BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ THÊM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
CHU VĂN AN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Xuân Khoa
NGHỆ AN, 2014
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám
hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Vinh, các thầy giáo, cô
giáo, Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào Trường Đại học
Vinh, Ban Giám hiệu Trung tâm GDTX Chu Văn An, gia đình và bạn bè đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS. TS.
Đinh Xuân Khoa, người trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù rất cố gắng trong quá trình thực hiện song luận văn sẽ còn
nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, các anh
chị và các bạn.
GDĐĐ:
Giáo dục đạo đức
Nxb:
Nhà xuất bản
QL:
Quản lý
TP:
Thành phố
THPT:
Trung học phổ thông
CSVC:
Cơ sở vật chất
BGH:
Ban Giám hiệu
CHXH:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giáo dục đạo đức (GDĐĐ) trong nhà trường là một hoạt động có tổ
chức, có mục đích, kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức
theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức của bản thân
HV, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự tiến
bộ của xã hội. GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết nhà trường và xã hội, con người
với cuộc sống. Ở nhà trường, GDĐĐ cho học viên (HV) là hình thành ở các
em ý thức đạo đức, hành vi, thói quen đạo đức, tình cảm đạo đức theo những
nguyên tắc đạo đức dân tộc, đạo đức cách mạng và đạo đức Xã hội chủ nghĩa
(XHCN).
Là một bộ phận của giáo dục, tất yếu GDĐĐ cũng cần phải được quản lý
chặt chẽ, khoa học. Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ cho HV là góp phần thực
hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm xây dựng những con người và thế hệ gắn bó
với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH.
1.2. Tuy nhiên, hiện nay, chúng ta vẫn đang ngày phải đối diện với vấn
đề bạo lực học đường, tệ nạn xã hội học đường, những hành vi cư xử thiếu
văn hóa của HV với bạn bè, với người lớn, với môi trường tự nhiên... Một
trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn này xuất phát từ việc
GDĐĐ trong nhà trường chưa thực sự mang lại hiệu quả do những hạn chế về
nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục. Các trường chủ yếu chú trọng
giáo dục trí dục, chưa quan tâm đúng mức đến mặt đức dục. Nội dung GDĐĐ
thiên về kiến thức mà xem nhẹ việc rèn ý thức, thái độ, hành vi cho HV.
Trong khi đó việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của các nhà
trường mới chỉ dừng lại ở kế hoạch tổng thể, tức là lựa chọn những ngày lễ
lớn, để tổ chức hoạt động giáo dục, chưa cụ thể hóa các hình thức tổ chức có
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học viên ở Trung tâm giáo dục
thường xuyên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học viên ở Trung tâm giáo dục
thường xuyên Chu Văn An, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi
do chúng tôi đề xuất thì có thể nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức
cho học viên ở Trung tâm giáo dục thường xuyên Chu Văn An, TP Hồ Chí
Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề QL công tác GDĐĐ cho HV
Trung tâm GDTX Chu Văn An, TP Hồ Chí Minh.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề QL công tác GDĐĐ cho HV
Trung tâm GDTX Chu Văn An, TP Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất các giải pháp QL công tác GDĐĐ cho HV Trung tâm
GDTX Chu Văn An, TP Hồ Chí Minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu liên quan để xây
dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp Điều tra qua các phiếu hỏi.
- Phương pháp Lấy ý kiến chuyên gia.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC VIÊN Ở TRUNG TÂM GDTX
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận không thể tách rời của giáo dục
tổng thể, góp phần hình thành ý thức, hành vi, thói quen đạo đức, tình cảm
đạo đức theo những nguyên tắc đạo đức dân tộc, đạo đức cách mạng và đạo
đức XHCN. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và giao lưu văn hóa quốc tế
đang có những tác động tiêu cực đến nhân cách, lối sống của thế hệ trẻ hiện
nay thì việc GDĐĐ cho HV càng trở thành vấn đề được quan tâm nghiên cứu
hơn bao giờ hết.
Một trong những nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục
đạo đức cho HV, sinh viên Việt Nam là PGS.TS Phạm Minh Hạc. Trong công
trình Về phát triển con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ông đã
nêu rõ các định hướng giá trị đạo đức cần cung cấp cho con người Việt Nam
nói chung và HV nói riêng hiện nay là: “Trang bị cho mọi người những tri
thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và
văn hóa xã hội, hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm
tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, đối với mọi người, đối với sự nghiệp
cách mạng của Đảng, của dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh.
