GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO VẤN ĐỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY VẬT TƯ VẬN TẢI XI MĂNG VIỆT NAM - Pdf 31

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ
VẬN TẢI XI MĂNG VIỆT NAM
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CÔNG TY VẬT TƯ VẬN TẢI XI MĂNG
VIỆT NAM
1. Khái quát về công ty vật tư vận tải xi măng Việt Nam
Công ty cổ phần từ ngày 24/04/2006 theo giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh số Đầu những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trong khi nền
kinh tế nhà nước dần thay đổi theo hướng thị trưòng, Chính phủ tiến hành
thêm một bước sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, ban hành quyết định
cho thành lập các Tổng CTy Nhà nước trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các Tổng
CTy và liên hiệp xí nghiệp đang hoạt động, đó là các doanh nghiệp Nhà nước
có quy mô lớn kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực kinh tế quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy tích tụ và tập trung, chuyên môn
hoá, hợp tác hoá, nâng cao sức cạnh tranh, làm nòng cốt cho thực hiện đường
lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân.
Tổng công ty xi măng Việt Nam đã được Bộ xây dựng quyết định
thành lập nhằm thống nhất quản lý từ cấp trung ương đến cơ sở, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp quyền chủ động và hoạt động có hiệu quả trong sản
xuất kinh doanh.
Công ty vật tư vận tải xi măng là doanh nghiệp nhà nước hoạch toán kinh
tế độc lập,Trực thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam .Được thành lập theo quyết
định số 842 / BXD -TCCB ngày 03/12/1990 của bộ trưởng bộ xây dựng trên cơ
sở hợp nhất xí nghiệp cung ứng vật tư thiết bị xi măng và Công ty Vận Tải - Bộ
xây dựng . Công ty chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 05/01/1991.
Ngày 12/02/1993 Bộ trưởng bộ xây dựng ban hành quyết định số
022A/BXD-TCLD Thành lập lại công ty Vật tư vận tải xi măng.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
Ngày 22/02/2006 Bộ trưởng đã có quyết định số 280/QD-BXD về việc
chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty vật tư vận tải xi măng thuộc Tổng
công ty xi măng Việt Nam thành Công ty Cổ phần Vật tư vận tải xi măng.

cho sản xuất của Công ty Xi măng Bỉm Sơn và các đơn vị tại địa bàn Chi nhánh.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hoàng Mai: là
đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Thôn Tân Sơn, xã Quỳnh Thiện, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Ngệ An.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ
cho sản xuất của Công ty Xi măng Hoàng Mai.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Phú Thọ: là đơn
vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục
vụ cho sản xuất của các Công ty Xi măng và các đơn vị tại địa bàn Chi nhánh.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hoàng Thạch:
là đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: xã Minh Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ
cho sản xuất của Công ty Xi măng Hoàng Thạch và các đơn vị tại địa bàn Chi
nhánh.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hà Nam: là đơn
vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Thôn La Mát, xã Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ
cho sản xuất của Công ty Xi măng Bút Sơn và các đơn vị tại địa bàn Chi
nhánh theo kế hoạch của Công ty.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hải Phòng: là
đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Số 20 đường Hà Nội, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng.
- Chức năng: Kinh doanh, cungCung ứng các loại vật tư, hàng hóa
chuyên ngành phục vụ cho sản xuất của Công ty Xi măng Hoàng Mai.

vụ cho sản xuất của các Công ty Xi măng.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Phả Lại: là đơn
vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán phụ thuộc.
- Trụ sở: Thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Chức năng: Sản xuất và kinh doanh các mặt hàng từ xỉ phế thải của
Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại phục vụ các ngành kinh tế quốc dân.
Đoàn vận tải: là đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Số 73 đường Hồng Liên, phường Nhân Chính, quận Thanh
Xuân, thành phố Hà Nội.
- Chức năng: Tham mưu cho Giám đốc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực: Quản lý, khai thác kinh doanh vận tải các đoàn
xà lan của Công ty.
Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ cho sản xuất
của Công ty Xi măng Hoàng Mai.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Phú Thọ: là đơn
vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ cho
sản xuất của các Công ty Xi măng và các đơn vị tại địa bàn Chi nhánh.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hoàng Thạch:
là đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: xã Minh Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ
cho sản xuất của Công ty Xi măng Hoàng Thạch và các đơn vị tại địa bàn Chi
nhánh.
Chi nhánh Công ty Cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng tại Hà Nam : là
đơn vị tổ chức kế toán theo hình thức hạch toán báo sổ.
- Trụ sở: Thôn La Mát, xã Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Chức năng: Cung ứng các loại vật tư, hàng hóa chuyên ngành phục vụ

+ Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực có thẩm quyền cao nhất của
Công ty gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp mỗi năm ít nhất 01
lần. ĐHĐCĐ quyết định những vấn đề được Luật pháp và điều lệ Công ty quy
định. Đặc biệt, ĐHĐCĐ sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của
Công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, sẽ bầu hoặc bãi nhiệm
thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của Công ty theo quy định của
Luật Doanh nghiệp và điều lệ Công ty.
+ Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hiện tại HĐQT
của công ty có 05 thành viên.
Danh sách Hội đồng quản trị:
1. Chủ tịch HĐQT - Ông Trần Quang Tuấn
2. Thành viên HĐQT - Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
3. Thành viên HĐQT - Ông Nguyễn Xuân Tùng
4. Thành viên HĐQT - Ông Trần Vũ Quang
5. Thành viên HĐQT - Ông Trịnh Quang Hải
+ Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội
đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm soát mọi mặt hoạt
động quản trị và điều hành sản xuất của Công ty. Hiện Ban kiểm soát Công ty
gồm 03 thành viên. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và
Ban Giám đốc.
Dang sách thành viên Ban Kiểm soát:
1. Trưởng Ban kiểm soát - Ông Phạm Đức Trung
2. Thành viên Ban Kiểm soát - Bà Trịnh Bích Liên
3. Thành viên Ban kiểm soát - Ông Nguyễn Kiên Trung

đề xuất các biện pháp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
. Phòng Kinh doanh Phụ gia:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty xây dựng, tổ chức thực hiện và triển
khai phương án kinh doanh các mặt hàng phụ gia cho sản xuất xi măng và vật
liệu xây dựng.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
. Phòng Kỹ thuật:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty và tổ chức thực hiện công tác quản
lý về chất lượng sản phẩm hàng hóa, quản lý kỹ thuật xe máy, thiết bị máy
móc; quản lý chi nhánh tuyển xỉ Phả Lại; tham mưu quản lý toàn bộ hệ thống
định mức kỹ thuật, quy định giao nhận, hao hụt vật tư, định mức sử dụng
nguyên nhiên vật liệu, vật tư trong Công ty; nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, công
nghệ trong sản xuất kinh doanh.
. Phòng Đầu tư và phát triển:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty và tổ chức thực hiện các công tác
thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản, đầu tư, nghiên cứu phát triển đa dạng hóa
ngành nghề của Công ty.
. Phòng Kinh doanh vận tải:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty về công tác vận tải và kinh doanh
vận tải nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty; tổ chức thực
hiện công tác vận tải và kinh doanh vận tải.
. Phòng Tổ chức lao động:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý
trong Công ty, công tác lao động tiền lương và thực hiện chế độ chính sách
đối vơi người lao động theo quy định của Nhà nước và Công ty.
. Phòng Kế toán thống kê tài chính:
Tham mưu cho Giám đốc Công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốc
Công ty trong việc tổ chức chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán – thống kê – tài
chính trong toàn Công ty theo đúng Luật Kế toán.
Lĩnh vực hoạt động của công ty

động theo quy định của nhà nước và có đãi ngộ thoả đáng cho người lao động.
Thời gian nghỉ phép, nghỉ lễ, Tết, nghỉ ốm thai sản được bảo đảm theo
đúng quy định của Bộ luật lao động.
Điều kiện làm việc: Văn phòng làm việc, nhà xưởng khang trang,
thoáng mát. Đối với lực lượng lao động trực tiếp, Công ty trang bị đầy đủ các
phương tiện bảo hộ lao động, vệ sinh lao động, các nguyên tắc an toàn lao
động được tuân thủ nghiêm ngặt.
+ Chính sách tuyển dụng, đào tạo
Tuyển dụng: mục tiêu tuyển dụng của Công ty là thu hút người lao
động có trình độ, ưu tiên người lao động có kinh nghiệm, đáp ứng được yêu
cầu công việc và có năng lực. Trong thời gian tới sẽ ưu tiên tuyển dụng và có
chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với những cán bộ có kinh nghiệm quản lý
dự án phục vụ cho mục tiêu đầu tư và phát triển Công ty.
Đào tạo: Công ty chú trọng đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng; kỹ năng về quản lý đối với cán bộ quản lý, kỹ năng về chuyên môn,
nghiệp vụ đối với các cán bộ.
- Đào tạo nhân viên mới: sau khi được tuyển dụng, nhân viên mới sẽ
được Công ty tổ chức đào tạo để nắm rõ về nội quy lao động, trách nhiệm
quyền hạn được giao, phương pháp và kỹ năng thực hiện công việc.
- Đào tạo tại nơi làm việc: tuỳ thuộc vào kinh nghiệm, trình độ, năng
lực của người nhân viên Công ty sẽ phân công công việc phù hợp từ đơn giản
đến phức tạp, từ cấp thấp đến cấp cao hơn. Những nhân viên thuộc bộ phận
nào sẽ được phụ trách bộ phận đó trực tiếp hướng dẫn, đào tạo và phân công.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
- Đào tạo không thường xuyên: Công ty khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi về thời gian và kinh phí cho người lao động nâng cao trình độ, kiến
thức để làm việc cho Công ty hiệu quả hơn.
+ Chính sách lương và thưởng
Công ty có chế độ lương riêng và bảo đảm quyền lợi cho người lao
động theo quy định của pháp luật. Nhằm khuyến khích động viên mức độ

