Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------------

ĐÀO THỊ LIỄU

SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VÀO VIỆC GIẢNG DẠY MÔN
GDCD TRONG TRƯỜNG THPT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS. VI THÁI LANG

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tiến sĩ Vi Thái Lang đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Với những hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận

Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ
BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................. 5
1.1. Khái niệm và kết cấu của lý luận và thực tiễn .......................................... 5
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn ................................. 16
1.3. Sự cần thiết phải vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................... 23
1.4. Nội dung của sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ
BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO VIỆC
GIẢNG DẠY MÔN GDCD TRONG TRƯỜNG THPT Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY ....................................................................................... 38
2.1. Thành tựu của sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện
nay………………………………………………………………………….38
2.2. Hạn chế của sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD ở Việt Nam hiện nay.................... 42
2.3. Nguyên nhân của sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận
và thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................... 48
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN GDCD TRONG TRƯỜNG
THPT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG MỐI
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............. 53
3.1. Nâng cao đội ngũ giáo viên dạy môn GDCD ........................................ 54
3.2. Nâng cao nhận thức của học sinh về vị trí, vai trò của môn GDCD
trong trường THPT hiện nay ........................................................................ 58
3.3. Đáp ứng tốt các điều kiện phục vụ quá trình dạy học, nội dung

đó được Lênin thể hiện ở chỗ: “Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là
quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”[8,tr.167].

1


Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn là cần thiết. Đặc biệt là trong việc dạy và học môn GDCD ở trường
THPT hiện nay, cần phải nâng cao tính sinh động, hấp dẫn của mọi giờ giảng.
Đây chính là sự đảm bảo được tính thống nhất gắn kết gắn kết một cách hài
hòa giữa lý luận và thực tiễn.
Vì thế, một trong những vấn đề để nâng cao chất lượng dạy và học môn
GDCD ở trường THPT là phải chú trọng liên hệ lý luận với thực tiễn. Với lý
do trên, tôi chọn đề tài: “Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận và thực tiễn vào việc giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở
Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu sự vận dụng lý luận và thực tiễn vào việc giảng dạy
môn GDCD trong trường THPT hiện nay là vấn đề mới mẻ. Có một số bài
viết đề cập, xoay quanh vấn đề này nhưng rất sơ lược hoặc nghiên cứu một
phương diện nào đó mà thôi.
Ví dụ như: “Dạy và học môn GDCD ở trường THPT những vấn đề lý
luận và thực tiễn” do Nguyễn Văn Cừ - Nguyễn Duy Nhiên (đồng chủ biên).
“Về việc gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy Lý luận chính trị” (Th.s
Phạm Thị Thanh Giang), “Vài suy nghĩ về việc gắn lý luận với thực tiễn trong
giảng dạy Chính trị hiện nay” (Th.s Nguyễn Thái Sơn, Trưởng bộ môn Triết
học, khoa Giáo dục Chính trị) hay Phùng Văn Bộ: “Lý luận giảng dạy môn
GDCD”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
“Nâng cao hiệu quả gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy tại các
trường Chính trị hiện nay”(Bùi Văn Nam - Giảng viên khoa Lý luận MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh).

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp
nghiên cứu khoa học khác: phân tích, so sánh, tổng hợp.

3


6. Ý nghĩa đề tài
Khóa luận làm tư liệu tham khảo cho những người dạy môn GDCD
trong trường THPT hiện nay.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương 11tiết.

4


Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.

Khái niệm và kết cấu của lý luận và thực tiễn.

1.1.1. Khái niệm và kết cấu của lý luận.
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của
con người. Khi con người bắt đầu nhận thức thì khi đó cũng bắt đầu có tri
thức. Những tri thức lý luận có được là do con người tiếp thu từ thế hệ trước
và là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình, đó không phải là quá trình

Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của
lý luận. Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, đồng thời
thể hiện như là trình độ cao của nhận thức. Vậy lý luận là một hệ thống
những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh mối liên hệ
bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù.
Qúa trình hình thành lý luận của con người đi từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém sâu sắc đến sâu sắc, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn. Nhận thức không phải là sự phản ánh tức thời giản đơn máy móc
và thụ động mà là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, sáng tạo hiện thực
khách quan. Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường: Từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá
trình nhận thức. Đó là giai đoạn thông qua hoạt động thực tiễn, bằng các giác
quan con người phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan vào đầu
óc mình. Nhận thức cảm tính bao gồm ba hình thức: cảm giác, tri giác, biểu
tượng. Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật hiện
tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Tri

