ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LƢƠNG THỊ QUẾ ANH
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LƢƠNG THỊ QUẾ ANH
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước về quản lý và sử dụng ODA ...................... 26
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam............................................................... 29
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................31
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
ODA TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2008 – 2013.................................................................................32
2.1. Tổng quan quá trình hình thành và phát triển ODA ở Việt Nam ............ 32
2.1.1. Thời kỳ trước tháng 10/1993........................................................................... 32
2.1.2. Thời kỳ từ tháng 10/1993 đến nay.................................................................. 33
2.1.3. Khái quát tình hình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam .................... 35
2.2. Tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA cho GD&ĐT ở Việt Nam
giai đoạn 2008-2013 ................................................................................................... 48
2.3. Đánh giá chung quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực
GD&ĐT ....................................................................................................................... 52
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ......................................................................................... 59
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM .............................................60
3.1. Bối cảnh, thời cơ và thách thức đối với việc quản lý và sử dụng nguồn
vốn ODA lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong thời gian tới ................................ 60
3.1.1. Bối cảnh ............................................................................................................. 60
3.1.2. Thời cơ và thách thức ...................................................................................... 61
3.2. Những thay đổi trong quan hệ hợp tác phát triển phù hợp với bối cảnh
mới của Việt Nam ...................................................................................................... 62
3.3. Tầm nhìn đến năm 2020 và những năm tiếp theo ....................................... 64
3.4. Định hƣớng xây dựng các chính sách quản lý và sử dụng nguồn vốn
2
DAC
Ủy ban Hỗ trợ phát triển
3
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
4
IMF
Quỹ Tiền tệ quốc tế
5
KT-XH
Kinh tế-xã hội
6
NHNN
Ngân hàng nhà nước
i
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
TT
Tên bảng
Nội dung
1
Bảng 2.1
2
Biểu đồ 2.1
3
Biểu đồ 2.2 ODA ký kết theo ngành giai đoạn 2008-2013
Cơ cấu trong ngành giáo dục và đào tạo thời kỳ
2008-2013
Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn
2008-2013
ii
ODA của Việt Nam trong thời gian qua.
- Tác giả Nguyễn Thị Hương (2005), Một vài suy nghĩ về đầu tư cho
giáo dục, Tạp chí Giáo dục.
- Bộ Kế hoạch và đầu tư (2010), Giáo trình đào tạo quản lý dự án ODA.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Báo cáo tình hình thu hút và sử dụng
ODA trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo từ 1993-2013.
- Đặc san ODA (2008), 15 năm hỗ trợ phát triển chính thức.
- Tổng cục Dạy nghề (2013), Báo cáo ODA trong thời gian qua.
3
- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2005), Quản lý nhà nước về giáo dục
– lý luận và thực tiễn.
- Tác giả Phạm Thị Túy (2005), Nâng cao khả năng thu hút, giải ngân và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA, Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới.
Nhìn chung, các công trình trong nước và báo cáo đã tập trung làm rõ vai
trò, đặc điểm của nguồn vốn ODA trong nền kinh tế cũng như đối với một
ngành; mô tả, đánh giá tình hình thực hiện và sử dụng nguồn vốn ODA, một
số công trình đã đề cập đến quản lý vốn ODA nhưng dưới giác độ quản lý sử dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Dựa vào các tiêu chí, nội dung, những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA, tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá
những thành công và hạn chế của quá trình quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA cho lĩnh vực GD&ĐT, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế của tình
hình. Trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm quản lý và sử
dụng nguồn vốn ODA cho lĩnh vực GD&ĐT trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những
vấn đề sau:
sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: phương pháp logic-lịch sử,
phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh…Cụ thể:
Phương pháp lô gic, tổng hợp được sử dụng để xây dựng khung khổ lý
thuyết về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GD&ĐT. Phương
pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và của một số
địa phương về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GD&ĐT. Sử
dụng kết hợp phương pháp lô gic và phương pháp lịch sử được thể hiện tập
trung nhất trong cấu trúc toàn bộ luận văn, đặc biệt trong nghiên cứu chương 1.
