TỰ PHÊ BÌNH và PHÊ BÌNH là QUY LUẬT PHÁT TRIỂN của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM (2) - Pdf 31

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH LÀ QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại
của dân tộc Việt Nam sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Từ khi ra đời đến nay,
Đảng ta luôn trung thành tuyệt đối với những nguyên lý cơ bản của học
thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào điều kiện cụ
thể của cách mạng Việt Nam để xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị,
tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho Đảng luôn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách
mạng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Trong những nguyên lý về xây dựng
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới
nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây là một trong những nguyên tắc cơ
bản chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực hiện tốt nguyên tắc này là cơ sở để phát huy tính chủ động, sáng tạo, ý
thức trách nhiệm cao của từng cán bộ, đảng viên, từng tổ chức đảng, đồng
thời huy động được tối đa trí tuệ và sức mạnh của toàn đảng trong lãnh đạo
và chỉ đạo cách mạng.
Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là nguyên
tắc, chế độ thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Tự phê bình và phê bình là
nêu ưu điểm, vạch rõ khuyết điểm của tổ chức đảng, của cấp uỷ và cán bộ,
đảng viên, qua đó tìm biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa sai
lầm, khuyết điểm, giúp tổ chức và mỗi người tiến bộ.

1


1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về tự phê bình và phê bình trong xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân


2


kết, đúc rút kinh nghiệm, thậm chí phải đấu tranh kiên quyết với những sai
lầm, khuyết điểm trong nội bộ để tiến lên. Về vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ
rõ: “Sai lầm cũng dạy chúng ta nhiều bài học. Trong lĩnh vực này cũng như
trong các lĩnh vực khác, chúng ta nói rằng chúng ta sẽ học tập bằng tự phê
bình” 3
Nhận thức đúng vai trò quan trọng của tự phê bình và phê bình, những
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cho rằng, tự phê bình và phê bình rất cần
thiết cho hoạt động và sự phát triển của Đảng. Ph.ăng-ghen nhấn mạnh, việc
Đảng phê bình hoạt động đã qua của mình là việc tuyệt đối cần thiết và bằng
cách đó, Đảng học được cách hoạt động tốt hơn. Trong thư của Uỷ ban
Thông tin cộng sản ở Bruy-xen gửi G.A.Quyết-ghen (6-1846), trên cơ sở
nắm bắt thực tiễn tổ chức và hoạt động của những người cộng sản và tổ chức
cộng sản ở một số nước, C.Mác và Ph.ăng-ghen đã chỉ ra rằng: Những người
cộng sản cần phải vứt bỏ mọi thành kiến cá nhân, xây dựng và giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí, phải tích cực ủng hộ việc đấu tranh phê bình và tự phê bình
để cho Đảng phát triển, rằng: “Trong nội bộ Đảng thì cần ủng hộ tất cả
những gì giúp Đảng tiến lên và đồng thời không được sa vào việc tranh cãi
về đạo đức một cách nhạt nhẽo” 4. C.Mác và Ph.ăng-ghen đã chỉ ra tầm quan
trọng của việc phê bình và tự phê bình là còn bởi vì, trong những hoạt động
cách mạng của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản thì “những sai lầm
về sách lược dĩ nhiên là lúc nào cũng có thể có”; và bởi vì: “Phong trào của
giai cấp vô sản không khỏi trải qua những nấc thang phát triển khác nhau; ở
mỗi nấc thang có bộ phận người bị kẹt lại, không đi xa hơn”5
Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác và PH.ăng-ghen trong giai
đoạn cách mạng mới. V.I.Lênin coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát
V.I.Lênin, Toµn tËp, tËp 37, Nxb Tiến bộ, M 1977 , tr. 205-206

chắn nhất để xem xét đảng ấy có nghiêm túc không và có thực sự làm tròn
nghĩa vụ của mình đối với giai cấp mình và đối với quần chúng lao động
không. Một đảng “công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm,
phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp
để sửa chữa sai lầm ấy, - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là
đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình”8. Người còn nhấn mạnh, trách
nhiệm của những người cộng sản là công khai phê phán những nhược điểm
trong phong trào của mình, để khắc phục được chúng một cách nhanh chóng
và triệt để hơn. Nếu cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó,
6

