1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông
tin, cùng với quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
đòi hỏi mỗi con người phải có những bước tiến mới song song với những hoạt
động cơ bản như học tập và lao động. TDTT là hoạt động không thể thiếu
được trong đời sống xã hội loài người. Ngay từ khi mới ra đời nó đã trở thành
một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập nhằm tăng
cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần phát
triển toàn diện nhân cách, nâng cao sức khoẻ, phục vụ cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Ngoài ra TDTT còn mang lại tinh thần hoà bình, hữu
nghị giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới thông qua các thế vận hội
Olympic, Á vận hội, Seagames…Quốc gia, dân tộc nào cũng muốn thể hiện
nền văn hoá truyền thống của dân tộc mình với bạn bè quốc tế, với mục đích
cao cả là giao lưu học hỏi và thắt chặt hơn tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc.
Ngày nay TDTT còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu
đào tạo con người mới phát triển toàn diện về: Đức, Trí, Thể, Mỹ và Lao
Động. Tại Hội nghị TW2 khoá VIII bàn về đổi mới công tác giáo dục và đào
tạo, đã khẳng định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong nghị quyết còn
ghi : Con người mới phải là những người “ Phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”…Điều đó
đã khẳng định mục tiêu của giáo dục là nhằm giáo dục và hình thành nhân
cách, trí tuệ, tăng cường thể lực cho học sinh, sinh viên. Vì vậy chúng ta phải
phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đó [ 3 ].
GDTC là bộ phận hết sức cần thiết, nó gắn liền và góp phần thực hiện
mục tiêu của GD & ĐT, có vai trò quan trọng để chuẩn bị thể lực chung cho
học sinh, sinh viên. Đồng thời GDTC còn góp phần rèn luyện ý chí, tinh thần
2
3
vận động. Thành tích của Nhảy cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó
kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy là yếu tố quyết định. Mục đích của giậm nhảy
là đưa được trọng tâm cơ thể lên cao nhất để thực hiện kỹ thuật tiếp theo. Cho
nên việc tập luyện để hoàn thiện kỹ thuật giậm nhảy là một nhiệm vụ quan
trọng, trong quá trình huấn luyện, giảng dạy kỹ thuật nhảy cao cho vận động
viên và học sinh.
Qua tìm hiểu việc học tập và kết quả Nhảy cao của học sinh ở một số
trường trong thành phố Nam Định, chúng tôi thấy thành tích đạt được chưa
cao. Nguyên nhân chính là chưa phát huy được hiệu quả kỹ thuật giậm nhảy.
Sở dĩ còn tồn tại nguyên nhân đó là do chưa có đủ dụng cụ sân bãi, đáp ứng
nhu cầu tập luyện của môn học, thời gian học tập còn hạn chế, số học sinh thì
nhiều. Vì vậy, việc giảng dạy kỹ thuật nhảy cao còn nhiều nhược điểm và
hiệu quả chưa cao.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng
giảng dạy môn Nhảy cao của nhà trường, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề
tài: “Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nâng cao
thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 Trƣờng
THPT Mỹ Lộc – Nam Định.”
* MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Lựa chọn bài tập nhằm phát triển sức mạnh giậm nhảy sao cho phù hợp
với điều kiện, đối tượng, lứa tuổi để nâng cao thành tích Nhảy cao nằm
nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định, góp
phần bổ sung, hoàn thiện nội dung chương trình giảng dạy – huấn luyện của
nhà trường.
4
Với mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ tương lai của đất nước phát triển toàn
diện : Đức, trí, thể, mĩ. Tại Hội nghị TW 4 khóa VIII về đổi mới công tác giáo
dục – đào tạo, trong văn kiện có ghi: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về
thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức…” đã khẳng định
mục tiêu giáo dục nhằm giáo dục về nhân cách tăng cường thể lực cho học
sinh, sinh viên. Ngày 7/8/1995 Thủ Tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 113/TTg
nêu rõ yêu cầu đối với tổng cục TDTT: “Ngành TDTT phải xây dựng định
hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các hình thức hoạt
động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng lứa tuổi tạo thành phong trào
tập luyện rộng rãi của quần chúng hướng đến mục tiêu khỏe để xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” [2].
