Kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại - Pdf 31

1

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường, nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể
kinh tế. Để đạt được mục đích phi lợi nhuận của mình không ít các chủ thể kinh tế
đã sử dụng những hình thức cạnh tranh không lành mạnh. Trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình các chủ thể này đưa ra các thông tin kinh tế tài chính sai lệch
gây thiệt hại kinh tế đối với chủ thể kinh tế khác.
Vì vậy Kiểm toán với chức năng xác định tính hợp pháp hợp lý và hợp lệ
tong các hoạt động kinh tế tài chính. Từ đó làm lành mạnh hoá các hoạt động kinh
tế tài chính trong các tổ chức tài chính doanh nghiệp góp phần vào sự phát triển ổn
định của nền kinh tế đã trở thành nhu cầu không thể thiếu đôí với nền kinh tế.
Căn cứ vào các qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật, các chuẩn
mực Kiểm toán.Kiểm toán viên sẽ tiến hành xác định tính đúng đắn, hợp lý,hợp
pháp của các tài liệu số liệu kế toán, báo cáo tài chính hàng năm. Mọi sai phạm bất
hợp lý, không đúng với qui định của pháp luật và các chuẩn mực sẽ được phát hiện.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Tổng quan về kiểm toán
1. Khái niệm và bản chất của kiểm toán
Rất có cơ sở để phỏng đoán rằng sự mong muốn có các báo cáo tài chính
trung thực đã tồn tại ngay từ khi các cá nhân, có quan hệ hợp đồng với người khác.
Nguyên bản”Auditing” gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại. Từ
Auditing có nguồn gốc từ động từ la tinh “ audire” nghĩa là “nghe”. Hình ảnh của

tin thì kiểm toán là sự xác nhận khách quan, tính chuẩn xác của thông tin, và cái
quan trọng hơn là qua đó hoàn thiện quy trình quản lý. Mặt khác chúng ta biết rằng
các báo cáo tài chính hàng năm do các doanh nghiệp lập ra là đối tượng quan tâm
chủ yếu của rất nhiều người như : chủ doanh nghiệp các cổ đông, thành viên Hội
đồng quản trị, ngân hàng, bạn hàng của doanh nghiệp... Tuy mỗi đối tượng quan
tâm đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ở các giác độ khác nhau, nhưng
đều có mong muốn, nguyện vọng chung là được sử dụng các thông tin tài chính
một cách chính xác, trung thực và đầy đủ( có độ tin cậy cao) . Do vậy cần có một
bên thứ ba, độc lập khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có địa vị pháp lý, trách
nhiệm kiểm tra và đưa ra kết luận là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp lập có
trung thực không, có phản ánh đúng đắn và trung thực tình hình tài chính của
doanh nghiệp không... Đó chính là công việc của kiểm toán độc lập.
Ở Việt Nam hoạt động kiểm toán mới ra đời nhưng đã có được địa vị pháp lý
vững chắc, được pháp luật công nhận và bảo hộ.
3. các loại kiểm toán.
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau.
3.1. phân loại theo chủ thể kiểm toán.
3.1.1. Kiểm toán nội bộ.
Là kiểm toán do Kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành, phạm vi của
kiểm toán nội bộ xoay quanh việc “ kiểm tra và đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả
của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như chất lượng thực thi
trong nhiêm vụ được giao. Thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong một vài
lĩnh vực sau:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan,
giám sát sự hoạt động của các hệ thống này và tham gia hoàn thiện chúng.
- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính.
- Kiểm tra sự tiết kiệm, tính hiệu quả và hiệu xuất của các hoạt động kể cả
các quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp.
3.1.2. Kiểm toán nhà nước.
Là hoạt động kiểm toán do các Kiểm toán viên của nhà nước tiến hành và