Tổ chức tốt việc giáo dục và rèn luyện giới trẻ, để mọi người tự giác thực hiện
những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành những quy định của
pháp luật, nỗ lực học tập, rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [12; 169]. Để nâng cao hiệu
quả GDĐĐ cho thế hệ trẻ hiện nay, trong công trình Tâm lý học đại cương,
ông cũng nêu lên 6 giải pháp cơ bản là: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức
yếu Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường Cao đẳng, Đại
học Việt Nam” (12/2012) đã phân tích tương đối toàn diện về vấn đề GDĐĐ
cho sinh viên. Ở phần nội dung của công tác GDĐĐ, các tác giả nêu rõ: “Giáo
dục cho sinh viên về lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thế giới
7
quan cách mạng và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì, khi có nhận
thức đúng lý tưởng, họ sẽ có niềm tin, có hành động đúng, biết nhìn về tương
lai. Giáo dục để sinh viên có được ý thức và trách nhiệm cộng đồng, tinh thần
mình vì mọi người, lòng khoan dung, ý thức tự giác trong học tập và hoạt
động cá nhân. Hiểu sâu sắc về những mặt trái của xã hội và kinh tế đang diễn
ra và nguy cơ làm xuống cấp đạo đức của bộ phận người và cội nguồn của sự
xuống cấp đó, để đấu tranh chống lại, và rèn luyện bản thân” [34; 25]. Tác giả
Vũ Thị Liên - Lê Thị Thanh Hiếu trong tham luận Biện pháp tăng cường giáo
dục đạo đức cho sinh viên Khoa Sư phạm Tự nhiên Trường Cao đẳng Sơn La
đã đi sâu phân tích tình hình đạo đức sinh viên Khoa Sư phạm Trường Cao
đẳng Sơn La, từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể (6 giải pháp). Trong quá trình
phân tích các luận điểm, 2 tác giả cũng đã khẳng định rằng: “Để thực hiện
thành công công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế
thị trường và quá trình toàn cầu hóa, trong lĩnh vực giáo dục, các nhà trường
cần đặc biệt coi trọng GDĐĐ. Đây là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, hình
thành phẩm chất đạo đức của người công dân XHCN” [34; 122].
Đề tài NN7 Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và
lối sống cho HV, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân do Phạm Tất
Dong làm chủ nhiệm đã nêu nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị, tư
tưởng trong các trường từ Tiểu học đến Đại học những năm đầu thập kỉ 90.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận với một số công trình nghiên cứu khác
như: công trình “Một số vấn đề thời đại và đạo đức” của nhà giáo Mai Văn
pháp phối hợp giữa Hiệu trưởng và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong
công tác giáo dục đạo đức cho HS THPT Tỉnh Bình Dương (Võ Huỳnh Ngọc
Vân), Những giải pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
nhằm giáo dục đạo đức cho HS THPT ở Thị xã Thái Bình (Trần Thị Hải Yến),
Một số giải pháp QL công tác giáo dục đạo đức ở các trường THPT TP
Thanh Hóa (Chu Hồng Văn)…
Đặc biệt, hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về những biện
pháp QL hoạt động GDĐĐ cho HV Trung tâm GDTX Chu Văn An, TP Hồ
Chí Minh. Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lý giáo dục đạo
9
đức cho học viên ở Trung tâm GDTX Chu Văn An, TP. Hồ Chí Minh” là
một việc làm có ý nghĩa, giúp tháo gỡ những khó khăn hiện nay của công tác
GDĐĐ trong Trung tâm GDTX Chu Văn An nói riêng và trong các cơ sở giáo
dục trên phạm vi cả nước nói chung.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Học viên và Học viên Trung tâm GDTX
Thông thường, từ học viên thường được dùng lẫn lộn với sinh viên,
nhưng đều chỉ chung những người học. Tuy nhiên, sự phân biệt của các từ
này ở chỗ: nếu sinh viên được dùng để chỉ người học ở bậc TCCN, Cao đẳng,
Đại học chuyên nghiệp và sau đại học, thì học viên tại các Trung tâm (Ngoại
ngữ, Tin học, GDTX...), trường bồi dưỡng (chính trị, nghiệp vụ), trường dạy
nghề...đa số đều là người lớn tuổi...Theo tự điển tiếng Việt phổ thông của Nhà
xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002: Học viên là người lớn tuổi, học
ở các trường lớp, không thuộc hệ thống giáo dục phổ thông, hay Đại học.
