TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN THỊ THU THẢO
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH
CỦA CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN XUẤT TÔM SÚLÚA LUÂN CANH Ở SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
1
PHÂN TÍCH KHÍA CẠNH KỸ THUẬT VÀ TÀI CHÍNH CỦA
MÔ HÌNH NUÔI HÀU TRÊN SÔNG Ở TỈNH BẠC LIÊU
Trần Thị Thu Thảo1 và Phạm Minh Đức2
Email: [email protected]
ABSTRACT
The research was done to analyze the technology and finance aspects on
oyster estuaries systems with the hope that it would be a basis to guide the
development of oyster estuaries in a stable way, the time of this study from
August to December in 2014 in Bac Lieu province. The results showed that
oysters are raised throughout the year, mostly in March and June, and its
density was 239±29.93 an oyster/m2, the average size of breeder was
103±3.45 gram/head. After a period of 240-300 days, the best size to harvest
was 4±0.76 an oyster/kilogram, the average yield was 71.62±7.2 kilogram/m2,
and the survival rate was 90%. The total cost to keep oysters was 179 million
mô hình 182,8 triệu đồng/m2/vụ, tỉ suất lợi nhuận 1,02 lần. Mô hình nuôi hàu
có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kĩ thuật nuôi đơn giản, dễ quản lý,
trong quá trình nuôi chưa phát hiện bệnh. Bên cạnh đó, mô hình nuôi hàu gặp
một số khó khăn nguồn giống chưa được sản xuất nhân tạo, phụ thuộc hoàn
toàn vào tự nhiên, người nuôi thiếu vốn để mở rộng quy mô sản xuất và vấn đề
đầu ra của sản phẩm vì hiện nay hàu chủ yếu tiêu thụ trong nước.
Từ khóa: hàu cửa sông, Crassostrea rivularis, tài chính, kỹ thuật
1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ là nhóm loài được khai thác nhiều nhất trong số các
loài động vật thân mềm ở Việt Nam. Nhuyễn thể hai mảnh vỏ được nuôi ở các
tỉnh ven biển, tập trung chủ yếu ở các bãi bồi, cửa sông, nơi có nền đáy là cát
hoặc cát pha bùn. Diện tích nuôi nhuyễn thể tăng liên tục trong giai đoạn
2008-2013, năm 2008 tổng diện tích nuôi nhuyễn thể là 20.134 ha và năm
2013 tăng lên 40.846 ha. Xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam
năm 2013 ước đạt 4,76 triệu USD, tăng 1,9 % so với cùng kỳ. Phát triển nuôi
nhuyễn thể hai mảnh vỏ ngoài việc giải quyết thực phẩm, tăng nguyên liệu
xuất khẩu, chúng còn góp phần làm cân bằng sinh thái, ổn định môi trường
vùng biển ven bờ (Vasep, 2014).
Bạc Liêu là một trong những tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn ở Đồng
bằng sông Cửu Long. Đặc thù của tỉnh Bạc Liêu có ba cửa sông lớn: Gành
Hào, Cái Cùng, Nhà Mát, ngư trường rộng 40.000 km2, đa dạng hệ sinh thái
nước mặn, lợ là điều kiện thuận lợi cho các loài nhuyễn thể sinh sống và phát
triển, trong đó hàu là loài có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao. Ngày nay, nghề
nuôi hàu vùng cửa sông phát triển không những đã góp phần xóa đói giảm
nghèo, tạo công ăn việc làm cho phần lớn lao động địa phương mà còn cải
thiện môi trường nhờ vào khả năng lọc sinh học làm sạch hữu cơ giảm thiểu ô
nhiễm môi trường (Nguyễn Kiều Diễm và Ngô Thị Thu Thảo, 2010). Hàu đem
lại cho người dân một nghề mới, dễ nuôi, chi phí thấp, thu nhập cao do không
tốn chi phí mua thức ăn, không đòi hỏi kỹ thuật cao, chỉ tốn chi phí đầu tư ban
chính trong bảng câu hỏi phỏng vấn gồm các thông tin về (i) Kỹ thuật nuôi:
tổng diện tích nuôi, mật độ thả, kích cỡ giống, mùa vụ thả nuôi, mô hình nuôi.
(ii) Tài chính: chi phí cố định, chi phí biến đổi, tổng doanh thu, lợi nhuận. (iii)
Thuận lợi, khó khăn trong quá trình nuôi.
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính dựa trên những công thức sau
Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi + Tổng chi phí cố định
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Tỉ suất lợi nhuận = Tổng lợi nhuận / Tổng chi phí
Hiệu quả chi phí = Tổng doanh thu / Tổng chi phí
2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu phỏng vấn được sử dụng phần mềm Excel để nhập và phân tích. Các
kết quả được thể hiện qua phương pháp thống kê mô tả như tần suất xuất hiện,
giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
4
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi hàu tại Bạc Liêu
3.1.1 Sự hình thành và quy mô sản xuất
Khu vực nuôi hàu tập trung ở kênh cấp nước số 7, cách cửa sông Nhà Mát 4
km, thuộc xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu. Mô hình nuôi hàu
được phát triển từ năm 2011. Kết quả điều tra ở bảng 1 cho thấy, ban đầu nuôi
20 bè với sản lượng 30 tấn. Quy mô sản xuất tăng dần qua các năm, năm 2014
tăng lên 210 bè với sản lượng 111 tấn (ước tính), số lượng bè tăng gấp 10 lần
so với năm 2011.