6


giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác
động vào các giác quan. Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức
tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động. Đó là hình ảnh cảm tính và tương
đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc người về sự vật khi sự vật đó không
còn trực tiếp tác động vào giác quan. Như vậy cảm giác, tri giác, biểu tượng
là những giai đoạn kế tiếp nhau của hình thức nhận thức cảm tính. Vì vậy
nhận thức cảm tính chưa sâu sắc, chưa đầy đủ đòi hỏi tư duy phải có bước
phát triển cao hơn.

vụ và cải tạo thế giới. Vì vậy, mọi lý luận đều phải được kiểm nghiệm trong
thực tiễn, một mặt góp phần hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, mặt khác chịu sự
giám sát, đánh giá tính xác thực của thực tiễn, để từ đó khẳng định, bổ sung,
hoàn thiện, phát triển kết quả nhận thức thu được.
Trước hết, chúng ta cần phân biệt nhận thức kinh nghiệm và nhận thức
lý luận. Đây là hai bậc thang nhận thức khác nhau về đối tượng, tính chất,
chức năng cũng như hình thức và trình tự phản ánh. Nhận thức kinh nghiệm là
loại nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức
kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm. Tri thức này có hai loại là tri thức
kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh
nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp
hàng ngày về cuộc sống và lao động sản xuất. Còn tri thức kinh nghiệm khoa
học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa học. Hai loại
tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính
phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức lý luận (gọi tắt
là lý luận) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất và
quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý luận có chức năng gián tiếp
vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm.
Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung phản ánh

8


cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng. Do đó, tri thức lý
luận - kết quả của nhận thức lý luận - thể hiện chân lý sâu sắc hơn, chính xác
hơn và có hệ thống hơn.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức
khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ đó thì
nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nó cung cấp cho nhận

Kinh nghiệm và lý luận đều là tri thức, những hiểu biết của con người
về sự vật, hiện tượng nhưng ở trình độ khác nhau. Kinh nghiệm được nảy sinh
trực tiếp từ cuộc sống và thực tiễn. Nó không chỉ là kết quả của hoạt động
trực quan cảm tính mà còn có sự tham gia của các yếu tố lý tính. Kinh nghiệm
do đó mang tính trừu tượng và khái quát, song mới là bước đầu và còn hạn
chế. Nó chỉ đem lại sự hiểu biết riêng lẻ về các mối liên hệ bên ngoài của các
sự vật, hiện tượng. Vì vậy trong hoạt động nhận thức không nên cường điệu
kinh nghiệm cũng không nên coi thường kinh nghiệm, không nên dừng lại ở
kinh nghiệm mà cần nâng lên trình độ lý luận.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm, nó được hình
thành và phát triển trên cơ sở kinh nghiệm và thực tiễn. Quá trình phát triển
của thực tiễn đặt ra những vấn đề đòi hỏi lý luận phải giải quyết. Lý luận phản
ánh gián tiếp hiện thực khách quan song lại đáng tin cậy hơn kinh nghiệm. Lý
luận thông qua hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật, chính xác hơn, hệ
thống hơn. Do đó phạm vi ứng dụng nó mang tính phổ biến hơn so với tri
thức kinh nghiệm.
Ví dụ: Thời đại ngày nay, công nghệ thông tin là công nghệ mũi nhọn
và phổ biến. Trên cơ sở phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, bằng
những kiến thức và hiểu biết của con người kết hợp với thực tiễn đang diễn ra
đã nâng nó lên thành lý luận. Qua quá trình nghiên cứu, khái quát thực tiễn
phát triển của công nghệ thông tin chúng ta có thể hiểu khái niệm “công nghệ
thông tin” là hệ thống các tri thức và phương pháp khoa học, công cụ, kỹ

10


thuật hiện đại và các giải pháp công nghệ được sử dụng để thu thập, lưu trữ,
xử lý và truyền bá thông tin, giúp con người sử dụng hiệu quả, nó như nguồn
tài nguyên quan trọng nhất. Như vậy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, con người
đưa ra được khái niệm đầy đủ về công nghệ thông tin để phân biệt với các

