Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐỖ THỊ NĂM
SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
VÀO VIỆC THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH VĨNH PHÚC (VIỆT NAM) HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2013
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐỖ THỊ NĂM
SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
sót. Vì vậy em kính mong nhận được sự chỉ bảo của thầy, cô cũng như những
ý kiến đóng góp của các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Năm
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo ở
tỉnh vĩnh phúc( Việt Nam ) hiện nay” được hoàn thành bởi sự hướng dẫn tận
tình của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Giang
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi không
trùng với bất cứ công trình nghiên cứu nào của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Năm
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Vĩnh
Phúc trên cơ sở vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội.................................................................................................... 58
3.3. Một số kiến nghị .................................................................................... 68
KẾT LUẬN.................................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những thành tựu và sự phát triển trong công cuộc đổi mới của nước ta
trong thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài để
chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho sự phát
triển mới của dân tộc đã được tạo ra để giới thiệu và quảng bá cho các dân tộc
khác trên thế giới. Và do đó, mối quan hệ của nước ta với các nước khác trên
thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết. Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và
hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Cùng với sự phát triển nhanh của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với trình độ kĩ thuật ngày càng cao
thì sự phát triển về nhận thức sẽ làm cho nước ta không bị tụt hậu so với thế
giới và điều đó khiến chúng ta có cơ hội phát triển hơn. Tuy nhiên không thể
phủ nhận sự tụt hậu của các nước chậm phát triển so với các nước phát triển,
mà nguyên nhân sâu xa của nó chính là do ý thức xã hội của dân tộc đó. Điều
đó dẫn đến nguy cơ tụt hậu của nước ta xa hơn so với nhiều nước trong khu
vực. Đó là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát thấp và đi lên trong
môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và Nhà
Nam khá cụ thể. Đây là công trình đề cập đến vấn đề chuẩn nghèo đói,
ngưỡng nghèo đói, nguyên nhân gây ra nghèo đói và các kinh nghiệm tổng
kết về công tác XĐGN ở các địa phương trong cả nước.
Trong các đại hội cũng như trong nhiều chỉ thị, nghị quyết, Đảng và
Nhà nước đều nêu vấn đề xóa đói giảm nghèo. Đại hội lần thứ XI của Đảng
đã khẳng định “khuyến khích làm giàu hợp pháp, đi đôi với giảm nghèo bền
vững” [6, tr.79]. Bên cạnh đó còn nhiều tài liệu liên quan đến vấn đề xóa đói
giảm nghèo khác như:
Hà Quế Lâm “XĐGN ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực
trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia 2002. Trong tác phẩm đã đề cập
đến đời sống của các dân tộc thiểu số ở nước ta. Từ đó tác giả đã đưa ra
những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói ở một bộ phận các dân tộc
2
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
thiểu số của đất nước trên cơ sở phân tích những nguyên nhân gây ra nghèo
đói đối với bộ phận các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Bùi Minh Đạo (2005), “Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp
XĐGN đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên”, Nxb khoa học – xã
hội. Trong tác phẩm này tác giả đã chỉ ra thực trạng vấn đề đói nghèo ở Tây
Nguyên từ đó đưa ra một số giải pháp để XĐGN đối với các dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và nghiên cứu
vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khác nhau và
gợi mở ra hướng nghiên cứu mới bổ ích. Đây là những tư liệu quý sẽ được
tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết khóa luận này. Song cho đến nay
Việc nghiên cứu và trình bày khóa luận dựa trên cơ sở lí luận và các
nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản có liên quan đến đề tài.
Khóa luận còn tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng của một số đề án,
công trình khoa học đi trước có liên quan đến nội dung được đề cập trong
khóa luận.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp triết học Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời còn sử dụng một số phương pháp: So
sánh, phân tích các số liệu thu thập và tổng hợp đưa ra kết luận chung.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đưa ra những số liệu cụ thể làm rõ thực trạng nghèo đói ở Vĩnh
Phúc hiện nay. Và trên cơ sở vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội thì Đảng, cơ quan và cá nhân nên có trách nhiệm trong sự
nghiệp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được
chia làm 3 chương và 8 tiết.
4
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI VÀO VIỆC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
- Ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận:
+ Ý thức xã hội thông thường là những tri thức, những quan niệm của
con người hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày,
chưa được hệ thống hoá, khái quát hoá.
Ý thức xã hội thông thường, thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều
mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường chi phối cuộc sống đó. Ý
thức thông thường tuy là trình độ thấp nhưng có vai trò quan trọng ở chỗ, nhờ
nó mà tri thức kinh nghiệm được hình thành, đây là tiền đề quan trọng để hình
thành các lý thuyết khoa học.
+ Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hoá, khái
quát hoá thành học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm,
phạm trù, quy luật. Ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh
hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các
mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng.
- Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội.
+ Tâm lý xã hội là bộ phận của ý thức xã hội bao gồm tình cảm, ước
muốn, thói quen, tập quán... của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của
toàn bộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày
của họ và phản ánh đời sống đó.
Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện
sống của xã hội và phản ánh có tính tự phát, do vậy thường ghi lại những mặt
bề ngoài không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối
quan hệ xã hội.
+ Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một
cách gián tiếp, tự giác, khái quát hoá thành những quan điểm, tư tưởng (chính
trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo). Kết quả của sự khái quát hóa những kinh
nghiệm xã hội.
6
tại xã hội. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện đời sống vật chất
khác nhau thì ý thức xã hội cũng khác nhau. Mỗi khi tồn tại xã hội (nhất là
phương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những
7
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật...
tất yếu sẽ biến đổi theo.
Tồn tại xã hội quyết định sự biến đổi của ý thức xã hội. Khi tồn tại xã
hội nhất là phương thức sản xuất thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo;
sự biến đổi của ý thức xã hội là sự phản ánh đối với sự biến đổi của tồn tại xã
hội. Sự biến đổi của một thời đại nào đó sẽ không thể giải thích được nếu chỉ
căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Theo C.Mác: “ ... không thể nhận định về
một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Trái lại, phải
giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự
xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản
xuất xã hội” [10, tr.5].
Như vậy không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ mà
trái lại, chính tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Mỗi khi tồn tại
xã hội, nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng, lý luận xã
hội, quan điểm chính trị, pháp quyền.v.v. sớm muộn sẽ biến đổi theo. Tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội,
phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Cho nên ở những thời kỳ lịch sử khác nhau nếu
chúng ta thấy có những lý luận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau thì đó
là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định.
phát triển chung của xã hội, quy luật đó không những phản ánh đúng quá khứ,
hiện tại mà còn dự báo đúng tồn tại xã hội mai sau.
Khi nói, tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội thì không có
nghĩa ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định. Mà là, cho đến
cùng nó luôn bị tồn tại xã hội quy định.
- Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội cho thấy rằng, những
quan điểm lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống
không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời
đại trước. Thí dụ, chủ nghĩa Mác đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của loài
người mà trực tiếp là nền triết học Đức, kinh tế học cổ điển Anh và chủ nghĩa
xã hội không tưởng Pháp.
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với
tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý
thức khác nhau của các thời đại trước, các giai cấp tiên tiến thường kế thừa
9
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Nắm vững quan điểm kế
thừa của ý thức xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới của
nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng. Đảng ta đã khẳng định,
trong điều kiện mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và
nâng cao bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa các dân tộc khác trên thế giới, làm
giàu đẹp hơn nền văn hoá Việt Nam .
- Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự
ánh trực tiếp và tập trung lợi ích của giai cấp. Điều đó biểu hiện qua hệ tư
tưởng chính trị. Ý thức chính trị (đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị) có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước nó
tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể trong những giới hạn nhất định làm
thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần của xã hội, nó thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.
* Ý thức pháp quyền
Ý thức pháp quyền là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội dưới dạng các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò
của pháp luật; về quyền và nghĩa vụ của nhà nước cũng như các tổ chức xã
hội và công dân; về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người
trong xã hội. Ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp, ý thức pháp quyền
luôn luôn mang tính chất giai cấp.
* Ý thức đạo đức
Ý thức đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội
dưới dạng quan niệm về thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc... và về
những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội,
giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.
Ý thức đạo đức bao gồm hệ thống tri thức về giá trị đạo đức, tình cảm
và lý tưởng đạo đức; trong đó, tình cảm đạo đức là yếu tố quan trọng nhất,
nếu thiếu nó thì khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức không
thể chuyển hoá thành hành vi đạo đức.
11
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
Hệ tư tưởng tôn giáo là hệ thống giáo lý do các giáo sỹ, các nhà thần học tạo
ra và truyền bá trong xã hội. Hai bộ phận đó liên hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Tâm lý tôn giáo đem lại cho hệ tư tưởng tôn giáo một tính chất đặc trưng, một
sắc thái tình cảm riêng. Hệ tư tưởng tôn giáo lý giải hiện tượng tâm lý tôn
giáo, khái quát chúng, làm cho chúng biến đổi theo chiều hướng nhất định.
Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện
chứng của đời sống xã hội. Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức
xã hội. Việc thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức
xã hội. Mặt khác, cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại
xã hội mới tất yếu dẫn đến nhưng thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của
xã hội mà ngược lai, những tác động của đồi sống tinh thần xã hội, với những
điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong
tồn tại xã hội.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng
văn hóa, phát huy vai trò tích cực của đời sồng tinh thần xã hội đối với quá
trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác,
phải tránh xa những tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng
văn hóa, xây dựng con người mới. Chúng ta chỉ có thể thực sự tạo dựng được
đời sống tinh thần của xã hội trên cơ sở cải tạo triệt để phương thức sinh hoạt
vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một phương thức
sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
1.2. Tính tất yếu phải thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Vĩnh Phúc
Nam nói riêng.