Mục đích cao nhất của sản xuất là thoả mãn các yêu cầu tiêu dùng khác
nhau của con người. Nhằm thoả mãn các yêu cầu tiêu dùng của khách hàng,
doanh nghiệp cần tiến hành sản xuất các sản phẩm mà thị trường mong đợi.
Tuy vậy, để sản phẩm tới được tay người tiêu dùng thì mỗi doanh nghiệp
phải tiến hành một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau tạo thành một
chu kỳ SXKD, từ việc doanh nghiệp phải bỏ tiền mua tư liệu sản xuất, trả
lương cho người lao động, tới việc tổ chức quá trình sản xuất, sản phẩm và
sau cùng là đem sản phẩm ra tiêu thụ, thu tiền hàng về, và chu kỳ này không
chỉ diễn ra một lần mà được lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thành một vòng tuần
hoàn và chu chuyển tư bản.
Chu kỳ SXKD của doanh nghiệp có thể được mô tả qua mô hình sau:
T H .... SX ... H′ T′
Ta có thể thấy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là khâu cuối cùng của chu
kỳ SXKD, thực hiện sự chuyển hoá từ hàng sang tiền, hoàn thành một chu kỳ
vận động của tư bản, là khâu quan trọng nhất của một chu kỳ SXKD.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
TLL§
SL§
Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là quá trình cac doanh nghiệp xuất và giao
sản phẩm, hàng hoá cho các đơn vị mua và thu được một khoản tiền, hoặc được
cac đơn vị mua chấp nhận thanh toán về số sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ đó.
Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá chỉ co thể được xem là hoàn thành khi
thực hiện được cả hai hành vi:
- Doanh nghiệp xuất giao hàng cho đơn vị mua.
- Đơn vị mua thanh toán tiền hàng hoặc có giấy chấp nhận thanh toán
tiền hàng.
Cả hai vấn đề này đều giữ một vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ
sản phẩm hàng hoá. Nếu hành vi doanh nghiệp xuất giao hàng cho cac đơn vị
mua là điều kiện đầu tiên, quan trọng thì hành vi đơn vị mua thanh toán tiền
hàng hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng hoặc có giấy chấp nhận thanh toan


Một số trường hợp khác:
+ Khách hàng ứng trước tiền mua hàng: Khi doanh nghiệp xuc tiến
việc giao hàng thì thời điểm đó được coi là việc tiêu thụ sản phẩm đó hoàn
thành. Đây là trường hợp doanh nghiệp cú lợi do được chủ động trong khâu
thanh toán cũng như khâu tiêu thụ. Tuy vậy, để người mua ứng trước tiền
hàng thì sản phẩm của doanh nghiệp cần phải thực sự có uy tín, và doanh
nghiệp phải đảm bảo tôn trọng Hợp đồng tiêu thụ đã ký kết với khỏch hàng.
+ Gửi hàng đi bán: Doanh nghiệp gửi hàng đi bán, khi nào doanh
nghiệp thu hồi được tiền hàng hoặc hết hạn thanh toán doanh nghiệp chưa
được thanh toán nhưng đã có giấy chấp nhận thanh toán thì hàng hoá mà
doanh nghiệp gửi đi mới được xem là đã tiêu thụ. Đây là hình thức tiêu thụ
bất lợi đối với doanh nghiệp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh
toán. Khi doanh nghiệp áp dụng hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
chức tốt công tác thanh toán và có sự dam sat chặt chẽ tình hình thực hiện
thanh toán tiền hàng của khách hàng đối với doanh nghiệp.
+ Trường hợp khách hàng và doanh nghiệp thực hiện thanh toán theo
kế hoạch: Khi khách hàng nhận được hàng thì hàng được xác định là đã tiêu
thụ. Hình thức này có thủ tục tương đối nhanh gọn, khối lượng không bị giới
hạn, áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ mua bán lâu dài, thường
xuyên, hợp đồng tiêu thụ được ký kết chặt chẽ.
Việc xác định thời điểm tiêu thụ một cách đúng đắn là rất quan trọng.
Nó giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng thực trạng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá
của mình, từ đó giúp người quản lý điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kế hoạch
tiêu thụ. Hơn nữa, việc xác định đúng thời điểm tiêu thụ làm cho doanh
nghiệp đánh giá được tình hình sử dụng vật tư, tiền vốn trong SXKD, đánh
giá được kết quả sản xuất về sản lượng tiêu thụ, DTTT và nghĩa vụ nộp thuế
của doanh nghiệp với Nhà nước.
Với nền kinh tế tập trung bao cấp, doanh nghiệp tiến hành SXKD theo