4. Chức năng kiểm toán.
Kiểm tra xác nhận: với chức năng kiểm tra Kiểm toán viên thực hiện kiểm
tra xác nhận:
+ Tính trung thực, độ tin cậy của các thông tin.
+ Kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, quy định.
Sau khi kiểm tra và xác nhận Kiểm toán viên còn tiến hành đánh giá và đề
xuất đối với các thông tin được kiểm toán.
5. Kiểm toán viên.
5.1. Tiêu chuẩn kiểm toán viên.
Theo liên đoàn kiểm toán quốc tế thì yêu cầu đối với một kiểm toán viên bao
gồm:
5.1.1. Kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên.
Việc thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán phải được tiến hành một
cách thân trọng theo yêu cầu nghề nghiệp. Vì vậy Kiểm toán viên phải được đào
tạo và trải qua kinh nghiệm về những kỹ năng cơ bản về nghề kế toán, một số kỹ
năng của luật sư và nhà nghiên cứu khoa học. Một Kiểm toán viên trước hết phải là
chuyên gia lành nghề, đồng thời một Kiểm toán viên được đào tạo không vô tổ
chức trở thành một Kiểm toán viên có hiệu quả. Kiểm toán viên phải thường xuyên
nhận thức được sự phát triển về kế toán kiểm toán.
Kiểm toán viên có nghĩa vụ duy trì kỹ năng và trình độ nghiệp vụ của mình
trong suốt quá trình hành nghề. Yêu cầu về kỹ năng và khả năng nghề nghiệp còn
lưu ý các Kiểm toán viên chỉ nhận làm những phần việc mà bản thân hoặc hãng của
mình có đủ trình độ và khả năng hoàn thành công việc đó.
5.1.2. Đạo đức của kiểm toán viên.
Kiểm toán viên phải là người trung thực thẳng thắn, có lương tâm nghề
nghiệp, phải công minh chính trực và không được phép để cho sự định kiến thiên
lệch, làm lấn át tính khách quan, chính trực. Kiểm toán viên phải điều chỉnh mình
cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của bản thân và của hãng, phải tự
kiềm chế những tính có thể phá vỡ uy tín nghề nghiệp.
Kiểm toán viên phải thường xuyên rèn luyện tính cẩn thận một cách thoả

+ Được nhận vào làm việc tại một tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp
pháp tại Việt Nam và đã được đăng ký danh sách Kiểm toán viên ở Bộ tài chính.
5.2. Trách nhiệm, quyền hạn của kiểm toán viên.
5.2.1.Trách nhiệm của kiểm toán viên.
Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm toán quy định, thực hiện đúng
hợp đồng kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về tính trung thực
khách quan của kết quả kiểm toán và ý kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán.
Không được gây trở ngại cho đối tượng kiểm toán khi tiến hành kiểm toán.
Tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Bảo đảm trung thực, độc lâp, khách quan,công bằng và bí mật số liệu.
Tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán hiện hành của Việt Nam và
các chuẩn mực kiểm toán quốc tế.
5.2.2. Quyền của kiểm toán viên.
Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ theo khuôn khổ của pháp luật.
Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu liên quan đến nội
dung kiểm toán.
Đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới đơn vị được kiểm
toán ở trong và ngoài đơn vị.
Có quyền khước từ làm kiểm toán viên cho khách hàng nếu xét thấy không
đủ khả năng và điều kiện kiểm toán.
Phát hiện đơn vị được kiểm toán có hiện tượng vi phạm pháp luật có quyền
thông báo và kiến nghị với đơn vị và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo
kiểm toán.
6. Các khái niệm sử dụng trong kiểm toán.
6.1. Gian lận và sai sót.
6.1.1. Gian lận:
Là những hành vi có chủ ý lừa dối liên quan đến việc tham ô, biển thủ tài sản
hoặc là xuyên tạc các thông tin tài chính hoặc giấu giếm tài sản. Gian lận có thể
biểu hiện dưới các dạng sau:
+ Xử lý chứng từ theo ý muốn chủ quan như sửa đổi, làm giả chứng từ....

