Từ khóa: Cá lau kính, sự phong phú, mức độ tác động, Pterygoplichthys
disjunctivus (Weber, 1991)
1 GIỚI THIỆU
Cá lau kính còn gọi là cá tỳ bà thuộc giống Hypostomus, là loài cá sống
đáy có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ được nhập về Việt Nam chủ yếu từ
Hong Kong và Singapore qua đường kinh doanh cá cảnh nhưng do sự bất cẩn
của người dân cũng như các nhà kinh doanh cá cảnh đã làm cho loài cá này
thoát ra ngoài môi trường tự nhiên và được xem là loài xâm hại ở một số quốc
gia (Mai Viết Văn, 2014). Chúng có khả năng chống chịu với điều kiện khắc
nghiệt của môi trường. Thêm vào đó, sức sống của cá lau kính rất bền bỉ với tỉ
lệ sống chiếm 70% và có khả năng sinh sản quanh năm (Nguyễn Thị Vàng,
2014).
Trong danh sách 100 loài động vật ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thì ở
Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều loài như: ốc bưu vàng (Pomacea
canaliculata), rùa tai đỏ (Trachemys scipta elegans), tôm hùm đỏ (Red Swamp
Crawfish), ốc sên (Achatina fulica), cá chim trắng nước ngọt (Colossoma
brachypomum)…. Trước đây các loài sinh vật ngoại lai vẫn chưa được chú ý
nhiều cho đến khi dịch ốc bưu vàng và nạn rùa tai đỏ tấn công thì nước ta mới
Số mẫu phỏng vấn là 48 phiếu trên hai mô hình nuôi: mô hình nuôi cá tra
với số phiếu là 24 phiếu và mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa với
số phiếu là 24 phiếu ở tỉnh Đồng Tháp.
-3-
Địa điểm
điều tra
Địa
điểm
điều
tra
Hình 2.1 Bản đồ vùng điều tra của tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: )
Phương pháp điều tra
Thông tin thứ cấp
Tổng hợp từ các bài báo cáo số liệu của ban ngành địa phương trong địa
bàn nghiên cứu
Tham khảo các tài liệu như: các bài báo cáo khoa học, tài liệu luận văn tốt
nghiệp cao học, đại học.
Thông tin nuôi trồng thủy sản thông qua các Chi cục Thủy sản cấp tỉnh,
trạm thủy sản.
Thông tin sơ cấp
Các thông tin sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp nông hộ đối với mô hình
nuôi cá tra và mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa ở tỉnh Đồng Tháp
bằng biểu mẫu phỏng vấn đã được soạn sẵn với nội dung chính như: thông tin
Trung bình
TX Hồng Ngự
Sa Đéc
Diện tích nuôi (ha)
2,68±1,48
2,73±1,38
2,63±1,62
Mật độ nuôi (con/m2)
60,1±13,7
47,9±7,50
72,3±3,11
Tổng số ao nuôi/hộ
3,04±1,30
3,00±1,21
3,08±1,44
0,02±0,02
Tỷ lệ CLK/ĐTN (%)
2,89±5,33
2,82±5,75
2,95±5,03
(Chú thích: CLK: cá lau kính, ĐTN: đối tượng nuôi)
Kết quả nghiên cứu cho thấy với diện tích ao nuôi trung bình là 2,68±1,48
ha (ở TX Hồng Ngự và Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp), ở TX Hồng Ngự có diện
-5-
tích nuôi là 2,73±1,38 ha, ở Sa Đéc có diện tích nuôi là 2,63±1,62 ha, mật độ
nuôi trung bình là 60,1±13,7 con/m2, ở TX Hồng Ngự có mật độ thả nuôi là
47,9±7,50 con/m2 thấp hơn so với ở Sa Đéc có mật độ thả nuôi là 72,3±3,11
con/m2. Tổng số ao nuôi trung bình là 3,04±1,30 hộ, thời gian nuôi trung bình
là 7,15±0,35 tháng/vụ, với sản lượng đối tượng nuôi trung bình đạt là
0,74±0,36 tấn/vụ/ha, sản lượng cá lau kính trung bình là 0,02±0,02 tấn/vụ/ha
và tỷ lệ CLK/ĐTN trung bình là 2,89±5,33%, trong đó ở TX Hồng Ngự là
2,82±5,75 và ở Sa Đéc là 2,95±5,03.
Hiện nay cá tra là một đối tượng nuôi phổ biến ở ĐBSCL tập trung ở tỉnh
Đồng Tháp phải đang đối mặt với rất nhiều khó khăn như: nhu cầu thế giới sụt
giảm, tình hình dịch bệnh, môi trường ô nhiễm, chất lượng con giống suy
ngập lũ và vùng không ngập lũ hoặc ngập lũ thấp. Tùy thuộc vào đặc điểm
sinh thái cụ thể của từng vùng mà có sự kết hợp nuôi tôm càng xanh với trồng
lúa khác nhau. Thông thường các vùng nước ngọt như Đồng Tháp, An Giang,
Cần Thơ, Vĩnh Long thường nuôi tôm càng xanh luân canh hay xen canh với
lúa (từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11 hoặc tháng 12). Tuy nhiên, trong
quá trình nuôi thì cũng có một số hộ nuôi có ý kiến cho rằng về việc ảnh
hưởng của cá lau kính đến đối tượng nuôi là tôm càng xanh, nhưng với mức
ảnh hưởng không nhiều so với đối tượng khác điển hình là nuôi cá tra. Qua đợt
điều tra trực tiếp hộ nuôi về sự phong phú của cá lau kính trong mô hình nuôi
tôm càng xanh trong ruộng lúa, với tổng số phiếu thu được là 24 phiếu được
khảo sát ở TX Hồng Ngự của tỉnh Đồng Tháp thu được kết quả được thể hiện
ở bảng 3.2 như sau:
Bảng 3.2 : Thông tin chung về cá lau kính trong mô hình nuôi tôm càng xanh trong
ruộng lúa.