7

V.I.Lênin, toàn tập, tập 10. Nxb Tiến bộ. M1977 , tr. 395-396
V.I.Lênin, toàn tập, tập 54. Nxb Tiến bộ. M1978 , tr. 141.
V.I.Lênin, Toµn tËp, tËp 41. Nxb Tiến bộ. M1977 , tr. 51

88

4


a nú n ch tt cựng thỡ t mt sai lm nh, ngi ta cú th lm cho nú
tr thnh mt sai lm ln, gõy nờn nhng hu qu khụn lng cho phong
tro cỏch mng.
Ch tch H Chớ Minh l ngi sỏng lp, giỏo dc v rốn luyn ng
ta. Ngi ó vn dng sỏng to hc thuyt Mỏc - Lờ nin vo iu kin c th
ca Vit Nam gii quyt ỳng n nhng vn t ra trong quỏ trỡnh
xõy dng ng Cng sn Vit Nam, m bo cho ng ta luụn th hin
c bn cht cỏch mng v khoa hc - thuc tớnh cn bn nht ca mt

gọi "tự kiểm điểm và kiểm điểm" hoặc "tự sửa chữa" và "giúp đồng chí mình
sửa chữa"10, "tự xét và xét đồng chí mình" để nhấn mạnh ý nghĩa của tự phê
bình và phê bình trong việc khắc phục khuyết điểm. Nhng quan niệm về tự
phê bình và phê bình có ý nghĩa bao quát rộng hơn. Theo Hồ Chí Minh, "Phê
bình là nêu u điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là
nêu u điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình à phê bình
phải đi đôi với nhau"11. Điều đó có nghĩa là tự phê bình và phê bình không
phải chỉ vạch ra khuyết điểm mà phải nêu cả u điểm; nêu u điểm trớc, vạch
khuyết điểm sau; nêu u điểm và vạch khuyết điểm phải đi đôi với nhau,
không coi nhẹ ý nghĩa của một mặt nào. Điều đó biểu hiện rõ tính nhân văn
và tính khoa học - nét đặc sắc trong quan niệm về tự phê bình và phê bình
của Hồ Chí Minh.
Tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình chính là việc nêu u
điểm, vạch khuyết điểm của mình trớc và nêu u điểm, vạch khuyết điểm của
đồng chí mình sau; dù là "xét", "kiểm điểm" hay "phê bình" ngời khác thì
ngời có khuyết điểm đó cũng là đồng chí mình chứ không phải kẻ thù hay
đối địch. Cho nên, một mặt là để sửa chữa cho nhau, một mặt là để khuyến
khích nhau, "bắt chớc" nhau, cùng tiến bộ mãi. Ngời có u điểm thì phải cố
gắng phát huy, vơn lên không ngừng; ngời có khuyết điểm, bị phê bình thì
phải vui lòng nhận rõ để sửa chữa. Tự phê bình và phê bình sẽ không gây nản
chí hoặc oán ghét.
Những biểu hiện tiêu cực nh: chỉ thiên về vạch khuyết điểm của ngời
khác theo kiểu "bới lông, tìm vết" để tìm cách hạ bệ nhau, làm giảm uy tín
của nhau, thiên về phê bình ngời khác mà không nghiêm khắc tự phê bình,
chỉ nhấn mạnh u điểm khi "phê bình cấp trên" theo kiểu tâng bốc, nịnh hót...
thực chất là biểu hiện cơ hội trong tự phê bình và phê bình, hoàn toàn trái
với t tởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình.

10
11

động. "Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại
thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang. Nhng, nếu mỗi cán
bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn
to tát hơn nữa. Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì
còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít
thì thành tích nhiều"."Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các
đảng viên, mỗi ngời mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm
dồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp
đồng chí mình sửa chữa"14. Trong Đảng có nhiều khuyết điểm, cũng nh cơ
Hồ Chí Minh, Toàn tập. Tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 644
Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập7, Nxb CTQG, H, 2000, Tr.492.
14 Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 232-233.
12
13