Bảng 1: Tình hình nuôi hàu từ năm 2011-2014
Năm
thêm lao động thời vụ từ 2 đến 15 người để phục vụ cho quá trình thu hoạch
và chuẩn bị vụ nuôi sau. Nghề nuôi hàu phát triển giải quyết một phần việc
làm cho lao động địa phương.
Chọn địa điểm đặt bè
Vệ sinh bè
Chuẩn bị con giống
Chăm sóc và quản lý
Thu hoạch
Sơ đồ 1. Các bước cơ bản trong quy trình nuôi hàu cửa sông
5
3.1.2. Địa điểm đặt bè và kích thước bè
Trong nghiên cứu này, hộ nuôi hàu Bạc Liêu chọn phương pháp nuôi bè. Vật
liệu làm bè là gỗ, lưới được kết lại với nhau và được cố định bằng phao.
Những vật dụng này rẻ, sẵn có ở địa phương, dễ thực hiện, dễ chăm sóc quản
lý không gây ô nhiễm môi trường. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo
(2011) cho rằng, một số hình thức nuôi hàu khác vật liệu làm bằng lốp xe, tấm
fibrô xi-măng gây mất mỹ quan, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe người
tiêu dùng. Vì vậy, hộ nuôi chọn vật liệu nuôi này là phù hợp.
Vùng nuôi có tổng diện tích 12.500 m2. Bè đặt ở nơi ít sóng gió, ít thuyền bè
qua lại. Hệ thống kênh rạch ở cửa sông có điều kiện thuận lợi để nuôi hàu như
các yếu tố môi trường nước phù hợp độ mặn 15-35‰, nhiệt độ 25oC-36oC, độ
sâu 2-4 m, pH 7,5-8,5, nguồn thức ăn tự nhiên cho hàu khá phong phú, địa
điểm nuôi kín gió nằm sâu trong khu rừng ngập mặn, do đó rất phù hợp cho
nguyên vẹn, không dập vỡ gờ sinh trưởng. Khi đưa hàu ra khỏi môi trường
nước, hai mảnh vỏ đóng chặt, không bị sinh vật bám vào vỏ. Thông số kỹ
6
thuật của mô hình nuôi hàu được trình bày trong bảng 3. Cỡ giống trung bình
103±3,45 gam/con. Giá con giống phụ thuộc vào kích cỡ, trung bình 969±37,4
đồng/con. Hàu được thả nuôi quanh năm, tùy thuộc vào nguồn cung cấp
giống, thời gian thả giống hàu vào tháng 3 và tháng 6, vì tháng này lượng hàu
giống nhiều và trong quá trình nuôi hàu phát triển tốt, đây là mùa có nguồn
thức ăn tự nhiên dồi dào và phong phú điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hàu
sinh trưởng và phát triển. Trung bình một năm nuôi hai vụ, một vụ nuôi 30 bè.
Mô hình nuôi hàu có mật độ thả trung bình là 239 con/m2, dao động 190-270
con/m2. Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Diệp Văn Bền
(2012), mật độ nuôi của hàu ở tỉnh Cà Mau là 92,1 con/m2. Mật độ nuôi quá
dày ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, bắt mồi của hàu, thời gian nuôi lâu.
Bảng 3: Thông số kỹ thuật của mô hình nuôi hàu
Chỉ tiêu
Mật độ thả (con/m2)
Kích cỡ giống (g/con)
Giá con giống (đ/con)
GT Trung bình
239±29,93
103±3,45
969±37,4
GT Thấp nhất
190
100
3.1.5 Thu hoạch
Qua khảo sát, kích cỡ khi thu hoạch phụ thuộc vào tình hình của thị trường
tiêu thụ mà hộ nuôi bán hàu với kích cỡ nhỏ hoặc lớn. Theo nghiên cứu của
Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú (2012) khuyến cáo mùa vụ thu hoạch
tốt nhất là vào mùa sinh sản, đảm bảo chất lượng thịt hàu là cao nhất. Thời
gian nuôi trung bình 264 ngày dao động từ 240 đến 300 ngày. Kích cỡ khi thu
hoạch trung bình 4 con/kg dao động khoảng 3-5 con/kg. Sản lượng thu hoạch
trung bình 573±57,06 kg/bè. Năng suất thu hoạch 71,62±7,2 kg/m2/bè. Tỉ lệ
sống trung bình của hàu khá cao đạt 90%. Kết quả nghiên cứu này bằng với
kết quả của Diệp Văn Bền (2012), tỉ lệ sống của hàu cửa sông được nuôi ở
tỉnh Cà Mau là 90%.