GDTC trong nhà trường phổ thông nhằm từng bước nâng cao trình độ
văn hóa thể chất và thể thao cho học sinh góp phần vào sự nghiệp TDTT của
đất nước và đặc biệt Nghị quyết TW II bàn về công tác giáo dục và đào tạo đã
khẳng định rõ GDTC trong trường học là rất quan trọng.
Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
- xã hội, quốc phòng – an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước,
trước hết là góp phần nâng cao sức khỏe, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức,
nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa
phương
1.2. Những cơ sở lý luận của đề tài.
1.2.1. Cơ sở triết học
Theo quan điểm của chủ nghĩ a Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức
của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn. Thực tiễn là những hoạt động có mục đí ch mang tí nh lị ch
sử của xã hội loài người , thực tiễn còn được xem như thước đo chân lý của
6
vận động và những tri thức chuyên môn, đồng thời nó là quá trì nh giáo dục để
7
phát triển các tố chất thể lực . Vấn đề cơ bản trong quá trì nh giảng dạy cho
người học không chỉ là việ c nắm vững các kỹ thuật động tác mà cần phải là m
cho họ biết vận dụng một cách linh hoạt , sáng tạo vào những tình huống cụ
thể để đạt hiệu quả cao . Bởi vậy đòi hỏi người giáo viên , HLV phải biết tiến
hành giảng dạy các thao tác kỹ thuật và chiến thuật song song cùng lúc.
Do đặc thù của môn Nhảy cao nên quá trì nh giảng dạy và huấn luyện ,
các nguyên tắc lý luận được vận dụng một cách linh hoạt theo từng điều kiện
cụ thể nhất định t rong quá trì nh tổ chức học tập . Việc vận dụng các nguyên
tắc lý luận vào quá trì nh giảng dạy là yếu tố tất yếu để đạt kết quả cao
, bởi
vậy khi tiến hành giảng dạy phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
1.2.2.1. Nguyên tắc trực quan
Theo quan điểm của Chủ nghĩ a Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức
của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn. Vậy trong quá trình GDTC, trực quan giữ vai trò đặc biệt
quan trọng, nó là tiền đề để tiếp thu động tác . Trực quan trong quá trì nh sư
phạm là sử dụng thị giác và các cơ quan cảm thụ khác để tiếp thu trực tiếp
thông tin với thế giới xung quanh, từ đó mà người học có sự hiể u biết về động
tác và biết cách thực hiện động tác đó , những hiểu biết đó chí nh là biểu tượng
vận động, khi đã có biểu tượng vận động đúng thì người tập tiếp thu nội dung
cần học nhanh hơn. Người ta có thể tiếp nhậ n số lượng thông tin cần thiết nhờ
có tranh ảnh , băng đĩ a… nhờ có tính trực quan trong giảng dạy mà các khái
niệm trừu tượng trở nên cụ thể hơn.
1.2.2.3. Nguyên tắc thí ch hợp và cá biệt hóa
Nguyên tắc này đòi hỏi phải tí nh đến đặc điểm của người tập , đến mức
tác động của những nhiệm vụ đề ra cho họ . Muốn đạt kết quả cao thì nhiệm
vụ đặt ra phải vừa sức và tùy theo đối tượng tập luyện. Nếu nhiệm vụ quá cao,
vượt quá khả năng của người tập sẽ làm cho họ chán nản, không tin tưởng vào
bản thân và làm mất đi hứng thú với tập luyện . Mặt khác nếu nhiệm vụ đề ra
quá nhẹ nhàng sẽ làm cho người tập thiếu tích cực, thờ ơ và mất đi sự cố gắng
dẫn đến kết quả tập luyện không được như mong muốn. Trong Nhảy cao cũng
vậy, các buổi tập phải được xây dựng sao cho các hình thức tập luyện tập thể
phối hợp hài hòa với các hì nh thức tập luyện cá nhân.
9
1.2.2.4 Nguyên tắc hệ thống
Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc cơ bản trong quá trì nh dạy học
.
Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung giảng dạy phải được sắp xếp theo một tuần
tự lôgic, khoa học, số giờ học phải phù hợp với lứa tuổi, giới tí nh, trình độ tập
luyện của người tập . Nguyên tắc này cũng có nghĩa phải duy trì sự tập luyện
thường xuyên liên tục, không được để ngắt quãng để kĩ năng vận động không
bị phá vỡ.