Chỉ tiêu
Trung bình
Diện tích nuôi (ha)
3,24±3,01
Mật độ (con/m2)
10,9±1,00
Thời gian nuôi (tháng/vụ)
6,92±0,65
-7-
3.1.2. Những tác động của cá lau kính đối với nuôi trồng thủy sản ở
Đồng Tháp
Những mặt tác động chính của các loài cá lau kính đến nuôi trồng thủy sản
như tác động đến sinh thái môi trường, tác động đến kinh tế, tác động đến
chuỗi thức ăn và tác động đến con người.
Tác động đến sinh thái môi trường: Cá lau kính là một loài có biến độ
sinh thái rất rộng đối với môi trường. Chúng sinh sống ở nơi nước tĩnh và cả ở
các suối có nước chảy nhanh. Chúng có mặt ở các ao cạn và cả ở các hồ sâu,
chủ yếu phân bố trong vùng nước ngọt nhưng có thể sống được trong vùng
nước lợ ở cửa sông. Chúng có thể chịu đựng được tình trạng nước bị nhiễm
bẩn cao có hàm lượng oxy hòa tan thấp và ở những vực nước tù đọng với
nhiều khí sulfur hydro.
Tác động đến kinh tế: Chúng làm ảnh hưởng đến các loài cá khác làm
giảm chất lượng sản phẩm, tỷ lệ sống, giảm năng suất và giảm thu nhập cho
người dân.
Tác động đến chuỗi thức ăn: Tuy là một loài ăn tạp, nhưng thức ăn
chính của cá lau kính là rong tảo bám trên nền đáy hoặc bề mặt thực vật. Do
đó, chúng làm mất cân bằng trong chuỗi thức ăn và có khả năng cạnh tranh
thức ăn với các loài cá bản địa có cùng tập tính.
Tác động đến con người: Khi mà con người đánh bắt thủy sản bằng các
ngư cụ như lưới rê, lưới giăng, đặt chà, đặt chôm thì sản lượng cá lau kính thu
được rất nhiều chính vì thế đã dẫn đến phá hủy các loại ngư cụ khai thác từ đó
làm giảm thu nhập kinh tế, làm cho cuộc sống của người dân trở nên khó
khăn.
Với những các tác động trên, qua điều tra hộ nuôi cho thấy trong mô hình
nuôi cá tra thì cá lau kính có tác động đến các yếu tố sau, được thể hiện qua
Tỷ lệ
(%)
11
32,4
13
36,1
24
34,3
7
20,6
8
22,2
15
21,4
12
70
100
Qua bảng 3.3 trên cho thấy cá lau kính có những tác động đến ao nuôi cá
tra ở TX Hồng Ngự và ở Sa Đéc. Tác động đến môi trường sống chiếm 34,3%;
cạnh tranh thức ăn chiếm 35,7%; phá bờ chiếm 21,4%; hút nhớt cá tra chiếm
8,6%.
Qua điều tra hộ nuôi cho thấy trong mô hình nuôi tôm càng xanh trong
ruộng lúa thì cá lau kính có một số tác động đến các yếu tố sau, được thể hiện
qua bảng 3.4 như sau:
Bảng 3.4: Các yếu tố tác động của cá lau kính đến mô hình nuôi tôm càng
xanh trong ruộng lúa
Chỉ tiêu
TX Hồng Ngự
Số mẫu
Tỷ lệ %
Môi trường sống
7
28
Phá bờ
8
ao, phơi đáy ao, lọc nước qua lưới . Bên cạnh đó, người dân cần có giải pháp
để ngăn chặn sự phát tán cá lau kính như: tuyên truyền sâu rộng đến người dân
về tác hại của cá lau kính; người dân ở các nơi phát hiện thấy cá lau kính thì
loại chúng ra khỏi các vực nước càng nhiều càng tốt; các cấp có thẩm quyền
hỗ trợ kinh phí đánh bắt cá lau kính cho người dân hoặc liên kết với nhà máy
chế biến thức ăn thu mua cá để làm bột cá.
3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1 Kết luận
Qua đó, cho thấy được cá lau kính đang gia tăng về số lượng trong ao nuôi
ở Đồng Tháp. Cá lau kính là loài ăn tạp thiên về thực vật, thức ăn chủ yếu là
mùn bã hữu cơ, thực vật nổi và động vật nổi. Mức độ phong phú của cá lau
kính trong mô hình nuôi cá tra có mức độ phong phú hơn với sản lượng cá lau
kính là 0,74±0,36 tấn/vụ/ha so với mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa
với sản lượng cá lau kính là 0,01±0,003 tấn/vụ/ha. Cá lau kính xuất hiện nhiều
trong ao với tác động chủ yếu của cá lau kính chính là việc phá bờ, đào hang
hốc làm cho đối tượng nuôi chui vào đó gây ảnh hưởng đến môi trường sống,
làm đối tượng nuôi bị xay sát, hút nhớt đối tượng nuôi. Nhìn chung, đa số hộ
nuôi đều có chuẩn bị, cải tạo ao rất chặt chẽ và trong quá trình nuôi thì quản lý
chặt chẽ các ao nuôi giúp giảm được sự xuất hiện cá lau kính trong ao từ đó
làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.
3.2 Đề xuất
Cần nghiên cứu thêm về sự phong phú và tác động của cá lau kính trong
các mô hình nuôi thủy sản.
LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Ban Chủ Nhiệm, và
quý thầy cô khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt
những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn PGs. Ts Trần Đắc Định
đã giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành
luận văn tốt nghiệp này.