1. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của
ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm
không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Chủ trương hiện
nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng
hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho
nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu.
Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng
và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo,
tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân.
Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là
nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 châu á và ở vị trí
hàng đầu khu vực đông nam châu á. Hiện nay nước ta đang có gần 23 triệu
đầu lợn, bình quân tốc độ tăng hàng năm là 3,9%, đảm bảo cung cấp 80% sản
phẩm thịt cho thị trường nội địa và một phần cho xuất khẩu. Kế hoạch đến
năm 2010, Việt Nam sẽ có 25 triệu đầu lợn và sẽ đạt sản lượng 2 triệu tấn thịt,
chiếm tỷ trọng trên 30% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp ( Trích theo
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3]).
Yên Định là huyện đồng bằng cuả tỉnh Thanh Hóa, sản xuất nông
nghiệp là chủ yếu. Trong những năm gần đây, thực hiện mục tiêu Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ chương của Đảng
và Nhà nước, Yên Định đã tập trung chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu trong nông
nghiệp, ngành chăn nuôi từng bước đã có sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn,
đưa giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất góp phần làm thay đổi bộ
mặt kinh tế nông thôn. Trong những năm qua tốc độ phát triển chăn nuôi đạt
1
khá cao 18,5%, tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong ngành nông nghiệp đến năm
2007 của huyện là 39,5%, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
huyện Yên Định (2006) [34]
chuồng nền và chuồng sàn tại huyện Yên Định – tinh Thanh Hóa”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tình hình hội chứng tiêu chảy ở lợn theo: lứa tuổi, mùa vụ ở
lợn nuôi trong hai kiểu chuồng nuôi.
- Đo độ ẩm ở hai kiểu chuồng nuôi.
- Xác định sự biến động tổng số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn E.coli và vi
khuẩn Salmonella trong phân lợn tiêu chảy nuôi ở hai kiểu chuồng.
- Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của E.coli và Salmonella
phân lập.
- ứng dụng một số phác đồ điều trị bằng kháng sinh.
- ứng dụng điều trị bệnh tiêu chảy bằng kháng sinh mẫn cảm kết hợp
chế phẩm sinh học.
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đánh giá tình hình hội chứng
tiêu chảy ở đàn lợn nuôi trong hai kiểu chuồng trên địa bàn huyện Yên Định -
Thanh Hoá, ảnh hưởng của mùa vụ, lứa tuổi đến tỷ lệ bị bệnh, tỷ lệ chết.
- Đánh giá được tình trạng loạn khuẩn đường tiêu hoá, khả năng mẫn
cảm kháng sinh của E.coli và Salmonella phân lập được từ lợn bị tiêu chảy
nuôi trong hai kiểu chuồng.
1.4.2. ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu về tình hình hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn nuôi
trong hai kiểu chuồng khác nhau là cơ sở khoa học để xác định các biện pháp
phòng bệnh cho đàn lợn, hạn chế ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh,
3
chuồng trại đối với từng lứa tuổi, phù hợp với điều kiện của các cơ sở chăn
nuôi, nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh.
- Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của E.coli và
Salmonella là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các phác đồ điều trị phù hợp
và có hiệu quả hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn, làm giảm tỷ lệ chết, giảm tỷ lệ
Văn Tạo và cộng sự (cs) (1993) [48], Phan Thanh Phượng và cs (1995) [40], ở
nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào vụ đông xuân, khi
thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm.
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tuấn, Lê văn Tạo, Trần Thị Hạnh
(1998) [62] cho thấy bệnh tiêu chảy xảy ra ở mọi lứa tuổi, sơ sinh, cai sữa và
cả lợn sinh sản, nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa.
2.1.1. Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy, nhiều tác giả đã dày
công nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy kết quả
cho thấy nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy rất phức tạp. Tuy nhiên tiêu
chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều
các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân
thứ phát. Song cho dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả
của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối
cùng là nhiễm trùng. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy ở
gia súc xảy ra do các nguyên nhân sau đây:
2.1.1.1. Do vi sinh vật
- Do vi khuẩn
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả
đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác
động của vi khuẩn.
Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất
nhiều loài vi sinh vật sinh sống. Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới
6
dạng một hệ sinh thái. Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân
bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia
súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái
cân bằng. Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu
hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong
hệ vi sinh vật đường ruột. Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1997) [17] tác nhân gây bệnh lợn
con phân trắng chủ yếu là E.coli và nhiều loại Salmonella
Radostits O.M. và cs (1994) [82] cho rằng E.coli gây bệnh cho lợn là
các chủng có kháng nguyên pili và sản sinh độc tố đường ruột đóng vai trò
quan trọng và phổ biến trong quá trình tiêu chảy ở lợn.
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs (1997)[23] khi xét nghiệm phân lợn
khoẻ và lợn bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên có các
loại vi khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella Streptococcus, Klebsiella, Bacilus
subtilis. Khi lợn bị tiêu chảy E.coli, Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm.
Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [33], các tác nhân gây bệnh tiêu chảy
cho lợn ngoài Salmonella còn có nhiều loại vi khuẩn khác tham gia như
E.coli, Streptococcus, Klebsiella, Proteus, Pseudomonas, trong đó chủ yếu là
do E.coli độc, Salmonella và Streptococcus.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [59] cho rằng tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con
là E.coli, nhiều loại Salmonella, đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh
mủ, Streptococcus.
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3] cho biết khi lợn bị tiêu chảy số loại vi
khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong một gram phân tăng lên so với ở lợn
không bị tiêu chảy. Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai trò
quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như E.coli, Salmonella và Streptococcus
tăng lên, trong khi Staphylococcus và Bacillus subtilis giảm đi.
8
Theo Nguyễn Thị Oanh (2003) [35] lợn nuôi ở Đắc Lắc nhiễm Salmonella
với tỷ lệ 17,2%; trong đó lợn ở lứa tuổi 2- 4 tháng nhiễm Salmonella cao nhất
(24,78%). Lợn khoẻ, tỷ lệ nhiễm Salmonella là 11,2%; trong khi đó ở lợn tiêu
chảy nhiễm 23,68%.
Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân (1996) [65] khi nghiên cứu E.coli và
Salmonella cho biết tỷ lệ nhiễm E.coli độc ở lợn bình thường là 14,66%, ở lợn
tiêu chảy tỷ lệ này là 33,84%.
Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999) [21] khi nghiên cứu về E.coli ở phân
1
.
Theo Nagy B và cs (1991) [79] tiêu chảy ở lợn con trong thời kỳ bú mẹ
phần lớn gây ra do các chủng O
8,
O
129
,O
138
,O
141
, O
147
,O
149
và O
157
. Do vậy
những nhóm này thường được phân lập từ phân của lợn tiêu chảy.
E.coli có sẵn trong đường ruột của động vật, nhưng không phải lúc nào
cũng gây bệnh mà chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của con vật giảm sút do chăm
sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, các bệnh kế phát.
Radostits O.M. (1994) [82] cho biết Salmonella là vi khuẩn có vai trò
quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy. Hiện nay các nhà khoa
học đã ghi nhận có khoảng 2.200 serotype Salmonella và được chia ra 67
nhóm huyết thanh dựa vào cấu trúc kháng nguyên O.
9
Theo Niconxki V.V. (1986) [27], Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [51] thì
sự xuất hiện bệnh do Salmonella phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng. Mỗi yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi đều phải coi là
9
, 10
10
) chiếm tỷ lệ
37% đến 45%. ở lợn từ 60 đến 120 ngày tuổi bị tiêu chảy, những mẫu phân có
10
số lượng vi khuẩn /1gram phân ở mức 10
8
; 10
9
chiếm tỷ lệ 27,14% đến
35,71%.
- Do virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng vius cũng là nguyên nhân gây
tiêu chảy ở lợn. Nhiều tác giả đã nghiên cứu và kết luận một số virus như
Rota- virus, TGE, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus có vai trò nhất định
gây hội chứng tiêu chảy ở lợn. Sự xuất hiện của vius đã làm tổn thương niêm
mạc đường tiêu hóa, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể
cấp tính.
Trước tiên là vius TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý
nhiều trong hội chứng tiêu chảy ở lợn. TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột
truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc
trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng. Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở
chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh. Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn con
2 đến 3 ngày tuổi hay mắc nhất và thường có tỷ lệ chết cao. ở lợn, virus nhân
lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng,
chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18]
vius TGE có sự liên hệ đặc biệt với các tế bào màng ruột non. Khi vius xâm
nhập vào tế bào nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 đến 5 tiếng. Sữa
tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy.