Bảng 4: Các chỉ tiêu thu hoạch của mô hình nuôi hàu
Chỉ tiêu
Thời gian nuôi (ngày/vụ)
Kích cỡ thu hoạch (con/kg)
Tỉ lệ sống (%)
Sản lượng thu hoạch (kg/bè)
Năng suất (kg/m2/bè)
Trung bình
264±24,75
4±0,76
90±1,16
573±57,06
71,62±7,2
Thấp nhất
240
3
87
2011
400
300
20
140
2012
170
210
2013
2014
2015
Thời gian (năm)
Hình 1: Phương hướng phát triển của hộ nuôi
8
2016
3.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi hàu
Cơ cấu chi phí sản xuất được trình bày trong bảng 5. Tổng chi phí của mô hình
77
39
13
12
8
5
102
60
25
7
6
4
179
Tỉ lệ (%)
100
50,65
16,89
15,58
10,39
6,49
100
58,82
24,51
6,86
5,89
3,92
Đối với mô hình nuôi hàu, ngoài việc nuôi hàu với năng suất cao thì giá bán
ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu. Ở Đồng bằng sông Cửu Long có ít hộ nuôi
Nuôi hàu hiện có mức rủi ro thấp hơn so với nuôi tôm do có thuận lợi về thị
trường tiêu thụ. Hàu chủ yếu được tiêu thụ tươi sống nên việc tham gia phân
phối tiêu thụ hàu thương phẩm khá đơn giản. Qua kết quả khảo sát, hộ nuôi
chủ yếu bán hàu cho các thương lái ở trong và ngoài tỉnh. Việc bán cho
thương lái có nhiều thuận lợi như thương lái chịu trách nhiệm thu hoạch hàu
và việc thanh toán bằng tiền mặt cũng dễ dàng, ít kiểm tra các tiêu chuẩn an
toàn vệ sinh thực phẩm. Hàu được phân phối qua trung gian là thương lái
trong tỉnh, ngoài ra còn xuất bán cho thương lái ở Sóc Trăng, Bình Thuận,
Thành phố Hồ Chí Minh... Có 2 kênh phân phối chủ lực sau:
Kênh 1: Hộ nuôi →Thương lái trong tỉnh →Tiêu dùng địa phương
Kênh 2: Hộ nuôi →Thương lái ngoài tỉnh →Tiêu dùng nội địa/Nhà hàng/Chợ
Kênh 2: Đây là kênh phân phối khá quan trọng chiếm 70% sản lượng hàu bán
ra thị trường, do sức tiêu thụ tại địa phương hạn chế nên việc bán sang thị
trường Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận là cần thiết, nhằm đảm bảo
được qui luật cung cầu và ổn định giá hàu nguyên liệu.
3.3 Thuận lợi và khó khăn mô hình nuôi hàu
3.3.1 Thuận lợi
Qua nghiên cứu, mô hình nuôi hàu có nhiều mặt thuận lợi tận dụng diện tích
mặt nước sẵn có, vùng nuôi có điều kiện thời tiết thuận lợi, không dịch bệnh.
Nguồn thức ăn cho hàu có sẵn trong tự nhiên nên giảm chi phí thức ăn trong
quá trình nuôi. Mô hình nuôi hàu đơn giản, khâu quản lý và chăm sóc dễ dàng,
mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân xóa đói giảm nghèo, tăng thu
10
nhập. Giá bán hàu thương phẩm ổn định, không bấp bênh, không bị áp lực ép
giá. Hộ nuôi có nhiều kinh nghiệm trong ngành nuôi trồng thủy sản nên có
nhiều lợi thế trong sản xuất.
3.3.2 Khó khăn
11
3.4.2 Đề xuất
Nghề nuôi hàu cửa sông ngày càng phát triển, nguồn giống phụ thuộc hoàn
toàn vào tự nhiên nên chưa đáp ứng được tình hình phát triển của nghề nuôi.
Sự khai thác quá mức làm suy giảm nhanh chóng nguồn lợi tự nhiên vùng ven
biển, nhất là những nơi xuất hiện giống hàu. Để chủ động hơn về nguồn giống
cần tiến hành sản xuất giống nhân tạo để có thể thả giống quanh năm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm – điều kiện vệ sinh thú y. 7
trang.
Hoàng Ngọc Ánh, Nguyễn Hạnh Trinh, Nguyễn Minh Trí và Nguyễn Đắc
Tạo, 2013. Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng của hàu
(crassostrea rivularis) ở đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí
khoa học, Đại học khoa học Huế. 593-597.
Lê Thị Tình, 2012. Thử nghiệm nuôi hàu cửa sông theo mô hình công nghiệp
bằng
nguồn
giống
sinh
sản
tại
Nghệ
An.
http://www.ngheandost.gov.vn/JournalDetail/ar1327_Thu_nghiem_nuo
i_hau_cua_song_theo_mo_hinh_cong_nghiep_bang_nguon_giong_sinh
_san_tai_Nghe_An_.aspx. Ngày truy cập 5/6/2012.
Ngô Thị Thu Thảo và Trương Quốc Phú, 2012. Giáo trình kỹ thuật nuôi động