Nghèo đói không chỉ là vấn đề cấp bách cần giải quyết của từng địa
phương nói riêng mà nó còn là mục tiêu hàng đầu của đất nước ta trong suốt
những thập kỷ qua, tình trạng nghèo đói kéo dài làm cho cuộc sống của nhân
dân vô vàn khó khăn. Nó gây ra những tệ nạn xã hội, những thách thức đối
với toàn thể xã hội và tác động xấu đến nhận thức của con người. Nhìn chung,
nó kìm hãm sự phát triển của con người về mọi mặt, làm cho nền kinh tế xã
14
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
hội ngày càng trở nên trì trệ hơn. Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo rất cần
thiết và đòi hỏi phải duy trì trong thời gian dài, không thể ngày một ngày hai.
Bảng 1: Kết quả XĐGN ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2005)
Số hộ /năm
2001
2002
2003
2004
2005
Số hộ nghèo
6,6
5.6
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tổng kết công tác XĐGN giai đoạn 2001-2005
của Sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc)[13, tr.5]
Nếu như trước đây tỉ lệ hộ nghèo còn khá cao được thể hiện trong giai
đoạn 2001 -2005: Số hộ nghèo củaTỉnh là 10,91% (26.531 hộ) thì đến cuối
năm 2004 tỷ lệ này giảm xuống còn 6,6% (15.102 hộ), cuối năm 2005 (theo
chuẩn nghèo cũ) tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm xuống còn 5,6% (12.602 hộ).
Hiện nay, chương trình được thực hiện ở tất cả các huyện trong tỉnh và
đạt được một số thành tựu. Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và xã
hội thì công tác xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 đã đạt nhiều kết
quả tốt, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm ( theo chuẩn mới ):
Cuối năm 2006 còn 38.438 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn
14,9% so với cuối năm 2005 thì đến cuối năm 2007 hộ nghèo còn 28.922 hộ,
tỷ lệ hộ nghèo chiếm 12.5% và đến cuối năm 2009 tỉ lệ hộ nghèo còn 24.942
hộ, tỉ lệ hộ nghèo chiếm 10.4%, tỉ lệ này giảm xuống 4.9% so với năm 2007
[14, tr.9].
Tuy nhiên, bước đầu của chương trình mới chỉ thu được kết quả là
không còn xóa đói mà chỉ có nhiệm vụ là giảm ngèo. Đây cũng có thể coi là
thành công bước đầu của chương trình. Nhưng không vì vậy mà sự cần thiết
của nhiệm vụ giảm nghèo lại giảm đi. Nếu nghèo không giảm thì những hộ
thuộc diện nghèo rất có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo. Chính vì vậy, phải
15
Khóa luận tốt nghiệp
16
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
nghèo đói. Trong thời kỳ tiền sử mông muội, loài người trong khi bước ra
tách khỏi thế giới động vật trong giới tự nhiên để trở thành người và tổ chức
thành đời sống xã hội thì cùng với bước ngoặt vĩ đại ấy, con người đã phải
thường xuyên đối mặt với đói nghèo. Ở đây, nghèo đói là hậu quả trực tiếp
của lạc hậu, mông muội là điển hình của sự thống trị tự nhiên với con người.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những
kinh nghiệm quý báu về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là quan niệm của
người về chủ nghĩa xã hội là xa lạ với người ngèo, bần cùng và lạc hậu. Hồ
Chí Minh luôn nhấn mạnh phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất hơn nữa, thực
hành tiết kiệm. Đây là con đường cơ bản nhất chắc chắn nhất đối với công tác
xóa đói giảm nghèo nói riêng và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân
nói chung. Cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội thành một xã hội giàu có,
phồn thịnh về kinh tế, lành mạnh về xã hội, văn minh về văn hóa. Quan niệm
trên đây chứa đựng ý nghĩa giải phóng to lớn sức sản xuất, giải phóng tư
tưởng và tiềm năng xã hội, hướng tới một sự phát triển năng động của toàn xã
hội vì hạnh phúc của con người.
Đối với Việt Nam để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so
với các nước trên thế giới và khu vực, con đường phải đi của chúng ta là phát
triển rút ngắn đồng thời gắn với việc phải thực hiện xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam.
* Các khái niệm về nghèo
- Khái niệm về nghèo khổ của UNDP- 1998.
đến số tiền chi tiêu cho những sản phẩm phi lương thực khác.
Ngưỡng nghèo thứ hai là “ngưỡng nghèo chung” bao gồm cả chi tiêu
cho lương thực thực phẩm và chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực.
Xuất phất từ nhu cầu Kalo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể
trạng con người: WB đã đưa ra con số phổ biến được sử dụng là 21000 calo
cho một người mỗi ngày. Mỗi gia đình Việt Nam phải mất bao nhiêu tiền để
mua một rổ hàng hóa lương thực để cung cấp 21000 calo cho mỗi người một
ngày. Vì vậy nghèo đói theo định nghĩa của WB là những hộ không có khả
18
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Năm K35 - GDCD
năng chi trả cho số hàng hóa lương thực của mình để đủ cung cấp 21000 calo
cho mỗi người một ngày.
* Các khái niệm về nghèo
- Khái niệm về nghèo khổ của UNDP- 1998.
Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau:
Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người
như biết đọc, biết viết và được nuôi.
Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác
định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi
lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở
những nước khác nhau.
Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo những
chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác. Ngưỡng