TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHẠM THANH QUYÊN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI
CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC
TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT
Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN PHẠM THANH QUYÊN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ TÀI
CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC
TRONG VÈO AO VÀ AO ĐẤT
Ở TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. TRƯƠNG HOÀNG MINH
farmers of commercial snakehead fish in two models: hapa ponds and farming ponds (30
households/model) in Vinh Long province. The collection of information in order to analyze the
effectiveness of technical and financial, as well as identifying the advantages and disadvantages
of these two models. The results showed that the model hapa ponds scale farming ponds smaller
than, 62,73 and 205,83 m2/household respectively, but have higher stocking densities, 160.66
and 96.6 head/m2 respectively. Culture period (from 5-6 months), survival rate (from 71,55 to
72,83%), harvest size (from 558,62 to 536,77 g/head) were not significantly different between
the two models, but theyields of the model hapa ponds higher than farming ponds, 25,78 and
50,06 kg/m2/crop respectively. The total cost of the model farming ponds is higher than hapa
ponds is 405,16 and 221,82 thousand dong/m2/crop, corresponding the productioncost per of
model farming ponds higher than model hapa ponds was 38,46 and 34,01 thousand VND/kg.
Income of model hapa ponds (858,16 thousand VND/m2/crop) higher than farming ponds
(1606,19 thousand VND/m2/crop) but higher profits, 8,25 and (negative) -69,57 thousand
VND/m2/crop respectively, margins (-0,01 and -0,09) respectively. Percentage of households
with the words of the model is farming ponds lower than hapa ponds, 40 and 56,7% respectively.
1
In addition, a number of measures to develop the model in the future are also included in this
study.
Key words: farming ponds, Channa sp, snakehead fish, economic, technical, hapa
ponds.
Title: Technical and financial efficiency of Channa sp in farming ponds and hapa ponds
in Vinh Long province.
1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất cả
nước, chiếm bình quân 70% diện tích và 73% sản lượng nuôi trồng thủy sản. Theo thống
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật - tài chính của mô
hình nuôi cá lóc trong vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long, để biết được hiệu quả của mô
hình và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tài chính, ổn định kinh tế
nông hộ nuôi cá lóc trong thời gian tới.
1.3. Nội dung nghiên cứu
i. Phân tích các khía cạnh kỹ thuật nuôi cá lóc của hai mô hình vèo ao và ao đất ở
tỉnh Vĩnh Long;
ii. Phân tích và so sánh hiệu quả tài chính của hai mô hình nuôi cá lóc trong vèo ao
và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long;
iii. Phân tích những thuân lợi, khó khăn của hai mô hình nuôi cá lóc ở tỉnh Vĩnh
Long.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 8 - 12/2014 trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Long, thông qua việc thu thập thông tin từ:
(1) Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các nghiên cứu đã được xuất bản trên
tạp chí khoa học chuyên ngành, sách, báo, luận văn Cao học,…
(2) Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 60 hộ nuôi (30
hộ/mô hình) cá lóc trong vèo ao và ao đất ở tỉnh Vĩnh Long. Các thông tin được thu thập
là (1) khía cạnh kỹ thuật (diện tích nuôi, mật độ thả nuôi, thời gian nuôi, kích cỡ thu hoạt,
năng suất,…); (2) hiệu quả tài chính (chi phí, thu nhập, lợi nhuận,…) và (3) những thuận
lợi và khó khăn bằng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn.
Số liệu sau khi thu thập được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Excel
và SPSS với các phương pháp:
Phương pháp thống kê mô tả (tần suất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) để mô tả
các thông tin kỹ thuật và tài chính trong mô hình.
Phương pháp kiểm định thống kê (T-test) để so sánh sự khác biệt giữa các chỉ
tiêu kỹ thuật và tài chính ở 2 địa bàn nghiên cứu.
Phương pháp hồi qui đơn biến để phân tích các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến
năng suất của 2 mô hình.