1.1.2. Khái niệm và kết cấu của thực tiễn
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học
Mác - Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng. Ngay từ
buổi đầu sáng lập ra thế giới quan khoa học, C.Mác và Ăngghen đã đặc biệt
quan tâm tới vấn đề này.
Bàn về vấn đề thực tiễn, các trào lưu triết học trước Mác, kể cả triết học
của Phơbach cũng xem xét nhận thức tách rời hoạt động thực tiễn của con
người. Khuyết điểm chủ yếu của chủ nghĩa duy vật trước Mác là thiếu quan
điểm thực tiễn. Chủ nghĩa duy tâm đã đề cập đến vai trò tích cực, sáng tạo của
con người, nhưng lại chỉ giới hạn tính tích cực, sáng tạo đó trong lĩnh vực
thực tiễn, chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động thực tiễn và như vậy thực chất
đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn trong lịch sử triết học. Mác là người đầu tiên
nêu rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức. Đưa phạm trù thực
tiễn vào lý luận nhận thức là một bước chuyển cách mạng trong lý luận về
nhận thức nói riêng và trong triết học nói chung.
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, hoạt động thực tiễn chỉ có
thể có được ở xã hội loài người, nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và
phát triển của xã hội loài người. Trong Luận cương của Phơbach, Mác đã
khẳng định rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất là có tính thực tiễn.Tất cả
những sự thần bí đưa lý luận đến chỗ thần bí, đều được giải đáp một cách hợp
lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết của thực tiễn ấy. Lênin
cho rằng: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất và cơ
bản của lý luận và nhận thức”[9, tr.167]. Qua ý kiến của các nhà kinh điển, ta

12


có thể hiểu một cách cơ bản nhất về phạm trù thực tiễn như sau: “Thực tiễn là
toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội” [2, tr.295]. Khác với hoạt động tư

khác nhau của hoạt động thực tiễn. Do đó, thực tiễn mang tính lịch sử xã hội.
Vì hoạt động thực tiễn là dạng hoạt động cơ bản của loài người. Đó là hình
thức đặc thù của con người, luôn diễn ra trong bối cảnh văn hóa xã hội nhất
định. Là sản phẩm lịch sử, hoạt động thực tiễn luôn vận động và phát triển
không ngừng theo các giai đoạn lịch sử. Trình độ phát triển của thực tiễn
được đánh giá ở trình độ, khả năng chinh phục, khai thác, tái tạo tự nhiên,
trình độ làm chủ xã hội của con người. Hoạt động thực tiễn không phải là hoạt
động của cá nhân, con người riêng lẻ mà là hoạt động của loài người, trước
hết là của đông đảo quần chúng nhân dân - những người tích cực tham gia
hoạt động sản xuất ra của cải vật chất.
Mặt khác, thực tiễn là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người.
Hoạt động thực tiễn nhằm mục đích cao nhất là cải tạo hiện thực và tích cực
tác động một cách có mục đích để cải tạo nó. Trên cơ sở đó, thế giới đã bộc lộ
những đặc trưng ,bản chất, nội dung,… nhờ đó con người mới có thể cải tạo
hiện thực theo điều kiện của sự phát triển tự nhiên và xã hội.
Nếu xem thực tiễn tồn tại dưới dạng một chỉnh thể thì nó bao gồm
nhiều yếu tố như: nhu cầu. lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả. Các yếu
tố góp phần tạo nên hoạt động thực tiễn của con người. Nếu con người không
có nhu cầu vật chất, tinh thần , không theo đuổi các mục đích khác nhau, gắn
liền lợi ích với các hoạt động của mình, không có công cụ và phương tiện
vật chất để thực hiện các hoạt động và hoạt động không có kết quả thì đương
nhiên không có hoạt động thực tiễn.
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, có nhiều hình thức phong phú, song có
ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội
và hoạt động thực nghiệm khoa học.

