Tìm hiểu việc thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh phú thọ - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

HÀ THỊ ANH ĐÀO

TÌM HIỂU VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học
Th.S Hoàng Thanh Sơn

HÀ NỘI, 2012


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận cũng như học tập tại trường
em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong
khoa Giáo dục Chính trị, nhất là của các thầy cô trong tổ chủ nghĩa xã hội
khoa học, cùng với sự động viên khích lệ của các bạn sinh viên. Em xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo – Thạc
sĩ Hoàng Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian
qua để em có thể hoàn thành khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời
gian và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không tránh khỏi
những thiếu sót khi hoàn thành bài khóa luận. Vì vậy em rất mong được sự
đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em được hoàn
thiện hơn.

2.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú
Thọ................................................................................................................... 54
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIÁI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GIẢI
QUYẾT CÓ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ ..................................................................... 59
3.1. Mục tiêu, phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về tôn giáo trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ ....................................................................................... 59
3.2. Một số giải pháp tăng cường quản lý bằng pháp luật với các tôn giáo trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ ....................................................................................... 61


KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 76

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1. HĐND: Hội đồng Nhân dân
2. MTTQ: Mặt trận Tổ quốc
3. UBMTTQ: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
4. UBND: Uỷ ban Nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành, phát triển
cùng với sự tiến hóa của loài người. Trong quá trình hình thành, phát triển,
tôn giáo ảnh hưởng trên nhiều phương diện của đời sống xã hội như: chính trị,
kinh tế, văn hóa, đạo đức, phong tục, lối sống, giao tiếp… của mỗi quốc gia dân tộc.
Trong những năm gần đây, đời sống tôn giáo trên thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp. Nằm trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, Việt Nam là
một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Với bề dày

mong muốn đóng góp làm sáng tỏ hơn những quan điểm, chủ trương, chính
sách tôn giáo ở Việt Nam nói chung cũng như việc cụ thể hóa ở tỉnh Phú Thọ
nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Tôn giáo nói chung, chính sách tôn giáo nói riêng là một đề tài có phạm
vi nghiên cứu rộng. Từ xa xưa đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm đến vấn đề này. Hiện nay người ta còn đặt sự quan tâm nhiều hơn do tình
hình tôn giáo, tín ngưỡng đang có những diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng lớn
đến sự ổn định của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu có: “Lý
luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của GS. Đặng Nghiêm Vạn
(2003, Nxb Chính trị quốc gia); “Một số hiểu biết về tôn giáo. Tôn giáo ở Việt
Nam” của Nguyễn Văn Trung (1993, Nxb Quân đội nhân dân) …
Đây là những công trình đã đi sâu nghiên cứu sự ra đời, phát triển của
tôn giáo nói chung, tôn giáo ở Việt Nam nói riêng và vai trò của tôn giáo đối
với đời sống Việt Nam qua các thời kỳ kịch sử.
Đặc biệt nghiên cứu về tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ có: “Hôn nhân và nếp
sống đạo trong gia đình người Việt Công giáo ở giáo xứ Nỗ Lực, tỉnh Phú
Thọ” của NCS. Lê Đức Hạnh. Tác giả chủ yếu nghiên cứu chuyên sâu về hôn
2


nhân và nếp sống đạo trong gia đình người Việt Công giáo ở giáo họ Nỗ Lực,
tỉnh Phú Thọ.
Các công trình nghiên cứu và các bài viết của các tác giả nêu trên đã đề
cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về việc thực hiện
chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Phú Thọ.
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi
trước, em muốn tìm hiểu quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về
giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nói chung cũng như việc cụ thể hóa ở

- Phương pháp logic – lịch sử.
- Phương pháp xã hội học.
- Phương pháp khảo sát thực tế và liên hệ thực tế.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta, từ đó xem xét giải quyết thực tiễn của Việt Nam nói chung và tỉnh Phú
Thọ nói riêng.
Là tài liệu tham khảo cho những người giảng dạy, nghiên cứu các vấn
đề có liên quan đến tôn giáo.
Giúp người viết bước đầu làm quen với việc đọc và tìm hiểu tài liệu, rèn
luyện tư duy khoa học, nâng cao tính tích cực nhận thức khoa học về tôn giáo, có
cái nhìn khách quan về vấn vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 3 chương và 7 tiết.