Một số công thức tính hiệu quả tài chính được sử dụng như sau:
- Cấp 3
Nguồn thông tin kỹ thuật (%)
- Kinh nghiệm
- Nông dân khác
- Tập huấn, sách báo, tạp chí…
Ao đất (n=30)
Vèo ao (n=30)
45,63 ± 9,91
4,1 ± 2,73
3,87 ± 1,3
1,33 ± 0,48
45,17 ± 10,27
5,01 ± 2,65
4,6 ± 1,27
1,2 ± 0,41
16,67
43,33
26,67
13,33
16,67
50
16,67
16,67
Diễn giải
Diện tích bình quân (m2/ao/vèo)
Độ sâu (m)
Số ao/vèo (cái/hộ)
Tỷ lệ ao/vèo (%)
- 1
- 2
- ≥3
Ao đất (n=30)
205,83 ± 185,31
1,94 ± 0,78
1,41 ± 0,91
Vèo ao (n=30)
62,73 ± 86,82
2,15 ± 0,73
2,13 ± 1,94
73,33
16,67
10
53,33
23,33
23,33
Số lượng 1 ao/vèo của các hộ chiếm tỷ lệ cao, từ 53,33% đối với vèo ao và
73,33% số hộ đối với ao đất, cao hơn nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung
(2009) lần lượt là 43,5 - 66,7% số hộ. Do ao đất cần diện tích nuôi lớn nên số lượng ao
Cỡ giống thả (g/con)
Mật độ thả giống (con/m2)
Số vụ nuôi trong năm (%)
- 1 vụ
- 2 vụ
Ao đất (n=30)
Vèo ao (n=30)
13,33
86,67
1,40 ± 0,67
96,68 ± 131,47
3,33
96,67
1,45 ± 1,26
160,66 ± 171,46
6,67
93,33
13,33
86,67
Do vị trí địa lí thuận lợi, nguồn nước dồi dào, con giống được cung cấp quanh
năm và là loài sinh trưởng nhanh nên 90% hộ được khảo sát nuôi 2 vụ/năm, chỉ 10% số
hộ nuôi 1 vụ/năm và nuôi vào mùa nước lũ (tháng 7 đến tháng 10 AL) là để tận dụng
nguồn thức ăn cá tạp nước ngọt tự khai thác được để tiết kiệm chi phí nuôi cá lóc.
- Thức ăn công nghiệp
FCR* (lần)
Ao đất (n=30)
Vèo ao (n=30)
24,89 ± 45,41a
32,08 ± 51,09a
156,77 ± 218,87b
23,97 ± 44,23a
26,67
30
40
1,62 ± 0,33a
63,33
16,67
16,67
1,53 ± 0,24a
Ghi chú: Các giá trị trong cùng 1 hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa
thống kê (P
Kích cỡ thu hoạch (g/con)
Tỷ lệ sống (%)
Năng suất (kg/m2/vụ)
Thương lái thu mua (%)
- Trong tỉnh
- Ngoài tỉnh
Ao đất (n=30)
6,1 ± 0,81a
558,62 ± 189,96a
71,55 ± 20,57a
25,78 ± 35,41a
Vèo ao (n=30)
5,85 ± 0,81a
536,77 ± 233,89a
72,83 ± 18,26a
50,06 ± 51,51b
82,76
17,24
80
20
Ghi chú: Các giá trị trong cùng 1 hàng có chữ cái (a, b) khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa
thống kê (P
(2012) là 87,7%.
(Đvt: 1.000đ/m2/vụ)
Bảng 6: Chi phí nuôi cá lóc
Diễn giải
Ao đất (n=30)
13,83 ± 18,71a
9,45 ± 15,19b
3,56 ± 6,96a
918,97 ± 302,17b
5,04 ± 4,23b
36,211 ± 44,28a
832,55 ± 744,06b
42,25 ± 47,36a
932,84 ± 104,16b
Chi phí cố định:
- Chi phí khấu hao đất
- Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị
Chi phí biến đổi:
- Chi phí cải tạo
- Chi phí con giống
- Chi phí thức ăn
- Chi phí thuốc, hóa chất
Tổng chi phí
Vèo ao (n=30)
21,86 ± 20,40b
17,66 ± 14,71a
(P
có thể nuôi để tăng thêm thu nhập với lao động nhàn rỗi trong gia đình sẽ có thêm việc
làm, cải thiện cuộc sống.