Để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
trong lĩnh vực GD&ĐT trong chương 2, luận văn sử dụng phương pháp thống
kê các số liệu, tài liệu, tình hình thực tế tại cơ quan sử dụng nguồn vốn ODA
như Bộ GD&ĐT, Tổng cục Dạy nghề, một số tỉnh thụ hưởng dự án. Phương
5
pháp phân tích-tổng hợp, so sánh được sử dụng trong việc đánh giá những
thành công, những hạn chế và nguyên nhân của quá trình quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GD&ĐT.
Ở chương 3, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp, phương
pháp logic được sử dụng chủ yếu nhằm làm rõ cơ hội và thách thức đối với
việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GD&ĐT, cũng như
đưa ra các giải pháp nhằm nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với nguồn
vốn ODA đầu tư cho GD&ĐT ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Đề tài góp phần hệ thống hóa có chọn lọc cơ sở lý luận của quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GD&ĐT, đúc kết một số kinh
nghiệm thế giới trong lĩnh vực này để áp dụng cho Việt Nam.
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong
lĩnh vực GD&ĐT ở nước ta.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước và sử dụng đối
Trong khái niệm trên, ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn
lại, khoản vốn vay ưu đãi do cơ quan chính thức của Chính phủ các nước và
các Tổ chức quốc tế cung cấp cho các nước nghèo và nước đang phát triển
phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của các nước này. Từ “chính
thức” được sử dụng trong khái niệm này để phân biệt với các khoản tài trợ
cho các nước nghèo và đang phát triển của các tổ chức tư nhân như các công
ty, doanh nghiệp. Cụm từ “vì mục tiêu phát triển” để phân biệt ODA với các
khoản tài trợ có tính chất nhất thời để giúp khắc phục các thảm họa thiên tai,
1
Nguồn: Atlas nhỏ về Phát triển toàn cầu của WB
7
dịch bệnh, môi trường hoặc các khoản viện trợ nhân đạo, viện trợ quân sự.
Các khoản viện trợ này không được tính là ODA.
Ở Việt Nam, quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ban hành
kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 ghi rõ: “Hỗ trợ phát
triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt
động hợp tác và phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là: (i) Chính phủ nước ngoài, (ii) các
tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, (iii) và các tổ chức tài trợ song
phương”[1].
“Các hình thức cung cấp ODA bao gồm (a) ODA không hoàn lại, (b)
ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít
nhất 25%”[1].
Hiện nay, Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 về quản lý và
sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi
(IFAD), Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Đầu tư phát triển của Liên hợp
quốc (UNCDF), Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, lao và sốt rét, Trung tâm
Thương mại quốc tế (ITC), Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của
Liên hợp quốc (UNODC).
* Các nhà tài trợ khác cung cấp ODA cho Nhà nước và Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Với tên gọi nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, ODA về nguyên tắc
chỉ tập trung cho việc khôi phục và thúc đẩy sự phát triển hạ tầng KT - XH
của một quốc gia như xây dựng đường sá, giao thông công cộng, các công
trình thuỷ lợi, bệnh viện, trường học, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường,
nông nghiệp và phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường,... Những dự án được
9
đầu tư vốn ODA thường là các dự án không hoặc ít có khả năng sinh lời cao,
ít có khả năng thu hút được nguồn đầu tư tư nhân. Vì vậy, nguồn lực này rất
có ý nghĩa để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án phục vụ các lợi ích
công cộng.
b. Đặc điểm nguồn vốn ODA
ODA là một nguồn vốn ƣu đãi
ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi hơn cả vì bao giờ cũng có
phần cho không (yếu tố không hoàn lại chiếm tối thiểu 25% tổng số vốn). Còn
phần cho vay, chủ yếu là cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản tín
dụng thông thường rất nhiều, thậm chí không có lãi suất. Lãi suất dao động từ
0,5% đến 5%/năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là
trên 7%/năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên). Ví dụ lãi
suất của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) là 1%/năm; của WB là
0,75%/năm; Nhật Bản thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá (năm
1997-2000) lãi suất là 1,2%/năm; năm 2013 lãi suất là 1,4%/năm.