14


Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên cơ bản nền tảng của


Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói
riêng. Mối quan hệ đó có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức khoa học và
hoạt động thực tiễn.
1.2.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận.
Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát
từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế
giới khách quan. Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà
trong mối liên hệ thực tiễn. Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ bản chất
với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định.
Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở,
động lực và mục đích của nhận thức. Ăngghen khẳng định: Chính việc người
ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới
tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí
tuệ con người phát triển song việc người ta đã học cải biến tự nhiên. Như vậy
thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức để hình thành lý luận. Mọi tri thức
xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn.
Thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức. Nó đề ra nhu cầu,
nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động, phát triển của nhận thức.
Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là giải thích và cải tạo thế
giới, buộc con người phải tác động trực tiếp vào sự vật, hiện tượng bằng hoạt
động thực tiễn của mình. Sư tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc
lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng,
đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản
chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó hình
thành nên các lý thuyết khoa học. Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn
của con người cần phải “đo đạc diện tích và đong lường sức chứa của những

16

17


thiết cho hoạt động thực tiễn của con người. Vì thực tiễn luôn luôn vận động,
luôn đặt ra những yêu cầu mới cho nhận thức và tạo ra những tiền đề vật chất
cần thiết, thúc đẩy nhận thức phát triển.
Ví dụ: Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bác
sĩ Đặng Văn Ngữ (1910 – 1967) đã điều chế được thuốc Pê - nê -xi - lin từ
giống nấm Pê- ni- xi - lin mà ông đưa từ Nhật về. Lúc đó, thứ thuốc này được
coi là thần dược, đã làm lành vết thương cứu sống bao người, nhưng lại không
chữa được vết thương mãn tính đã mưng mủ. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu y
học phải nghiên cứu tìm ra loại kháng sinh mới. Năm 1952,Wát - man tìm ra
Strép - tô - mi - xin. Là người luôn theo dõi tình hình y học thế giới, bác sĩ
Ngữ bắt tay nghiên cứu loại nấm mới này trong các mẫu đất. Sau ba tháng
ông đã tìm ra 18 loại Strép-tô-mi- xin. Trong đó có nhiều loại điều trị được
vết thương mãn tính đã mưng mủ.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Các tri thức khoa học chỉ
có giá trị khi nó được vận dụng vào thực tiễn. Nhận thức sau khi ra đời phải
quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hoạt
động thực tiễn của quần chúng. Lý luận khoa học chỉ có nghĩa thực sự khi
chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục vụ mục tiêu phát
triển nói chung.
Ví dụ: Trong thời kì hiện nay, công cuộc đổi mới theo định hướng xã
hôi chủ nghĩa ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ phức tạp. Đòi hỏi
lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu đó. Như vấn đề về chủ
nghĩa xã hội, và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà
nó còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Bởi vì, thực tiễn là hoạt
động vật chất có tính tất yếu khách quan, diễn ra độc lập với nhận thức. Nó
luôn vận động và phát triển trong lịch sử. Nhờ đó mà thúc đẩy nhận thức


19


các khái niệm, phạm trù, quy luật mà tư duy con người có thể phản ánh được
đặc điểm, bản chất bên trong của sự vật hiện tượng.
Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của
lý luận. Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức. Xét về bản
chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh
mối liên hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan. Lý luận được
hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn.
Như vậy, quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát
triển, được nâng cao dần cho đến khi quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn
hoạt động của con người, cải tạo thực tiễn.
Lý luận đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học. Những phát
minh khoa học, những công trình nghiên cứu trước khi đưa ra kiểm nghiệm
trong thực tiễn thì chúng sẽ được trình bày bằng hệ thống lý luận. Thông qua
lý luận giúp con người tích lũy thông tin, suy nghĩ và tri thức với nhau. Nhờ
có vai trò này của lý luận mà các tư tưởng, quan điểm của thế hệ trước có thể
bước cao hơn.
Lý luận không phải là bất biến mà mang tính sáng tạo vì hiện thực luôn
thay đổi vì thế lý luận phải chuyển hóa linh hoạt, mềm dẻo cùng với sự vận
động của thực tiễn. Nó không phản ánh một cách y nguyên mà trên cơ sở thực
tiễn đã có, lý luận đưa ra dự báo trước cho con người cái xảy ra tong tương lai.
Lý luận khoa học hướng dẫn, soi đường dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn, giúp
cho thực tiễn hoạt động đúng hướng có hiệu quả tránh mò mẫm tự phát. Nếu
không có lý luận đúng đắn và khoa học dẫn đường, chỉ đạo thì hoạt động của
con người sẽ kém hiệu quả. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã ví: “Không có lý luận thì
lung tung như nhắm mắt mà đi”. Tuy nhiên do tính gián tiếp, tính trừu tượng
cao trong phản ánh hiện thực nên lý luận có thể bị xa rời thực tiễn và trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status