4


NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO HIỆN NAY
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo
1.1.1. Bản chất của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tín ngưỡng tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội phản ánh một cách hoang tưởng, hư ảo hiện thực khách quan. Qua
hình thức phản ánh tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội
đều trở nên thần bí. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ănghen đã làm rõ
bản chất tôn giáo trên cơ sở xem xét tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội:

Khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếu
đuối trước sức mạnh của tự nhiên con người lại cảm thấy bất lực trước những
sức mạnh tự phát hoặc của thế lực nào đó của xã hội. Không giải thích được
sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột, tội ác…và cùng với nhứng yếu tố
ngẫu nhiên may rủi, con người thường hướng niềm tin ảo tưởng vào “thế giới
bên kia” dưới hình thức các tôn giáo.
Như vậy sự yếu kém của trình độ phát triển lực lượng sản xuất, sự bần
cùng về kinh tế, áp bức về chính trị, thất vọng bất lực trước những bất công
của xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo.
* Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Các nhà duy vật trước Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thức
của tôn giáo. Còn các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, lại quan tâm
trước hết đến nguồn gốc kinh tế xã hội của tôn giáo. Tuy nhiên, chủ nghĩa
Mác – Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm
sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó.
6


Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên,
xã hội và bản thân mình là có giới hạn. Khoa học có nhiệm vụ từng bước
khám phá những điều chưa biết. Song khoảng cách giữa cái biết và chưa biết
luôn luôn tồn tại; điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì dễ bị tôn giáo
thay thế.
Sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm nhận
thức của con người. Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn
thế giới khách quan, khái quát hóa thành các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Nhưng càng khái quát hóa, trừu tượng hóa đến mức hư ảo thì sự vật hiện
tượng được con người nhận thức càng có khả năng xa rời hiện thực và dễ
phản ánh sai lệch hiện thực. Sự nhận thức bị tuyệt đối hóa, cường điệu hóa
của chủ thể nhận thức sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực,

+ Tính chính trị của tôn giáo: Trong xã hội không có giai cấp, tôn giáo
chưa mang tính chất chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện
khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt về lợi ích, các giai cấp thống
trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình.
+ Tính quần chúng của tôn giáo thể hiện ở chỗ: các phong trào tôn giáo
trong lịch sử thường là các phong trào quần chúng, thể hiện ước mơ nguyện
vọng và ý chí của quần chúng
- Chức năng của tôn giáo bao gồm các chức năng
+ Chức năng đền bù hư ảo
+ Chức năng thế giới quan
+ Chức năng điều chỉnh hành vi
+ Chức năng liên kết
+ Chức năng giao tiếp
- Vai trò của tôn giáo
+ Vai trò tiêu cực
8


Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, tôn giáo chỉ là “hạnh phúc hư ảo” của
nhân dân, là “vòng hào quang thần thánh” trong cái biển khổ của nhân dân, là
những “bông hoa tưởng tượng” trên xiềng xích của con người, là “mặt trời ảo
tưởng” xoay xung quanh con người. Do đó tôn giáo thường hạn chế sự phát
triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người có thái độ nhẫn nhục,
không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật nơi
trần thế, mà hy vọng hạnh phúc ở cuộc sống sau khi chết.
Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị lợi dụng
để thực hiện ý đồ chính trị.
Vì cơ sở nhận thức của tôn giáo là chủ nghĩa duy tâm, thần bí, nên bản
thân tôn giáo chứa đựng những yếu tố mê tín. Mê tín đến mức độ cuồng tín,
mê muội, mất lý trí, suy đoán tùy tiện vào những điều quái dị thì trở thành mê

nên giá trị truyền thống vô cùng quý báu, trong đó yêu nước là giá trị hàng
đầu. Trong lịch sử dân tộc đã từng có sự đồng điệu giữa đức tin tôn giáo và
lòng yêu nước, Trần Nhân Tông vừa là ông vua yêu nước có công lãnh đạo
quân dân ta hai lần đánh thắng quân Nguyên, vừa là nhà thiền học tiêu biểu
của Thiền phái Trúc Lâm. Sự đồng điệu ấy đã góp phần to lớn tạo nên sức
mạnh đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Kế thừa truyền thống ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: lòng yêu
nước và đức tin tôn giáo không có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ
với nhau. Một người dù theo tôn giáo nào thì trước hết người đó phải là công
dân, có nghĩa vụ với dân tộc, đất nước.
Như vậy, đặc điểm văn hóa dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước
nói riêng là cơ sở thực tiễn của Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo.
Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo là nhằm xây
dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu dân giàu nước mạnh độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người,
10