được Nhà nước đồng ý.
+ Giá trị các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đem biếu tặng hoặc chi tiêu
nội bộ như việc xuất dùng xi măng để xây dựng, sửa chữa ở xí nghiệp sản
xuất xi măng; xuất vải thành phẩm để may bảo hộ lao động ở xí nghiệp dệt...
Những khoản giảm trừ doanh thu khi tính DTTT sản phẩm gồm có:
 Giảm giá hàng bán: phản ánh các khoản giảm trừ do việc chấp
thuận giảm giá ngoài hoá đơn (nghĩa là sau khi đã có hoá đơn bán hàng), đó
chính là số tiền mà doanh nghiệp chấp thuận giảm giá cho khách hàng vì
những nguyên nhân như: hàng kém chất lượng, hàng không đúng quy cách..
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
 Trị giá hàng bán bị trả lại: phản ánh doanh thu của lượng hàng
hoá, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại vì không phù hợp với yêu cầu
của khách hàng, hay vì vi phạm HĐKT, hàng kém chất lượng, không đúng
chủng loại, quy cách.
 Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu phải nộp.
DTTT sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp,
quy mô của DTTT ảnh hưởng tới tình hình tài chính của các doanh nghiệp, đó
là biểu hiện của kết quả tiêu thụ sản phẩm, phản ánh quy mô tái sản xuất.
Cùng với đó, thông qua DTTT sản phẩm để thấy được trình độ tổ chức
SXKD, tổ chức thanh toán của các doanh nghiệp. Vì thế, việc thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm, tăng DTTT sản phẩm là một mục tiêu quan trọng mà tất cả
doanh nghiệp hướng tới.
2.4.3. Ý nghiã của tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Với nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ của một doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp sản xuất nói riêng không chỉ là nhiệm vụ sản xuất mà còn là
việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cần
phải đảm bảo về vốn và tự chủ trong SXKD. Với điều kiện đó, việc thực hiện
tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm, để có được DTTT sản phẩm có ý nghĩa là một
vấn đề rất quan trọng, không chỉ là đối với bản thân doanh nghiệp mà nó còn
có ý nghĩa to lớn đối với toàn xã hội.

được quan hệ cân đối giữa cung và cầu về sản phẩm, hàng hoá, giữa tiền và
hàng. Hơn nữa qua tình hình tiêu thụ sẽ đánh giá được nhu cầu và trình độ
phát triển của xã hội, dự đoán được nhu cầu trong tương lai từ đó có chính
sách phù hợp đảm bảo sự cân đối trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Vấn đề quan trọng là thực hiện được tiêu thụ sản phẩm
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
sẽ tạo ra doanh thu và là điều kiện để mỗi doanh nghiệp có được lợi nhuận,
đây chính là điều kiện tạo nên sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
III . KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM QUA
Công ty triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch SXKD năm 2008 trong
điều kiện gia cả thị trường có nhiều biến động lớn : Chín tháng đầu năm giá
dầu thế giới tăng đến mức cao kỷ lục, trên 147 USD/thùng đã đẩy giá xăng dầu
trong nước tăng mạnh ( quý III/2008 giá dầu tăng 156% so với cuối năm 2007)
đã tác động đến giá cũng như nhu cầu vật tư và vận tải tăng liên tục ảnh hưởng
đến tiến độ cung ứng than, phụ gia, dịch vụ vận tải và triển khai thực hiện các
dự án đầu tư của công ty; quý IV/2008, cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới
lan rộng đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trong nước và giai đoạn thiểu
phát làm giảm sức cầu trên nhiều lĩnh vực, trong đó nhu cầu về xi măng giảm
mạnh, sản lượng tiêu thụ chậm ảnh hưởng đến tiến độ thanh toán tiền mua than
của các công ty xi măng đối với công ty nên công ty luôn bị một áp lực lớn về
thanh toán tiền mua than(05 ngày / lần) đối với tập đoàn than.
Trong tình hình khó khăn trên, năm 2008 công ty vẫn có những thuận
lợi cơ bản : kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng ở mức 6,23%, sản lượng clinkẻ
của Ngành tăng 6,7% nên nhu cầu về than cho sản xuất của các công ty xi
măng luôn ổn định ở mức cao là một thuận lợi lớn đối với công ty về việc
làm, thu nhập và là cơ sở để khai thác nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh ( nhu cầu than tăng 10% so năm 2007 ). Đồng thời, công ty tiếp tục
nhận được sự quan tâm và định hướng của các đồng chí lãnh đão, phòng ban
Tổng công ty CN Xi măng Việt Nam, sự tín nhiệm và tin cậy của các công ty
xi măng thành viên cùng với sự sát sao trong chỉ đạo của HĐQT, sự điều hành

