Quan hệ thanh toán bằng thẻ ngân hàng phát sinh trên cơ sở hợp đồng phát
hành và sử dụng thẻ thanh toán giữa tổ chức phát hành thẻ và người có đủ điểu
kiện sử dụng thẻ thanh toán. Như vậy, các quan hệ pháp lý trong quan hệ thanh
toán thông qua thẻ ngân hàng bao gồm:
1.Các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình phát hành thẻ:
Trong quá trình phát hành thẻ có bốn chủ thể chính tham gia đó là:
- Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT): là một ngân hàng, một định chế tài chính hay một
tổ chức phi tài chính gắn với một thương hiệu thẻ (ví dụ Visa international,
Mastercard international…) trên cơ sở các thương hiệu thẻ đã có, các tổ chức này
ủy quyền cho các ngân hàng đại lý hoặc tự mình phát hành thẻ.
- Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT): là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được ngân
hàng Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép thực hiện hoạt động phát
hành thẻ, cấp thẻ cho các chủ thể sử dụng, chịu trách nhiệm thanh toán và cung cấp
các dịch vụ liên quan đến thẻ đó.
- Chủ thẻ: là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử
dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính là cá nhân hoặc tổ
chức đứng tên thỏa thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa
vụ thực hiện thỏa thuận đó. Chủ thẻ phụ là cá nhân được chủ thẻ chính cho phép sử
dụng thẻ theo thỏa thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát
hành thẻ. Chủ thẻ phụ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính.
- Đại lý phát hành thẻ (ĐLPHT): là cá nhân, tổ chức được ngân hàng phát hành thẻ
ủy quyền để thực hiện một số nghiệp vụ trực tiếp phát hành thẻ cho khách hàng
thông qua hợp đồng đại lý phát hành thẻ.
Một số quan hệ pháp lý có thể phát sinh như:
- Quan hệ giữa TCPHT và chủ thẻ: quan hệ này phát sinh dựa trên cơ sở hợp đồng
sử dụng thẻ. Trong quan hệ này, TCPHT có quyền:
+ Yêu cầu chủ thẻ cung cấp đầy đủ các thông tin và tài liệu cần thiết nhằm
làm rõ các điều kiện sử dụng thẻ của khách hàng khi đề nghị được cung ứng thẻ và
trong quá trình sử dụng thẻ;
+ Từ chối phát hành thẻ nếu khách hàng không đáp ứng đầy đủ các điều
hiện đầy đủ các điều khoản và điều kiện hợp đồng trong hợp đồng sử dụng thẻ;
+ Tăng hoặc giảm hạn mức thấu chi, hạn mức tín dụng;
+ Quyết định thu hồi số tiền TCPHT cho chủ thẻ vay;
+ Quy định các hình thức đảm bảo an toàn cho việc sử dụng thẻ;
+ Quy định loại lãi, mức lãi cho vay đối với chủ thẻ không trái quy định
pháp luật hiện hành.
Đồng thời TCPHT có nghĩa vụ:
+ Giải quyết hoặc trả lời khiếu nại, yêu cầu tra soát của chủ thẻ;
+ Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa rủi ro cho các giao
dịch thẻ theo các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử;
+ Bảo mật thông tin liên quan đến hoạt động thẻ;
+ Bảo đảm hệ thống cơ sở hạ tầng và phần mềm quản lý hoạt động phát
hành, thanh toán thẻ hoạt động thông suốt và an toàn;
+ Hướng dẫn chủ thẻ thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho giao dịch
thẻ.
Còn chủ thẻ có quyền:
+ Sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không bị phân biệt giá so
với trường hợp thanh toán bằng tiền mặt;
+ Thỏa thuận với TCPHT về hạn mức thấu chi, hạn mức tín dụng và các
thỏa thuận khác không trái pháp luật hiện hành;
+ Được TCPHT cung cấp thông tin định kỳ hoặc được cung cấp thông tin
đột xuất về giao dịch thẻ và số dư, hạn mức liên quan đến việc sử dụng thẻ theo
quy định của TCPHT;
+ Được TCPHT hoàn trả lại số tiền được nạp trên thẻ trả trước chưa sử dụng
hết theo quy định pháp luật;
+ Có quyền khiếu nại, yêu cầu TCPHT tra soát trong những trường hợp cụ
thể do pháp luật quy định.
Đồng thời chủ thẻ có nghĩa vụ:
+ Cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của
TCPHT trong quá trình sử dụng thẻ;
như trên cũng được coi là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bù trừ giao dịch thẻ.
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bù trừ giao dịch thẻ là khối kết nối hệ
thống thanh toán giữa các TCTTT khác nhau để các TCTTT có thể thực hiện được
các giao dịch với nhau mặc dù mỗi hệ thống có một đặc thù riêng. Tổ chức này
được hình thành nhằm kết nối giữa các ĐVCNT, các TCTTT, TCTQT thành một
mạng lưới rộng khắp, giúp chủ thẻ có thể sử dụng thẻ trên phạm vi rộng hơn,
không bị bó hẹp trong phạm vi ĐVCNT thuộc hệ thống thanh toán của mình.
Mối quan hệ giữa TCTTT với ĐVCNT được thể hiện như sau:
TCTTT có quyền:
+ Được ĐVCNT hoàn trả tiền đối với các giao dịch thẻ thực hiện không
đúng hợp đồng thanh toán thẻ;
+ Được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến các giao dịch thẻ của
chủ thẻ tại ĐVCNT;
+ Được hưởng phí dịch vụ thẻ theo thỏa thuận giữa các bên.
Đồng thời, TCTTT có nghĩa vụ:
+ Yêu cầu ĐVCNT không được phân biệt giá trong thanh toán thẻ;
+ Hướng dẫn các biện pháp, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ và bảo mật trong
thanh toán thẻ đối với ĐVCNT, TCTTT phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại gây
ra do TCTTT không thực hiện đúng quy định này. Các TCTTT không được phép
ký kết hợp đồng thanh toán thẻ với bất kỳ ĐVCNT nào đã vi phạm việc phân biệt
giá trong thanh toán thẻ trong thời hạn một năm; trường hợp ĐVCNT đó tái phạm
thì thời hạn không được phép ký kết hợp đồng có thể từ ba đến năm năm; TCTTT
nếu đã biết mà không tuân thủ cũng được xem là vi phạm điều kiện đối với việc
thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
ĐVCNT có quyền được TCTTT thanh toán đầy đủ, kịp thời các giao dịch
thẻ được thực hiện đúng hợp đồng và các quyền khác trong hợp đồng thanh toán
thẻ. Đồng thời có nghĩa vụ chấp nhận thẻ trong thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
mà không được tăng giá hoặc áp dụng phân biệt giá cả hoặc yêu cầu chủ thẻ trả
thêm phụ phí đối với các giao dịch thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ so
với thanh toán bằng tiền mặt. Trường hợp ĐVCNT vi phạm yêu cầu này, ĐVCNT