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [18]
giun đũa ký sinh trong ruột non của lợn là loài Ascaris suum. Vòng đời giun
đũa lợn phát triển và gây bệnh không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp
nuốt phải trứng gây nhiễm và phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở
12
đường tiêu hóa. Số lượng giun có thể từ vài con tới hàng nghìn con trong một
cơ thể lợn.
Tác giả Nguyễn Kim Thành (1999) [55] cho biết trong đường ruột của
lợn tiêu chảy đã tìm thấy giun đũa ký sinh với lượng không nhỏ.Trong quá
trình ký sinh, trao đổi chất của giun sán còn thải ra các chất cặn bã gây hại cho
cơ thể lợn, làm lợn gày còm, chậm lớn, ảnh hưởng đến năng xuất chăn nuôi.
Theo Phan Địch Lân (1995) [16], lợn nhiễm giun đũa với biểu hiện lâm
sàng là tiêu chảy vì giun đũa tác động bằng cơ giới gây viêm ruột, tiết độc tố
để đầu độc và chiếm đoạt thức ăn của cơ thể lợn, làm cho lợn con gầy yếu,
chậm lớn, suy dinh dưỡng, sinh trưởng phát dục chậm và không đầy đủ, sản
phẩm thịt giảm đến 30%.
2.1.1.3. Nguyên nhân khác
- Do thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ
thể gia súc. Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá
lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác
động đến tình trạng sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ.
ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan
chưa ổn định , hệ thống tiêu hoá, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống
thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của
điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ
thể còn rất yếu.
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [3], các yếu tố nóng, lạnh, mưa,
nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh
trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt. Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm
lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lương óglobulin huyết
14
thanh cũng giảm. Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo
điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh
Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là
nguyên nhân làm lợn con dễ mắc bệnh. Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều
hoà thức ăn đạm và chất béo. Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương,
cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột
tăng độc lực và gây bệnh.
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó
đảm bảo cho quá trình chuyển hoá trong cơ thể diễn ra bình thường. Thiếu
một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường
tiêu hoá.
Laval A. (1997) [77] cho biết, thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin
cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ
làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội
chứng tiêu chảy.
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là
nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở lợn.
- Do stress
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận
chuyển đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến
hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy.(Trích
theo Đoàn Thị Kim Dung, 2005 [3] ).
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [12] hệ thống tiêu hoá (dạ dày,
ruột) của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress. Hiện tượng stress thường gây nên
biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng.
Theo Sử An Ninh và cs (1981) [25] bệnh phân trắng lợn con có liên
quan đến trạng thái stress. Hầu hết lợn con bị bệnh phân trắng có hàm lượng
chuồng công nghiệp (có sàn cao hơn mặt đất 40-70 cm) đã góp phần cải thiện
đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi, hàm lượng các khí độc giảm 14,5-16,0%,
ẩm độ giảm 2,5%, nhiệt độ mùa nóng giảm 1,8
0
C; tốc độ gió tăng 62,22%,
16
tổng số vi khuẩn/m
3
không khí giảm 1,8 triệu so với ở kiểu chuồng K 64, là
các yếu tố làm giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986) [4] chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng
thì tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối.
2.1.2.2. ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn.
Độ ẩm trong chuồng nuôi75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 –
25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 – 15% từ không khí bên ngoài
chuồng đưa vào.
Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia
súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp. Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 –
85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi
> 90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc. Nhiều thí nghiệm cho
thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn,
giảm sức tiêu hoá thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội
chứng tiêu chảy.
Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại. Về mùa nóng, nếu
độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm con
vật nóng thêm. Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể
lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể
lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn. Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết
thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm
độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân
của động vật trưởng thành trong chất chứa ở tá tràng có từ 10
3
đến 10
6
vi
khuẩn /1gram, ở hồi tràng là 10
8
đến 10
10
vi khuẩn/1gram, ở ruột già khoảng
10
11
vi khuẩn /1gram.
Con vật ở trạng thái sinh lý bình thường khi mà hệ vi sinh vật đường
ruột có sự cân bằng. Điều này có được do sự tương tác giữu vi sinh vật, môi
18
trường đường tiêu hóa và giữa các vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật đường
ruột với nhau.