thể hiện tính nhất quán lâu dài, thực sự tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo; thái độ
mềm dẻo khéo léo trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo. Trong: “Tám
điều mệnh lệnh” của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi rõ: Chính
phủ, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán
của đồng bào.
Ngày 5-4-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 điều nên và không nên
làm, trong đó ghi: không nên xúc phạm đến tín ngưỡng, phong tục của nhân
dân. Chính cương của Mặt trận Liên Việt ở điểm 1 Điều 7 có ghi: “Tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng cho mọi người”. Sắc lệnh 234/52 do
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14-6-1955 đã thể hiện rõ tính nhất quán lâu dài
của chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
Kế thừa quan điểm mácxit về tôn giáo trong việc xử lý các vấn đề tôn

vững như là một điều kiện tiên quyết để thực hiện đoàn kết. Người nhấn mạnh
rằng: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một
chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu
tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc; ta phải đoàn kết để xây dựng
nước nhà. Ai có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân
thì ta đoàn kết với họ” [16, tr.428].
Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn
kết toàn dân của chủ tịch Hồ Chí Minh. Để thực hiện đoàn kết tôn giáo,
Người đã tìm ra cơ sở khoa học, đó là sự tương đồng giữa các tôn giáo, thể
hiện ở chỗ:
Thứ nhất, các tôn giáo chân chính xét đến cùng đều có hi vọng giải thoát
con người, mong muốn con người được sung sướng tự do, hạnh phúc Chủ tịch
Hồ Chí Minh nói: “Phật sinh ra để lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha. Đức Giê Su
sinh ra là niềm hạnh phúc cho mọi người, phúc lợi cho xã hội. Khổng Tử sinh ra
là để giúp con người sống nhân nghĩa vì một thế giới đại đồng”.
12


Thứ hai, tín đồ các tôn giáo căn bản đều là những người lao động bị chế
độ cũ áp bức bóc lột. Họ đều là những người yêu nước thực sự, do vậy họ là
lực lượng của cách mạng, là bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn
dân với tư cách là chủ thể của cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự tương đồng giữa các
tôn giáo mà còn tìm ra sự tương đồng giữa các tôn giáo chân chính với chủ
nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội. Người coi tôn giáo như một nơi gửi
gắm nguyện vọng thiết tha của một bộ phận quần chúng lao động mong chờ
sự giải thoát khỏi áp bức, bất công, nghèo khổ, từ đó cổ vũ họ tham gia kháng
chiến, kiến quốc. Đối với các chức sắc tôn giáo, Người luôn động viên, khơi
dậy lòng yêu nước thương nòi, giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp của dân
tộc. Ngay cả bọn giám mục bị bọn đế quốc phản động lợi dụng, như giám

cũng có thái độ xử sự dứt khoát, kiên quyết, trừng trị những kẻ mượn tiếng
đạo, làm nhục chúa, làm hại dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn
giáo chăm sóc cả “phần xác” và “phần hồn”. Từ đó Người chỉ đạo Chính phủ
cần có chính sách cụ thể để cải thiện cuộc sống cho đồng bào, tích cực tăng
gia sản xuất, nâng cao đời sống.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến các vấn đề xây dựng đội ngũ cán
bộ ở các vùng đồng bào công giáo. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của
mọi công việc” và “Công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay
kém” [15, tr.273]
Như vậy thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng
chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở
Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, văn
hóa và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tín đồ tôn giáo
Việt Nam thực hiện tư tưởng của Người về chính sách tôn giáo đã và đang
sống theo phương châm sống “phúc âm trong lòng dân tộc”, sống “tốt đời đẹp
đạo”, “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.
14