Cá lóc là loài có tiềm năng kinh tế cao, thịt cá dinh dưỡng, thị trường tiêu thụ dễ
dàng cần được sự quan tâm của chính quyền địa phương và Nhà nước.
3.4.2. Khó khăn
Nuôi cá lóc chủ yếu là tự phát và nhỏ lẻ nên khó kiểm soát.
Các hộ nuôi còn hạn chế trong việc áp dụng các kỹ thuật nuôi mới, đa số còn
nuôi theo cách truyền thồng nên thu nhập và lợi nhuận vẫn còn rất bấp bênh.
Nguồn thức ăn cá tạp nước ngọt ngày càng khó tìm và giá thức ăn công nghiệp
tăng cao gây khó khăn cho người nuôi về vấn đề giá bán.
Nuôi cá lóc càng lâu năm thì dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều và càng khó
trị, dẫn đến hao hụt nhiều, thiệt hại cho các hộ nuôi cá lóc.
Giá cả biến động lớn và thường thấp nên người nuôi bị lỗ vốn phải nghỉ nuôi
hoặc chuyển sang đối tượng nuôi khác.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1.
Kết luận
Nhìn chung kỹ thuật nuôi của 2 mô hình có nhiều khác biệt. Đối tượng nuôi chủ
yếu cuả hai mô hình đa số là cá lóc đầu nhím. Thức ăn vèo ao sử dụng chủ yếu là cá tạp
nước ngọt còn thức ăn sử dụng chủ yếu trong ao đất là thức ăn công nghiệp. Nuôi các
lóc thường xuất hiện các bệnh như xuất huyết, trắng mình và ghẻ, cá thường phát bệnh
khi nuôi được từ 1,5 - 2 tháng. Tỷ lệ sống, kích cỡ cá thu hoạch và thu nhập không có sự
khác biệt đáng kể, năng suất của mô hình vèo ao cao hơn nhưng giá thành của mô hình
ao đất cao hơn so với mô hình nuôi vèo ao.
11
Cơ cấu chi phí biến đổi trong nuôi cá lóc bình quân trên 99%, trong đó chi phí
Huỳnh Thị Thuỳ Trang, 2009. Phân tích chuỗi giá trị nuôi cá lóc ở ĐBSCL.Luận văn tốt
nghiệp Cao học chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản, khoa Thuỷ sản, Đại học Cần
Thơ.
Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn Hoàng Huy và Nguyễn Thị Minh Thúy, 2012. So sánh hiệu
quả kinh tế - kỹ thuật giữa sử dụng thức ăn cá tạp và thức ăn viên cho nuôi cá lóc
(Channa striata) thương phẩm trong ao tại An Giang và Đồng Tháp. Kỷ yếu Hội
nghị khoa học thủy sản, trang 480-487.
12
La Hiền Khanh, 2011. Đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi cá lóc ở huyện Bình Tân,
tỉnh Vĩnh Long.Luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản,
khoa Thuỷ Sản, Đại học Cần Thơ.
Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009. Khảo sát các mô hình nuôi cá lóc (Channa
micropeltes và Channa striatus) ở ĐBSCL. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thuỷ sản
toàn quốc, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, trang 436-447.
Phạm Minh Đức, Trần Ngọc Tuấn và Trần Thị Thanh Hiền, 2012. Khảo sát mầm bệnh
trên cá lóc (Channa striata) nuôi ao thâm canh ở An Giang và Đồng Tháp. Tạp chí
Khoa học – Đại học Cần Thơ, số 21b, trang 124 – 132.
Trần Hoàng Tuân, Nguyễn Tuấn Lộc, Huỳnh Văn Hiền, Trương Hoàng Minh, Trần
Ngọc Hảivà Robert S. Pomeroy, 2014. Đánh giá hiệu quả sản xuất và tác động của
thay đổi thời thiết đến nuôi cá lóc (Channa striata) trong ao ở tỉnh An Giang và
Trà Vinh. Tạp chí Khoa học - ĐHCT, số chuyên đề: Thủy sản (2014) (2), trang
141-149.
13