Trong Nhảy cao cần lưu ý, nội dung của quá trì nh huấn luyện cũng phải
được sắp xếp một cách hợp lý, khoa học và đảm bảo:
+ Tính liên tục, luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi.
+ Tính lặp lại và biến dạng.
+ Tính tuần tự của các buổi tập và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt
khác nhau trong nội dung buổi tập.
Phần 2: Gồm 3 bước cuối trước khi giậm nhảy. Nhiệm vụ của phần
chạy đà này là duy trì tốc độ đã đạt được và chuẩn bị giậm nhảy, sao cho đạt
hiệu qủa cao nhất. Cụ thể là:
Bước thứ nhất: Chân giậm nhảy bước ra trước nhanh hơn bước trước
đó.
11
Bước thứ hai: Bước này dài nhất trong ba bước đà cuối.
Bước thứ ba: Đây là bước đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân đưa
thấp, vai hơi ngả ra sau.
*Giai đoạn giậm nhảy:
Sau khi đặt chân vào điểm giậm nhảy, chân giậm nhảy hơi chùng gối tạo
tư thế co cơ, sau đó dùng sức để giậm nhảy, chân giậm phải duỗi nhanh, mạnh
và có tính bột phát. Khi đá lăng chân ra trước cần chủ động dùng sức của đùi
và độ linh hoạt của khớp hông đá chân lên cao. Hai tay phối hợp gần như đồng
thời với chân lăng, đánh hơi vòng xuống dưới – lên cao, khi hai khuỷu tay đến
ngang vai thì dừng lại tạo thế nâng người lên.
*Giai đoạn trên không
Giai đoạn trên không bắt đầu từ khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất.
Tiếp theo, co nhanh chân giậm nhảy, đồng thời xoay mũi chân lăng về phía xà
(hoặc xoay gót chân lên trên) tạo cho thân người nằm nghiêng so với xà
chân giậm nhảy co phía dưới, chân đá lăng thẳng ở phía trên, giống như tư thế
nằm nghiêng (nên gọi là nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng”), hai tay phối hợp
khéo léo để qua xà.
*Giai đoạn tiếp đất:
Sau khi qua xà, chân giậm nhảy duỗi nhanh để tiếp đất, hai tay duỗi ra
chống xuống đất để chủ động giữ thăng bằng.
1.3.2 Tác dụng của việc tập luyện môn Nhảy cao ở nhà trường:
thời kì phát triển tố chất sức nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học
và Trung học cơ sở.
Sức nhanh là khả năng của con người thực hiện động tác trong thời
gian ngắn nhất [7].
13
Trong Nhảy cao thì tốc độ phụ thuộc vào các động tác nhanh và được
thực hiện với tốc độ cao.
Theo quan điểm sinh hóa: Sức nhanh phụ thuộc và hàm lượng ATP
trong cơ và tốc độ phân giải ATP, dưới ảnh hưởng xung động của các bài
tập diễn ra trong thời gian ngắn nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được
thực hiện theo cơ chế yếm khí.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng để đạt được thành tích
trong Nhảy cao, phụ thuộc rất nhiều vào các tố chất chuyên môn, đặc biệt là
tốc độ. Do vậy ta nên chọn các bài tập khác nhau, tập phản ứng lặp lại theo
tín hiệu đột ngột và phải phát triển toàn diện những khả năng chức phận của
cơ thể.
Quãng nghỉ hợp lý sao cho cơ thể phục hồi cường độ tập số lần tập
tiếp theo.
1.4.2. Cơ sở lý luận của tố chất sức mạnh:
Sức mạnh là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, lực tối đa mà
con người có thể sinh ra được một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của
động tác. Mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng
biệt và sự phối hợp giữa chúng.
Đặc trưng lượng vận động phát triển sức mạnh trong huấn luyện
chuyên môn gồm các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể và khắc phục trọng
lượng bên ngoài với sử dụng trọng lượng lớn từ 40 – 50% trọng lượng cơ thể
và hoạt động với thời gian ngắn. Vậy các bài tập nhảy, bật nhảy, các bài tập
Năng lực định hướng: Nhằm xác định thay đổi tư thế và hoạt động của
cơ thể trong không gian thời gian, năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối với
các môn mang tính kỹ thuật như: Các môn đối kháng, các môn bóng....
Cơ quan thu nhận sử lý thông tin là: Cơ quan phân tích thị giác.