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài thường từ 20-50
Xác định viện trợ đúng lúc rất quan trọng để giúp các nước cải cách
chính sách và thể chế của mình. Cải cách thể chế và chính sách kinh tế ở
những nước đang phát triển là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt cả về lượng và
chất. Khi các nước cải cách chính sách của mình, viện trợ đúng lúc có thể
giúp tăng cường lợi ích của cải cách và duy trì sự ủng hộ của công chức. Viện
trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết cho việc cải cách chính
sách và thể chế như hỗ trợ việc thử nghiệm, thực hiện thí điểm, đào tạo và
phổ biến các bài học kinh nghiệm. Các nhà tài trợ và các tổ chức tài trợ đã
tiến hành nhiều dự án khác nhau ở nhiều nước khác nhau với thể chế và cấu
trúc khác nhau và họ đã đưa ra những dẫn chứng và bài học so sánh mà những
nước đơn lẻ không thể có được. Việc phân tích chính sách và chia sẻ kinh
11
nghiệm của chuyên gia là những công việc hữu ích để hoạch định ra các chính
sách kinh tế mới thích hợp hơn.
Qua hoạt động viện trợ, các nước tài trợ có điều kiện mở rộng thị trường của
mình để tiêu thụ sản phẩm và đầu tư. Việc các nước tài trợ cung cấp ODA thực chất
là sự hỗ trợ của Chính phủ cho các công ty trong nước xuất khẩu trang thiết bị, hàng
hoá, tránh thuế chuyển giao công nghệ, chuyên gia…
Nguồn vốn ODA thường được đầu tư cải thiện CSHT KT - XH như
xây dựng đường giao thông, phát triển năng lượng… là sự chuẩn bị trước cho
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tạo điều kiện sử dụng vốn FDI đầu
tư vào một cách hiệu quả. Viện trợ có thể ảnh hưởng đến con người theo
nhiều cách khác nhau nhưng mục tiêu chính là giảm đói nghèo. Quá trình
giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển có quan hệ chặt chẽ với tăng thu
nhập đầu người. Một nghiên cứu về tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở 67
nước cho thấy thu nhập đầu người theo hộ gia đình tăng thì đói nghèo giảm
xuống và các nước có thu nhập giảm thì đói nghèo lại tồi tệ hơn. Vì vậy, viện
trợ tác động đến nâng cao mức sống. Điều đó có nghĩa là thu nhập bình quân
đãi, theo đó các khoản hỗ trợ được chuyển trực tiếp vào ngân sách của Nhà
nước; được quản lý, sử dụng theo các quy định, thủ tục ngân sách của Việt
Nam và phù hợp với nội dung đã thỏa thuận với nhà tài trợ.
- Viện trợ phi dự án: là phương thức cung cấp vốn ODA không theo
các dự án cụ thể. Viện trợ phi dự án được cung cấp dưới dạng tiền, hiện vật,
viện trợ mua sắm hàng hóa, chuyên gia.
d. Căn cứ theo điều kiện
- ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không
bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích.
- ODA có ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích.
Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá,
trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công
13
ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc
các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Có nghĩa là chỉ được sử dụng cho
một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể.
- ODA có ràng buộc một phần: bên tài trợ chỉ định một số điều kiện,
lĩnh vực đầu tư và phần còn lại là quyền của bên tiếp nhận.
đ. Căn cứ theo nhà tài trợ
- ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung
cấp cho Chính phủ nước tiếp nhận.
- ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung
cấp cho Chính phủ nước tiếp nhận.
1.1.3. Vai trò của ODA và các nguồn vốn đầu tư cho GD&ĐT Việt Nam
a. Vai trò của ODA đối với ngành GD&ĐT
Nhận thức sâu sắc về vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển đất
này không còn nữa.