Theo Lê Khắc Thận và cs (1974) [56], Nguyễn Tài Lương (1982) [19]
những vi khuẩn đường ruột giữ chức năng nhất định trong quá trình tiêu hóa
và có vai trò sinh lý quan trọng đối với cơ thể. ở trạng thái sinh lý bình
thường giữa cơ thể và hệ vi sinh vật đường tiêu hoá luôn ở trạng thái cân bằng
và sự cân bằng này là cần thiết cho cơ thể vật chủ.
Theo Vũ Văn Ngữ (1979) [29], vi khuẩn trong đường ruột giữ vai trò là
một “hàng rào vi khuẩn”, ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh đường ruột xâm
nhập và cư trú ở ống tiêu hoá bằng tác động đối kháng giữa các vi khuẩn.
Những biến đổi về thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí
hậu hay trạng thái cơ thể tác động làm cho trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật
trong đường ruột bị phá vỡ, vi sinh vật có hại hoặc gây bệnh sẽ tăng cường
độc lực sinh ra tiêu chảy.
6
vi khuẩn /1gram phân.
Nguyễn Bá Hiên (2001) [9] cho biết trong đường tiêu hoá của gia súc
khoẻ mạnh và gia súc tiêu chảy thường xuyên có mặt 6 loại vi khuẩn hiếu khí
là Salmonella, E.coli, Klebsiella, Staphylococcus sp, Streptococcus sp, Bacillus
subtilis và các loài vi khuẩn yếm khí Clostridium perfringens, Peptococcus sp và
Bacteroides fragilis.
Họ vi khuẩn đường ruột có vai trò nhất định trong quá trình gây ra hội
chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng. Nhiều tác giả, nhiều
công trình nghiên cứu khoa học đưa ra kết luận nguyên nhân gây ra tiêu chảy
có vai trò quan trọng của vi khuẩn E.coli và Salmonella..
2.2.2. Một số giống vi khuẩn đường ruột quan trọng
2.2.2.1. Vi khuẩn E.coli
Vi khuẩn E.coli được Escherich phân lập năm 1885 từ phân trẻ em.
E.coli thường xuất hiện rất sớm ở đường ruột của người và động vật sau khi
đẻ vài giờ và tồn tại đến khi con vật chết.
20
Nguyễn Vĩnh Phước (1976) [36], Nguyễn Như Thanh và cs (1997)[53]
(2001) [54] cho biết E.coli thường có ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ dày hay
ruột non, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể.
Trong đường ruột của động vật, E.coli chiếm khoảng 80% quần thể các
vi khuẩn hiếu khí. Dựa vào tính chất huyết thanh học, E.coli được chia thành
những serotype riêng, trong số này có một số type đóng vai trò quan trọng
trong việc gây bệnh cho người và gia súc.
Theo Nguyễn Thị Nội (1985) [33] khi bệnh phát ra, E.coli có mặt ở
khắp đường tiêu hoá. Trong các phủ tạng cũng có thể phân lập được E.coli,
nhưng thường ở giai đoạn cuối của bệnh.
- Hình thái và tính chất bắt màu
E.coli là trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2-3 x 0,6
µ
ấm 37
0
C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc màu hồng cánh sen, tròn nhỏ, hơi lồi,
không nhầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường.
Trên môi trường thạch máu: Sau khi cấy 24 giờ, bồi dưỡng trong tủ ấm
37
0
C, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám
nhạt, không gây dung huyết (một số chủng gây dung huyết).
- Đặc tính sinh hoá
Phản ứng lên men đường: E.coli lên men sinh hơi các loại đường
glucose, fructose, galactose, xylose, ramnose, manitol, mannit, lactose. Hầu
hết vi khuẩn E.coli đều lên men đường lactose nhanh và sinh hơi. Có lên men
không sinh hơi đường saccarose, glyxerol.
Các phản ứng sinh hoá: Phản ứng sinh indol dương tính (+), phản ứng
VP (+), phản ứng MR (+), phản ứng sinh H
2
S (+), hoàn nguyên Nitrat thành Nitrit.