nên đến quý III/2008 dây chuyền sấy mới đưa vào sản xuất nhưng vẫn chưa
ổn định.Đang tiến hành quyết toán và thanh lý hợp đồng.
-Dự án nâng cao năng lực vận chuyển của Đoàn Vận tải: Do giá sắt
thép biến động tăng đột biến cộng với sự thiếu năng lực của nhà thầu dẫn đến
tiến độ thực hiện dự án bị chậm đưa vào khai thác.Đã nghiệm thu bàn giao
đưa vào khai thác 03 đoàn sà lan, đang tiếp tục quyết toán, thanh lý hợp đồng.
Tổng giá trị thực hiện năm 2008 là 7.512.000.000 đồng, đạt 31%KH.
3.2. Đánh giá tình hình sản xuất trong những năm qua
3.2.1 Những mặt làm được
Trước sự độc quyền của Tập Đoàn Than cùng với sự biến động liên tục
của giá dầu đã làm cho cước phí và nhu cầu vân tải tăng mạnh đã tác động rất
lớn đến quá trình cung ứng than,phụ gia và thực hiện dịch vụ vận tải đối với
công ty trong năm 2008.Trước những thách thức này,công ty dã tân dụng tối
đa những thuận lợi,khắc phục khó khăn đề ra nhiều biện pháp điều hành linh
hoạt và đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch SXKD năm 2008,thực
hiện tốt kế hoạch ngân sách dược phê duyệt.
-Về cung ứng than: Bám sát tập đoàn than để đôn đốc việc thực hiện kế
hoạch giao than từng tháng; khai thác kịp thời năng lực phương tiện vận tải
sông và nhất là vận tải biển để đáp ứng đủ nhu cầu than cho sản xuất của các
công ty xi măng trong năm 2008: thực hiện cung ứng 1.376.600 tấn,đạt
99%KH (theo rà soát của đoàn kiểm tra liên ngành BCT nhu cầu than
năm2008 của nghành là 1.350.000 tấn,đạt 102%) và tăng 12% so với năm
2007,bước đầu đã có lượng than dự trữ tối thiểu. Công tác quản lý,giám sát số
lượng và chất lượng than mua tại đầu Quảng Ninh và quá trình vận tải về các
công ty xi măng đã từng bước được chấn chỉnh nhằm đảm bảo nguồn than
cung ứng cho sản xuất xi măng luôn ôn định.Đã thoả mãn những đề nghị của
các công ty xi măng về phương thức giao nhận, lấy mẫu than đảm bảo tính
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B
khacks quan và lợi ích giữa các bên,khẳng định chất lượng cung ứng than của
công ty.Chủ động đàm phán với các đơn vị vận tải cùng chia sẻ khó khăn khi

lượng tại đầu cuối (các công ty xi măng) sai lệch so với phương thức tại đầu
Quảng Ninh do Tập đoàn Than quy định cũng là một khó khăn không nhỏ.
-Sự chủ động triển khai thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị còn yếu,
không thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị. Một bộ
phận cán bộ nhân viên thực thi nhiệm vụ được giao không làm hết trách
nhiệm phó mặc cho phương tiện và khách hàng nên đã làm ảnh hưởng đến
thương hiệu công ty và giảm hiệu quả kinh doanh.Đội ngũ lao động có chất
lượng không nhiều nên bất cập trong việc bố trí thực hiện, khai thác các dự án
dầu tư.
Nguyễn Ngọc Thắng Công nghiệp 47B

Trích đoạn Chiến lược phỏt triển của cụng ty trong những năm tớ Đặc điểm về nguồn hàng của Cụng ty CÁC GIẢI PHÁP: DANH MỤC TAI LIỆU THAM KHẢO
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status