Trung tâm GDTX là cơ sở GDTX của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trung tâm GDTX bao gồm trung tâm GDTX quận, huyện, thị xã, TP thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là trung tâm GDTX cấp huyện), trung tâm GDTX
xã hội theo quy định của pháp luật.
- Học viên học hết các chương trình GDTX theo quy định thì được cấp
văn bằng, chứng chỉ.
Hiểu được quyền, nhiệm vụ, bản chất hoạt động học tập của HV Trung
tâm GDTX sẽ giúp các nhà quản lý đề xuất những giải pháp GDĐĐ phù hợp,
có hiệu quả.
1.2.2. Đạo đức và giáo dục đạo đức
* Đạo đức
Đạo đức là khái niệm quen dùng trong đời sống người Việt. Thông
thường, chúng ta thường hình dung đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp mà
con người cần hướng đến để hoàn thiện nhân cách của bản thân. Để hiểu
11
chính xác, nhiều tác giả đã cố gắng phân tách hai yếu tố này. Trong cuốn Hán
– Việt từ điển, trên cơ sở phân tách 2 yếu tố đạo và đức, tác giả đã đi đến quan
niệm cho rằng đạo đức là “Cái lý pháp người ta nên noi theo” (Đào Duy Anh).
Theo Từ điển Tiếng Việt thì từ đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được
dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với
nhau và đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con
người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có” [27]. Hữu Ngọc Dương Phú Hiếp - Lê Hữu thì quan niệm “Đạo đức hay luân lý là một trong
những hình thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy
tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác
và với cộng đồng” [22; 145].
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những
phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là
“con đường”, “đường đi”. Về sau, khái niệm đạo được vận dụng trong triết
học để chỉ “con đường của tự nhiên”. Đạo còn có nghĩa là “con đường sống”
* Giáo dục đạo đức
Có thể hiểu quá trình GDĐĐ là một hoạt động có tổ chức, có mục đích,
có kế hoạch nhằm biến những nhu cầu chuẩn mực, giá trị đạo đức của cá nhân
nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển
tiến bộ của xã hội. “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để
hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan
trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [21; 85].
Thực chất của việc GDĐĐ phải bắt nguồn từ việc tác động về mặt nhận
thức, xây dựng những rung cảm đạo đức, hình thành nhu cầu và niềm tin
hướng đến các chuẩn mực đạo đức cũng như các yêu cầu có liên quan mới có
thể hình thành một hành vi đạo đức mang tính chất tâm lý chứ không phải kỹ
thuật. Mặt khác, đó còn là việc huấn luyện, bồi dưỡng những kỹ năng ứng xử
- giao tiếp cho HV nhằm hướng đến việc xây dựng văn hóa học đường theo
hướng tích cực.
13
GDĐĐ là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện
chứng với các quá trình bộ phận khác nhau như giáo dục trí tuệ, giáo dục
thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp giúp
cho HV hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
Quá trình GDĐĐ bao gồm các tác động của rất nhiều nhân tố khách
quan, chủ quan, bên trong và bên ngoài. Do đó GDĐĐ chỉ đạt hiệu quả khi
nhà sư phạm biết tổ chức và đưa ra các biện pháp tổ chức các hoạt động giáo
dục một cách có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.
1.2.3. Quản lý và Quản lý giáo dục đạo đức
* Quản lý
Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm về
quản lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của chủ
tượng QL) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế.... bằng một hệ thống
các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp
cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng [10, 97].
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa “QL là những tác động của chủ thể QL
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao
nhất” [24; 8].