Tuy nhiên, trong thời gian này, nguồn vốn ODA cho giáo dục từ các
nước khác, các cơ quan đại diện của Liên hợp quốc và các tổ chức tài chính
quốc tế đã tăng đáng kể. Trong những năm qua, đã có nhiều dự án ODA hỗ
trợ cải tạo cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện dại cho các tổ chức giáo dục ở
Việt Nam.
Như vậy, có thể nói nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng trong việc
giải quyết các khó khăn về vốn đầu tư cho GD&ĐT trong giai đoạn vừa qua
cũng như trong giai đoạn sắp tới.
- Góp phần nâng cao trình độ giáo viên và năng lực quản lý ngành
GD&ĐT. Các dự án ODA cho giáo dục của Việt Nam đã cung cấp nhiều học
bổng cho công tác giáo dục và nghiên cứu. Nhờ vậy, năng lực của đội ngũ cán
bộ quản lý trong ngành giáo dục được nâng cao thông qua các hoạt động đào
tạo, hội thảo, học tập kinh nghiệm. Một trong những dự án khá thành công là
dự án Đào tạo cán bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam do Pháp tài trợ
15
với số vốn 1,57 triệu USD, thời gian thực hiện từ năm 2002 đến năm 2004.
Bên cạnh đó, nguồn vốn này cũng được sử dụng để tổ chức một số chương
trình đào tạo trong nước cho giáo viên các cấp với sự tham gia của các chuyên
gia giàu kinh nghiệm của nước ngoài.
- Góp phần hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống
GD&ĐT ở các cấp. Có thể kể đến dự án đầu tiên về giáo dục tiểu học do
Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ với tổng kinh phí 67 triệu USD được thực
hiện từ năm 1994 đến năm 2002. Mục tiêu của dự án là cải tạo các trường tiểu
học, cung cấp các thiết bị dạy học và tăng cường năng lực quản lý. Dự án đã
giúp thay thế hoặc xây mới 7.000 phòng học và cung cấp sách giáo khoa cũng như
vật tư phục vụ công tác giảng dạy tại các trường học và các trường sư phạm.
b. Các nguồn vốn đầu tư cho GD&ĐT tại Việt Nam
phân bổ ngân sách theo những định mức khác nhau, có phân biệt theo ngành nghề
đào tạo.
Với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, Chính phủ đã có
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các
hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, khẳng định sự nghiệp
GD&ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dâ; mọi cá nhân, tổ chức đều phải
có trách nhiệm quan tâm đóng góp sức lực, trí tuệ, tiền của để phát triển sự
nghiệp GD&ĐT. Nguồn vốn ngoài NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc
mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả sản phẩm của
GD&ĐT trong nền KT-XH.
Bên cạnh nguồn vốn NSNN thì nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện
cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của cho giáo dục.
Các khoản đầu tư, đóng góp, tài trợ của doanh nghiệp cho giáo dục và các chi
phí của doanh nghiệp để mở trường, lớp đào tạo tại doanh nghiệp, phối hợp
17
đào tạo với cơ sở giáo dục, cử người đi đào tạo, tiếp thu công nghệ mới phục
vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp là các khoản chi phí hợp lý được trừ khi
tính thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Đầu tư từ nguồn vay và viện trợ nước ngoài
Ngay từ khi bắt đầu nối lại quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế
như Quỹ Tiền tệ quốc tế, WB, ADB cũng như các quan hệ song phương khác
vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương
sử dụng đáng kể vốn ODA từ các tổ chức quốc tế, các quốc gia phát triển hơn
cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà.
Theo Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ,
một trong những lĩnh vực được ưu tiên sử dụng nguồn vốn ODA là phát triển
kết cấu hạ tầng xã hội, trong đó có GD&ĐT. Như vậy, Nhà nước đã chủ
trương thu hút nguồn viện trợ nước ngoài, kể cả vốn vay để đầu tư cho phát