- Sức đề kháng
Vi khuẩn E.coli bị diệt ở nhiệt độ 55
0
C trong vòng 1 giờ, ở 60
0
C trong
thời gian 15 đến 30 phút. Các chất sát trùng thông thường như axit phenic,
clorua thuỷ ngân, Formol có thể tiêu diệt vi khuẩn sau 5 phút.
- Cấu trúc kháng nguyên
Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, thường gắn liền với đặc
tính độc lực của vi khuẩn, có đủ kháng nguyên O,H,K. Người ta đã xác định
được các loại kháng nguyên của E.coli bằng phương pháp định type huyết
dính, các yếu tố bám dính quan trọng là F4 (K88), F5 (K99), F6 (987p) và F41.
Khả năng xâm nhập: Khả năng xâm nhập của E.coli giúp vi khuẩn
xuyên qua được lớp màng nhầy của ruột xâm nhập vào tế bào biểu mô, đồng
thời sinh sản và phát triển trong lớp tế bào này, tránh được các đại thực bào
của tổ chức hạ niêm mạc.
23
Khả năng dung huyết: E.coli có khả năng sản sinh ra Haemolysin có
tác dụng dung giải hồng cầu giải phóng sắt trong nhân hem và transferin. Khả
năng gây dung huyết là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn E.coli gây
bệnh đường tiết niệu và E.coli phân lập từ cơ quan cảm nhiễm ngoài đường
ruột thường có khả năng gây dung huyết cao hơn E.coli phân lập từ phân
(49% so với 8 -18%).
Smith H.W. (1967) [83] phát hiện ra Hlyplasmid di truyền khả năng
sản sinh Haemolysin gây dung huyết. Các serotype E.coli gây bệnh cho lợn
thường chủ yếu là các serotype kháng nguyên O như O8; O138; O147.
Yếu tố kháng khuẩn (Colicin V): Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự
(1996) [6] trong quá trình cư trú ở đường ruột, vi khuẩn E.coli phát triển, tồn
tại cộng sinh với nhiều loại vi khuẩn đường ruột khác. Để tạo thuận lợi cho
quá trình phát triển của mình và trở thành vi khuẩn chiếm ưu thế trong đường
ruột, vi khuẩn E.coli thường sản sinh ra một loại chất kháng khuẩn có khả
năng ức chế hoặc tiêu diệt các loaị vi khuẩn khác, đó là Colicin V; E.coli sản
sinh Colicin V thông qua plasmid col. Colicin V được coi là một bacteriocin,
có tác dụng độc với các các vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae. Có khoảng
40% các chủng E.coli của người và động vật có đặc tính sản sinh Colicingenic
hay còn gọi là các E.coli col
Brown V. (1981) [68] cho biết khi Colicin được sản sinh từ các chủng
vi khuẩn E.coli cường độc trong cơ thể vật chủ thì lúc này Colicin V được coi
là một yếu tố gây bệnh, Hầu hết các E.coli gây bệnh đều chứa các gen mã hoá
cho Colicin V nằm trên plasmid.
Độc tố: E.coli có khả năng sản sinh ra hai loại độc tố, độc tố chịu nhiệt
dù STb có thể kích thích gây tiêu chảy ở lợn con khi gây bệnh thực nghiệm,
STb gây hiện tượng teo lông nhung ở ruột non của lợn.
Độc tố không chịu nhiệt LT (Labile toxin):
Độc tố này bị vô hoạt ở nhiệt độ 60
0
C/15 phút. Độc tố LT có phân tử
lượng lớn, có hai tiểu phần A và B. Trong đó tiểu phần B gồm 5 tiểu phần
nhỏ khác nhau, tiểu phần này có khả năng gắn với thụ thể của tế bào biểu mô
ruột. Tiểu phần A mới mang hoạt tính sinh học. Độc tố LT gây ỉa chảy theo
cơ chế : Trong vi khuẩn, tiểu phần A và tiểu phần B được tổng hợp trong tế
bào và được dịch chuyển đến gần màng tế bào vi khuẩn, chúng được kết hợp
với nhau để tạo thành độc tố hoàn chỉnh và được tiết ra bên ngoài. Khi tác
động vào tế bào, tiểu phần B sẽ gắn vào Receptor của màng tế bào biểu mô
ruột, tiểu phần A sẽ có chức năng hoạt hoá hệ thống enzym Adenylate
25