15
Năng lực thăng bằng: Là năng lực ổn định trong trạng thái thăng bằng
của cơ thể sau khi thực hiện động tác. Năng lực này có ý nghĩa đặc biệt đối
với các môn thể thao như: Bơi thuyền, thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật...
Cơ quan thu nhận và sử lý thông tin là: Cơ quan phân tích thị giác tiền
đình và cảm giác cơ bắp.
Năng lực nhịp điệu: Là năng lực nhận biết sự luân chuyển các chuyển
động trong quá trình thực hiện một động tác hay thể hiện nó trong thực hiện
động tác.
Năng lực phản ứng: Là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện
các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu.
Năng lực phân biệt vận động: Là năng lực thực hiện động tác một cách
chính xác cao và tinh tế.
Năng lực thích ứng: Là năng lực chuyển chương trình hành động phù
hợp với hoàn cảnh mới.
Trong môn Nhảy cao nằm nghiêng cũng như các tố chất thể lực khác,
tố chất khéo léo là quan trọng và không thể thiếu được vì nó là cơ sở cho việc
tiếp thu nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả các hành động vận động phức
tạp đặc biệt là giai đoạn giậm nhảy trên không.
1.5. Đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh THPT.
1.5.1. Đặc điểm tâm lý.
Mặc dù là học sinh lớp 11 còn đang ngồi trên ghế nhà trường nhưng các em
thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi người tôn trọng mình, có nhiều
thống bài tập như đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản là cần thiết.
*Hệ cơ.
Các bắp cơ phát triển tương đối nhanh, các cơ co phát triển chậm hơn các
cơ duỗi. Đây là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất nên cần tập những bài phát
triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy phát triển các cơ. Vì vậy HLV phải chú ý
17
đến các bài tập, trong luyện tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và sự phát triển
cân đối của các cơ.
*Hệ tuần hoàn.
Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồng tim
hệ thống điều hòa vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ
tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng, sau vận động mạch đập và huyết áp
phục hồi nhanh chóng nên có thể tập những bài tập dai sức, có khối lượng, cường
độ lớn, khi đó HLV phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình trạng
sức khỏe của học sinh.
*Hệ hô hấp.
Phát triển tương đối hoàn thiện, diện tích tiếp xúc của phổi gần bằng tuổi
trưởng thành, dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, tần số hô hấp gần như người
lớn. Nhưng các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn lồng ngực nhỏ, chủ yếu là
co giãn co hoành, trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý rèn luyện để các
cơ ngực, cơ lườn phát triển, nên tập hít thở sâu.
Như vậy, từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh giáo viên nên đưa ra các
phương pháp và khối lượng bài tập một cách hợp lý để cơ thể các em phát triển và
dần đi đến hoàn thiện về các cơ quan, hệ thống trong cơ thể.
18
nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11 trường
THPT Mỹ Lộc – Nam Định.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này sử dụng để quan sát, theo dõi việc tập luyện môn
Nhảy cao nằm nghiêng của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc –
Nam Định. Từ đó đánh giá thực trạng việc sử dụng các bài tập chuyên môn và
rút ra được các kết luận chính xác.
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tổ chức kiểm tra sư phạm.
Mục đích của quá trình này là nhằm kiểm nghiệm trong thực tiễn độ tin cậy, tính
thông báo của hệ thống các test đánh giá trình độ kỹ thuật Nhảy cao cho đốii
tượng nghiên cứu ở hai thời điểm trước và sau thực nghiệm.
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Là phương pháp nghiên cứu mà người ta đưa nhân tố mới vào, xác định
hiệu quả của chúng so với những nhân tố khác.
Phương pháp này để đánh giá hiệu quả của các bài tập phát triển sức
mạnh trong giậm nhảy nhằm nâng cao thành tích Nhảy cao nằm nghiêng cho
học sinh nữ khối 11 trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định.
2.2.6. Phương pháp sử dụng toán thống kê
Các thuật toán thống kê sử dụng nhằm sử lý các số liệu thu được sau
khi thực nghiệm để việc rút ra kết luận có sức thuyết phục và độ chính xác
cao hơn.
* Công thức tính giá trị trung bình:
n
X
X
i 1
* Độ lệch chuẩn:
* Công thức tính hai số trung bình quan sát:
t
Trong đó:
x
B
2
2 2
nA nB
:Là số trung bình của nhóm A.