Những khái niệm trên về QL khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn
cho thấy một ý nghĩa chung: QL là sự tác động có tổ chức có hướng đích của
chủ thể QL lên đối tượng QL và khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường. Hoạt động QL phải là sự tác động có định
hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo
đà cho một sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
* Quản lý giáo dục đạo đức
Về bản chất, QL hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng
của chủ thể QL lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực
hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động
15
cơ, tình cảm, thái độ, hành vi và thói quen. Đó là những nét tính cách của
nhân cách ứng xử đúng đắn trong xã hội).
Quản lý hoạt động GDĐĐ bao gồm việc QL mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ GDĐĐ, biến quá trình giáo
dục thành quá trình tự giáo dục.
Mục tiêu của QL hoạt động GDĐĐ cho HV là làm cho quá trình GDĐĐ
vận hành đồng bộ, hiệu quả trong việc giáo dục hình thành và phát triển nhân
hướng vào một đối tượng, hoạt động cụ thể chính là công tác GDĐĐ cho HV
trong nhà trường. Hoạt động này cũng cần phải được thực hiện nghiêm túc từ
khâu lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát quá trình thực hiện cho đến
công đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện như thế nào. Thực chất, đây là
tập hợp các cách làm, cách hành động cụ thể để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho
HV. Nó hướng đến duy trì trật tự cho công tác GDĐĐ cho HV và để cho công
tác này đạt được mục tiêu đề ra một cách tốt nhất.
1.2.5. Giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học viên Trung tâm
GDTX
Căn cứ vào nội dung khái niệm giải pháp QL GDĐĐ, có thể hiểu giải
pháp QL GDĐĐ là các cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động GDĐĐ cho
HV Trung tâm GDTX để khắc phục những hạn chế tồn tại trong công tác QL
GDĐĐ hiện tại, phát huy những kết quả đạt được sao cho công tác GDĐĐ
cho HV đạt được mục tiêu giáo dục mà Trung tâm đề ra. Những giải pháp này
được đề xuất cũng phải dựa trên đặc điểm của HV, tình hình thực tế tại các
Trung tâm, mục tiêu GDĐĐ mà Trung tâm hướng đến...
1.3. Một số vấn đề giáo dục đạo đức cho học viên Trung tâm GDTX
hiện nay
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác giáo dục đạo đức
- Vị trí của công tác GDĐĐ:
GDĐĐ là một bộ phận quan trọng nằm trong quá trình giáo dục tổng thể
gồm: GDĐĐ, giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục
17
hướng nghiệp. Cha ông ta từ xưa luôn đặt GDĐĐ là việc làm đầu tiên trong
việc dạy người: Tiên học lễ, hậu học văn. Ngày nay, dù tồn tại không ít những
quan niệm dạy học thực dụng, coi trọng dạy chữ, dạy nghề mà xem nhẹ việc
dạy làm người nhưng vẫn không ai phủ nhận vị trí quan trọng của việc
trong lối sống, những quan niệm về các chuẩn mực đạo đức xã hội. Vấn đề ở
chỗ là làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà vẫn giữ
được nét đẹp riêng, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Đây quả
là vấn đề bức xúc đang đặt ra cho toàn xã hội Việt Nam hiện nay và để làm
được điều ấy, tất yếu cần đến công tác GDĐĐ cho HV ở Trung tâm.
Tóm lại, GDĐĐ cho HV ở Trung tâm GDTX là một hoạt động có tổ
chức, có mục đích, kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức
theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức của bản thân
HV, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự tiến
bộ của xã hội. Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ cho HV Trung tâm GDTX là góp
phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm xây dựng những con người và
thế hệ gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ công tác giáo dục đạo đức
Mục tiêu của GDĐĐ cho HV Trung tâm là giúp cho mỗi cá nhân nhận
thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi
người, trở hành một công dân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất
nước.
Để tiến tới thực hiện mục tiêu lớn đó, công tác GDĐĐ cho HV Trung
tâm phải thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tăng cường giáo dục thế giới quan khoa học, giúp các em có những
hiểu biết đúng đắn về thế giới hiện thực, có đầu óc khoa học với niềm tin
khoa học, biết sử dụng các quy luật để xây dựng cuộc sống.
19
- Tăng cường giáo dục tư tưởng cách mạng XHCN nhằm giúp các em có
ước mơ, hoài bão cao đẹp, có ý thức và khả năng chống lại lối sống thực
dụng, chạy theo đời sống vật chất, hưởng thụ.