6.3. Bằng chứng kiểm toán.
Là tập hợp tất cả các thông tin tài liệu mà Kiểm toán viên thu thập được để
làm căn cứ đưa ra những nhận xét, kết luận trên báo cáo kiểm toán.
Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán:
+ tính đầy đủ: nói về số lượng bằng chứng, số lượng bằng chứng nhiều hay ít
phụ thuộc vào mục tiêu, đối tượng kiểm toán.
+ Tính thích hợp : nói về chất lượng và độ tin cậy của bằng chứng, phụ thuộc
vào kinh nghiệm, trình độ của Kiểm toán viên.
Kỹ thuật thu thập bằng chứng:
+ Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp.
+điều tra phỏng vấn, xây dựng danh mục câu hỏi.
+ Quan sát.
+Phân tích tính toán.
6.4. Doanh nghiệp hoạt động liên tục.
Thông thường một doanh nghiệp được coi là hoạt động liên tục khi nó tiếp
tục hoạt động trong tương lai định trước, người ta quan niệm rằng doanh nghiệp
không có ý định và cũng không cần phải giải thể hoặc thu hẹp quy mô hoạt động
của mình.
Một số biểu hiện của hoạt độngliên tục:
- Biểu hiện về tài chính:
+Tổng số nợ phải trả trên tổng số nợ ngắn hạn phải trả.
+ Các khoản vay mượn đến hạn không đủ khả năng thanh toán, không đủ độ
tin cậy để vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.
+ Các tỷ lệ tài chính.
+ lỗ trong kinh doanh.
Biểu hiện hoạt động:
+ thiếu cán bộ chủ chốt mà không được bổ sung.
+ thiếu nguồn cung cấp thông tin chuẩn mực.
- Các biểu hiện khác như không đủ vốn pháp định doanh nghiệp đang bị
kiện, có sự thay đổi về chính sách kinh tế của chính phủ.

hoặc những bộ phận, những khoản mục dễ “ cảm xúc” trong kinh doanh. Tuy nhiên
phương pháp này tỏ ra không thực tế khi quy mô và khối lượng giao dịch ngày
càng tăng. Bởi vậy kiểm toán hiện đại không kiểm tra chi tiết, toàn bộ các nghiệp
vụ và số dư tài khoản mà việc kiểm tra chi tiết được dựa trên cơ sở lấy mẫu một số
nghiệp vụ cùng loại.
7.2. Phương pháp tuân thủ.
Phương pháp tuân thủ là những nghiệp vụ kiểm tra được thiết lập để thu thập
bằng chứng đảm bảo hợp lý rằng hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu lực.
Đặc trưng của phương pháp tuân thủ là dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ
của doanh nghiệp. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp được đánh giá
là mạnh, là hiệu quả và kiểm toán viên có thể tin tưởng vào thi các công việc kiểm
toán có thể và cần phải dựa vào hệ thống kiểm soát.
Tuỳ thuộc vào mức thoả đáng về kiểm soát, kiểm toán viên có thể áp dụng
các phương pháp cụ thể sau:
7.2.1. Phương pháp cập nhật cho hệ thống.
Còn gọi là kỹ thuật kiểm tra hệ thống. Kỹ thuật này đòi hỏi việc kiểm tra chi
tiết một loạt các nghiệp vụ cùng một loại ghi chép từ đầu đến cuối để xem xét đánh
giá các bước kiểm soát áp dụng trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nếu việc kiểm tra hệ thống cho thấy các bước kiểm soát là yếu thì cần tiến
hành thử nghiệm các chi tiết.
7.2.2. Thử nghiệm các chi tiết đối với kiểm soát.
Các thử nghiệm chi tiết đối với các kiểm soát chủ yếu cũng được dựa trên cơ
sở kiểm tra mẫu các chứng từ.
8. Kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán.
Lấy mẫu kiểm toán là việc kiểm tra một phần dữ liệu( mẫu) để rút ra kết luận
hợp lý cho toàn bộ dữ liệu( tổng thể). Kiểm toán viên chấp nhận những điều không
chắc chắn nào đó trong kết quả của phép thử kiểm toán vì những lý do:
- Kiểm toán viên không tìm kiếm một sự chắc chắn, chính xác tuyệt đối của
toán học.
- Bằng chứng thu thập từ một nguồn được xác minh bởi các bằng chứng thu