A
x
xA xB
:Là số trung bình của nhóm B.
cứu khoa học
21
2
- Thu nhập số liệu có liên T12/2011 T4/2012
- Thông tin số liệu
quan, viết tổng quan của
là nữ học sinh khối
đề tài.
11 Trường THPT
Mỹ Lộc – Nam
- Hoàn thành tổng quan đề
Định.
tài.
- Tổng quan đề tài.
- Điều tra nghiên cứu công
tác huấn luyện nâng cao
mạnh.
tập.
- Ứng dụng và đánh giá
- Kết quả hệ thống
bài tập.
bài tập.
- Hoàn thiện khóa luận tốt 4/2012
5/2012
- Hoàn thành khóa
nghiệp và bảo vệ khóa
luận.
luận tốt nghiệp.
- Bảo vệ khóa luận
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh giậm nhảy nhằm nâng
cao thành tích của môn Nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nữ khối 11
công tác lao động và bảo vệ tổ quốc trong tương lai.
3.1.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định
Trong quá trình xây dựng và phát triển, trường THPT Mỹ Lộc đã
không ngừng phát triển về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên
TDTT để đáp ứng nhu cầu mở rộng về quy mô và nâng cao chất lượng đào
23
tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường
THTP Mỹ Lộc được trình bày ở dưới đây
Bảng 3.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trƣờng THPT Mỹ Lộc –
Nam Định.
Tổng
số giáo
viên
6
Giáo
Giáo viên Thâm niên công
viên nữ
nam
2
4
buổi tập, chưa thay đổi nhiều nội dung, chưa có kế hoạch hướng dẫn và tổ
chức cho học sinh tập luyện theo các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá thể lực.
- Ngoại khoá: Song song với hình thức hoạt động TDTT nội khóa,
trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định còn tiến hành các hoạt động TDTT ngoại
khóa cho học sinh thông qua các hình thức tự tập luyện của các em, việc học
tập ngoại khoá mang tính tự phát và thường tập trung vào buổi sáng và buổi
chiều với môn thể thao được học sinh yêu thích và phù hợp với tình hình thực
tế.
Tóm lại: Việc thực hiện chương trình GDTC hiện nay chưa được triệt
để. Nội dung, phương pháp tổ chức quá trình giảng dạy chưa đáp ứng được
nhiệm vụ và yêu cầu của công tác GDTC cho đối tượng học sinh THPT. Việc
24
giảng dạy mới chỉ dừng lại ở trang bị cho học sinh một số kiến thức lý luận cơ
bản và kỹ năng thực hành ở một số môn thể thao. Quá trình giảng dạy còn
chưa chú trọng đến việc nâng cao các tố chất thể lực, tổ chức các hoạt động
ngoại khoá cho học sinh còn nhiều bất cập.
3.3.Đánh giá thực trạng phát triển sức mạnh giậm nhảy trong Nhảy cao “
Kiểu nằm nghiêng” của học sinh nữ khối 11 Trƣờng THPT Mỹ Lộc –
Nam Định.
Qua quá trình điều tra, thu nhập số liệu về thành tích Nhảy cao “Kiểu
nằm nghiêng” của học sinh nữ khối 11 Trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định,
chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 3.2: Thành tích Nhảy cao “Kiểu nằm nghiêng” của 70 nữ học sinh
khối 11 trƣờng THPT Mỹ Lộc – Nam Định.
Điểm
Thành tích(cm)
105
7
10
6
100
10
14,29
5
95
14
20
4
90
15
21,43
0
N = 70
25
Nhìn vào kết quả kiểm tra ở bảng 3.2 chúng tôi thấy được thành tích
của các em đa phần ở mức độ trung bình và dưới trung bình. Như vậy thành
tích vẫn còn ở mức thấp, hạn chế ở đây là do kỹ thuật nhảy và cách phối hợp
giữa các giai đoạn không thích hợp cho bản thân nên dẫn đến thành tích của
các em không đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra còn nhiều bất cập trong việc sử dụng hệ thống các bài tập để
phát triển sức mạnh vẫn chưa được chú trọng về thời gian và trang thiết bị
dụng cụ tập luyện hạn chế.
Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn ứng dụng và đánh giá một số bài tập phát
triển sức mạnh để nâng cao thành tích Nhảy cao cho học sinh nữ khối 11
trường THPT Mỹ Lộc – Nam Định.