1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo
Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán
trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng trước những biến động
của tình hình và nhiệm vụ cách mạng nói chung và của tình hình tín ngưỡng,
tôn giáo cũng như việc thực hiện chính sách tôn giáo trong tình hình mới thì
chúng ta cần có những nhận thức mới về tôn giáo và chính sách tôn giáo mới
phù hợp. Vì vậy, năm 1990 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 24, Nghị quyết Trung ương là Nghị quyết
chuyên đề về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Nghị quyết
xác định 4 mục tiêu cơ bản sau: tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín

thực sự cần thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay khi tình hình tôn
giáo thế giới đang có những diễn biến hết sức phức tạp; sự xuất hiện của
nhiều hiện tượng tôn giáo mới các thế lực thù địch đang ráo riết lợi dụng kẽ
hở trong hoạt động tôn giáo để phá hoại thành quả cách mạng cũng như sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Do đó việc thực hiện chính sách tôn giáo là nhiệm vụ của Đảng, toàn
dân và toàn quân ta. Đó là một khối sức mạnh to lớn, là động lực là mục tiêu
của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vấn đề
tôn giáo, coi công tác tôn giáo là một nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết trong
thời kỳ mới của đất nước.
- Nội dung chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta hiện nay
Để đưa ra chính sách tôn giáo phù hợp trong giai đoạn hiện nay, Đảng
và Nhà nước ta đã căn cứ vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo. Đồng thời dựa vào
yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng của chủ nghĩa xã hội và tình hình tôn
giáo, cũng như việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chính
sách tôn giáo với các nội dung cơ bản sau:
16


+ Thực hiện chính sách nhất quán tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của mọi công dân. Mọi
công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân
biệt người theo đạo hay không theo đạo, cũng như giữa các người theo các tôn
giáo khác nhau.
+ Thực hiện đoàn kết của các đồng bào theo các tôn giáo và không theo
tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc. Giữ gìn và phát huy những giá trị
tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên tôn vinh những người có công với
Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối sử với công dân vì lý do

Việc theo đạo truyền bá đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều
phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo để
truyền đạt tà đạo và hoạt động mê tín dị đoan và không được ép buộc người
dân theo đạo, nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và hình
thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện mục tiêu:
“Độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được cụ thể hóa bằng những
chính sách cụ thể có trong Nghị quyết số 26/1999/NĐ - CP do Chính phủ ban
hành ngày 19/04/1999.
- Đối với các tín đồ tôn giáo
+ Tín đồ các tôn giáo có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không
trái với chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiến hành nghi
thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo,
học tập quản lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự.
+ Tín đồ các tôn giáo không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm
trái pháp luật, không được hoạt động mê tín dị đoan.
+ Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được sinh hoạt theo
tôn giáo pháp luật Việt Nam.
18


- Đối với chức sắc, nhà tu hành tôn giáo
+ Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có quyền:
Được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo của mình trong phạm vi
trách nhiệm đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Được nhận xét, khen thưởng công lao đóng góp trong sự nghiệp đoàn
kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Được hưởng các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của
công dân.

đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ hoạt
động. Những cá nhân chịu trách nhiệm về hành vi đó bị xử lí theo pháp luật.
+ Chức sắc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy
định của Nhà nước. Các cơ sở từ thiện do chức sắc, nhà tu hành và tổ chức
tôn giáo bảo trợ hoạt động theo sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng của
Nhà nước.
- Đối với các hoạt động tôn giáo
+ Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở thờ tự đã đăng kí hàng năm và thực
hiện trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải xin phép.
+ Những hoạt động tôn giáo vượt qua ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự
hoặc chưa đăng kí hàng năm phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền.
+ Các cuộc tĩnh tâm của linh mục trong giáo phận của các tu sĩ tập
trung từ những cơ sở, dòng tu của đạo Thiên Chúa, các cuộc bồi linh của mục
sư và truyền bá đạo của Tin lành, các kì an cư của tăng ni đạo Phật và những
sinh hoạt tôn giáo tương tự của các tôn giáo khác thực hiện theo quy định của
cơ quan quản lí Nhà nước cấp tỉnh về tôn giáo. Đại hội, Hội nghị của tổ chức
tôn giáo các cấp ở địa phương phải được phép của chủ tịch UBND cấp tỉnh.
+ Việc in ấn, xuất bản các loại kinh, sách và các xuất bản ấn phẩm tôn
giáo việc sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo phải
20


Trích đoạn Mục tiêu, phƣơng hƣớng hoàn thiện quản lý Nhà nƣớc về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo Đẩy mạnh, tuyên truyền, phổ biến giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo trên địa bàn tỉnh Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status