kiểm soát của doanh nghiệp, trên cơ sở đó Kiểm toán viên xác định được trọng tâm
kiểm toán đồng thời nhằm hạn chế rủi ro.
Cụ thể Kiểm toán viên cần thu thập những thông tin cần thiết về đối tượng
được kiểm toán:
- Phạm vi và quy mô hoạt động kinh doanh.
- Quá trình thành lập, điều kiện, khả năng hiện tại và tương lai của doanh
nghiệp.
- Tổ chức sản xuất và những quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh chủ
yếu, các rủi ro tiềm tàng.
- Tình trạng tài chính và các mối quan hệ kinh tế chủ yếu của khách hàng.
- Tổ chức quản lý kinh doanh, trình độ, năng lực của những người điều hành
chính của doanh nghiệp.
- Tổ chức bộ máy và công việc kế toán, tài chính thống kê.
- Tổ chức kiểm soát nội bộ.
- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong công tác kế toán,
quản lý hay hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi có được các thông tin trên kiểm toán viên phải đưa ra kết luận:
+ Tình hình kinh doanh và rủi ro.
+ Môi trường hệ thống thông tin.
+ Môi trường kiểm soát.
+ Các chế độ kế toán.
Các bộ phận cấu thành kế hoạch kiểm toán.
- Kế hoạch về nội dung kiểm toán: bao gồm các thông tin, các nghiệp vụ
được kiểm toán, để lập được kế hoạch về nội dung kiểm toán kiểm toán viên cần
phân tích được đối tượng kiểm toán, xác định được mục tiêu tổng thể và mục tiêu
chi tiết của cuộc kiểm toán, qua đó xác định phạm vi, quy mô, xác định lĩnh vực
trọng yếu cần kiểm toán. trong kế hoạch về nội dung kiểm toán viên cũng cần xác
định được các phương pháp cũng như các phương tiện hỗ trợ và sự phối hợp giữa
các bước, các nhóm kiểm toán
- Kế hoạch về thời gian:

kiến của mình về thông tin tài chính được kiểm toán. Kiểm toán viên phải rà soát
xét lại và đánh giá các kết luận rút ra từ các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được
làm căn cứ cho việc diễn đạt những nhận xét của mình về các thông tin tài chính.
+ Đối tượng kiểm toán, thông tin tài chính được kiểm toán
+ Chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc được dùng làm chuẩn mực đánh giá
trong cuộc kiểm toán.
+ Công việc Kiểm toán viên đã làm.
+ Chuẩn mực kiểm toán được áp dụng.
+ Các giới hạn về phạm vi( nếu có).
+ ý kiến của Kiểm toán viên về thông tin tài chính.
+ Nhận xét và biện pháp cải tiến đối với kiểm toán nội bộ( nếu cần thiết).
Báo cáo kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính có bốn dạng chính:
- Báo cáo chấp nhận toàn bộ: Kiểm toán viên đưa ra báo cáo chấp nhận toàn
bộ khi Kiểm toán viên không có sự loại trừ trọng yêú nào về việc áp dụng hợp lý
các nguyên tắc kế toán, và không có sự giới hạn nào về phạm vi kiểm toán.
- Báo cáo chấp nhận từng phần: Báo cáo mà Kiểm toán viên chấp nhận từng
phần được phát hành khi Kiểm toán viên cho rằng ngoại trừ một số thiếu sót trong
báo cáo tài chính, hoặc một số giới hạn về phạm vi kiểm toán, thì báo cáo tài chính
đã trình bày một cách trung thực và hợp lý.
- Báo cáo không chấp nhận ( loại ý kiến trái ngược): báo cáo kiểm toán
không chấp nhận đưa ra nhận xét rằng báo cáo tài chính của đơn vị không trình bày
một cách hợp lý về tình hình tài chính và kết quả hoạt động theo các chuẩn mực kế
toán hiện hành.
- Báo cáo từ chối nhận xét ( ý kiến từ bỏ): Kiểm toán viên đưa ra báo cáo từ
nhận xét khi có những giới hạn nghiêm trọng về phạm vi kiểm toán, hoặc tồn tại
những tình huống chưa rõ ràng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến báo cáo tài chính.
c) Hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán:
Sau khi lập và ký báo cáo kiểm toán, Kiểm toán viên phải hoàn chỉnh hồ sơ
kiểm toán, hồ sơ kiểm toán được lập thành 2 bộ: một hồ sơ gửi cho đơn vị được
kiểm toán, một hồ sơ giữ lại phòng kiểm toán.

tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ, trong đó chủ yếu là sự nhận thức và hành động
của các nhà quản lý. Các nhân tố đó bao gồm:
Hệ thống kiểm
soát nội bộ
Hệ thống cơ chế kiểm tra
giám sát mội bộ

Kiểm toán nội bộ
- Quan điểm, triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý.
- Cơ cấu tổ chức của đơn vị.
- Chính sách về nhân sự.
- Các kế hoạch và dự toán.
- Các yếu tố bên ngoài: như môi trường pháp lý, đối thủ cạnh tranh, tình
hình kinh tế xã hội...
1.2.2. Hệ thống kế toán.
Qua việc ghi nhận, tính toán, phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
không những hệ thống kế toán cung cấp những thông tin cho quá trình, quản lý mà
nó còn giúp cho việc kiểm soát các mặt hoạt động của đơn vị. Một hệ thống kế toán
hữu hiệu phải đảm bảo các yêu cầu sau.
- Tính có thực: chỉ ghi chép những nghiệp vụ kinh tế có thực.
- Sự phê chuẩn: phải đảm bảo sự phê chuẩn trước khi thực hiện mọi hoạt
động nghiệp vụ.
- Tính đầy đủ: phải phản ánh đầy đủ, không bỏ sót, giấu giếm mọi nghiệp vụ
phát sinh.
- Sự đánh giá: không để xảy ra những sai phạm trong tính toán, trong việc
áp dụngchính sách kế toán.
- Sự phân loại: đảm bảo các nghiệp vụ được phân loại theo đúng quy định.
1.2.3. Các thể thức kiểm soát.
Là toàn bộ những chính sách, thủ tục giúp cho việc thực hiện các chỉ đạo của
nhà quản lý, nó đảm bảo các hoạt động cần thiết để quản lý các rủi ro có thể xảy ra

hành chính sách và thủ tục nội bộ.
+ Xác định chất lượng thực hiện của cả ban quản lý và cán bộ trong việc
thực hiện các trách nhiệm được giao.
+ kiến nghị các phương án phòng ngừa rủi ro và cải thiện hoạt động.
- Thực hiện các cuộc kiểm toán đặc biệt.
- Tư vấn cho các bộ phận chức năng chuyên môn khi triển khai thực hiện
các đề án và giúp đỡ họ giaỉ quyết khó khăn vướng mắc.
* Quy chế kiểm toán nội bộ Việt Nam quy định nhiệm vụ của kiểm toán nội
bộ.
+ Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
+ Kiểm tra, xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính
của báo cáo tài chính trước khi trình duyệt.
+ Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh đặc
biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán, quyết định của Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc.
+ Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài
sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống
quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.2. Chức năng của kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ bảo vệ doanh nghiệp trước những rủi ro, nguy
cơ thất thoát tài sản. Để làm được như vậy kiểm toán nội bộ phải thực hiện :
- Kiểm toán hoạt động.
- Kiểm toán tài chính.
- Kiểm toán điều hành.
Kiểm toán nội bộ cũng có chức năng tư vấn, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả của cơ cấu tổ chức cũng như quy trình vận hành của
doanh nghiệp.
Giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua việc kiểm toán toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực và đưa ra các ý kiến tư vấn. Góp phần hoàn thành mục tiêu
của doanh nghiệp.

chương trình thống nhất của bộ tài chính và được cấp chứng chỉ.
2.2.6. Phạm vi công việc.
Đánh giá tính thích hợp và tính hiệu quả của cơ chế kiểm tra nội bộ cũng như
chất lượng của việc thực hiện nhiệm vụ trong nội bộ doanh nghiệp. Cụ thể kiểm
toán viên phải xem xét về :
- Tính xác thực và đầy đủ của thông tin.
- Việc chấp hành các chiến lược, kế hoạch, quy trình, luật định, nghị định và
hợp đồng.
- Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp.
- Việc sử dụng vốn một cách kinh tế có hiệu qủa.
- Việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra phục vụ cho quá trình kinh doanh hay
các chương trình.
2.2.7. Công tác điều hành bộ phận kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán viên trưởng phải điều hành hoạt động bằng những thể thức thích
hợp như:
- Phải có văn bản quy định rõ về mục tiêu, chức năng và trách nhiệm của bộ
phận kiểm toán nội bộ.
- Phải quy định chính sách và thủ tục kiểm toán nội bộ.
- Phải lập kế hoạch kiểm toán nội bộ.
- Phải phối hợp những hoạt động của bộ phận với các kiểm toán viên độc
lập.
- Phải có kế hoạch kiểm soát chất lượng kiểm toán nội bộ.
2.2.8. Cách thức làm việc của bộ phận kiểm toán.
Về cơ bản, các kỹ thuật và quy trình kiểm toán của kiểm toán nội bộ cũng
tương tự như kiểm toán độc lập. Cũng cần nhắc lại là các khác biệt trong công việc
là xuất phát từ sự khác nhau về mục đích giữa 2 loại hình này, chẳng hạn trong
kiểm toán các thông tin tài chính, thì kiểm toán nội bộ thường chỉ quan tâm xem
xét tính xác thực của dữ liệu và sự tuân thủ các quy định. Phương pháp và yêu cầu
trong kiểm toán nội bộ thường bao gồm các vấn đề sau:
- Lập kế hoạch kiểm toán: Công việc của kiểm toán nội bộ dựa trên cơ sở

+ Ghi chép các bước kiểm toán và các dữ liệu thành tài liệu công tác.
+ Đưa ra các khuyến nghị, biện pháp tăng cường hiệu quả quá trình hoạt
động hoặc khắc phục thiếu sót.
+ Lập báo cáo, đưa ra ý kiến phê bình cả về nội dung lẫn hình thức trong báo
cáo.
+ Thảo luận, bàn bạc kết quả và thống nhất ý kiến với bộ phận được kiểm
toán.
- Lập báo cáo: sau mỗi cuộc kiểm toán, bộ phận kiểm toán nội bộ phải lập
ngay một báo cáo bằng văn bản và trình cho các thành viên ban giám đốc có thẩm
quyền biết; các sai phạm và kiến nghị nêu trong báo cáo phải được thành viên ban
giám đốc phụ trách mảng hoạt động bị kiểm toán xem và cho ý kiến. Tuy nhiên, đối
với các sai phạm nghiêm trọng thì phải lập ngay một báo cáo bằng văn bản và trình
cho tất cả các thành viên ban giám đốc biết. Ngoài ra còn phải định kỳ trình cho tất
cả các thành viên ban giám đốc một bản tóm tắt các nội dung kiểm toán và kết quả
kiểm toán quan trọng, trong đó cần nêu rõ những sai phạm và thiếu sót nghiêm
trọng.
Báo cáo kiểm toán nội bộ trước hết phải trình bày về nội dung kiểm toán và
các kết luận kiểm toán, đặc biệt nêu rõ các sai phạm nghiêm trọng. Trong đó phải
đánh giá về kết quả kiểm toán, nếu cần thiết thì phải đưa ra kiến nghị để sửa đổi
cho phù hợp. Các dạng báo cáo là:
- Báo cáo được lập dưới dạng văn bản. báo cáo ngắn gọn, rõ ràng và tập
trung vào nội dung cơ bản. kiểm toán viên nội bộ phải thảo luận với các nhà quản

Trích đoạn Kết quả kiểm tra kiểm toán báo cáo kế toán và ngân quỹ: Tính độc lập Giải pháp từ phía Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước 1 Giải pháp từ phía nhà nước Giải pháp từ phía Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam Mối quan hệ của các phòng nghiệp vụ đối với bộ phận kiểm toán nội bộ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status