7


thể con ngời mang bệnh trong mình. Muốn trị bệnh phải uống thuốc. Phơng
thuốc hiệu quả là tự phê bình và phê bình.
Đảng viên và cán bộ cũng là ngời. Ai cũng có tính tốt và tính xấu.
Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nớc, đã là một ngời cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính
xấu. Vì tính xấu của một ngời thờng chỉ có hại cho ngời đó; còn tính xấu của
một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.
Ngi chỉ rõ nguồn gốc của những "tính xấu", những khuyết điểm,
những chứng bệnh trong Đảng, trên cơ sở đó, có phơng pháp đúng sửa chữa
khuyết điểm. Đảng ta bao gồm đủ các tầng lớp xã hội, có nhiều tính cách, rất
trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại; song trong Đảng ta cũng không tránh
khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài
lây, ngấm vào Đảng. "Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã

17
18

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 284.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 232.

9


chức, có quyền rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, t tởng
cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trởng, quan liêu, xa rời quần
chúng. Muốn khắc phục những biểu hiện đó, cần tiến hành tự phê bình và
phê bình ráo riết, thờng xuyên. Cũng nh ngời lội bùn lâu mà nhiễm hơi bùn
thì phải tắm rửa và "phải tắm rửa lâu mới sạch".
Đội ngũ đảng viên của Đảng phần đông xuất thân từ nông dân và
nhiều giai tầng khác nhau, mang theo những đặc điểm t tởng, tâm lý, lối
sống khác nhau, điều đó tất yếu nảy sinh những mâu thuẫn trong Đảng. Đó
không phải là mâu thuẫn đối kháng, nhng cũng là nguy cơ gây mất đoàn kết,
không tập trung, thống nhất đợc t tởng, trí tuệ trong Đảng. Vì vậy, cách tốt
nhất là thờng xuyên tự phê bình và phê bình ráo riết để giải quyết hiệu quả
những mâu thuẫn đó. Mục đích của tự phê bình và phê bình chứa đựng yếu tố
cách mạng và tính nhân văn sâu sắc. Để đạt đợc mục đích ấy cần phải có thái
độ đúng, phơng pháp đúng, có lý, có tình, trên tình thơng yêu giai cấp. Trớc
hết phải có thái độ đúng trong tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh yêu cầu phê bình mình cũng nh phê bình ngời, phải triệt
để, thật thà không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả u điểm và
khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.
Phê bình việc làm chứ không phê bình ngời. Những ngời bị phê bình thì phải
vui lòng nhận để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán
ghét. Bỏc chỉ rõ: Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v..mỗi chứng

không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính
mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất
khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.
Tc ng có câu: "Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng". Khen thì dễ
nhng "phê" thì rất khó. Ai cũng muốn đợc khen mà không muốn bị chê, chê
là đụng chạm đến khuyết tật của con ngời, đụng chạm đến nó là sẽ đau.
Chính vì thế trên thực tế, không ít ngời sợ bị phê bình và ngại phê bình ngời
khác. Đó là một khuyết điểm. Mặt khác, tự phê bình và phê bình phải thật sự
dân chủ mới mong trong Đảng có nhiều sáng kiến, mới tập trung đợc trí tuệ.
Hồ Chí Minh vạch rõ hiện tợng mất dân chủ, khiến cho "các đảng viên và
cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không
dám phê bình"22. Điều đó dễ dẫn đến hậu quả: Cấp trên và cấp dới cách biệt
nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau. Trên thì tởng cái gì cũng tốt đẹp. Dới thì cái gì cũng không dám nói rõ ra. Họ không nói vì sợ bị "trù". Không
dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra
"không nói trớc mặt, chỉ nói sau lng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng
nhiều mồm", sinh ra thói "thậm thà thậm thụt và những thói xấu khác."
Vì vậy, Hồ Chí Minh ch rừ: cán bộ vừa phải dân chủ lắng nghe ý kiến
phê bình của cấp dới, của quần chúng, vừa phải "biết cách phê bình sáng
suốt, khôn khéo, nh chiếu tấm gơng cho mọi ngời soi thấu những khuyết
điểm của mình, để tự mình sửa chữa"23. Trong khi chỉ ra những yêu cầu về
thái độ, phơng pháp tự phê bình và phê bình, Hồ Chí Minh cũng đã thẳng
. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 239.

21

. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 243.
. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 243.

22
23

Minh: Đạo đức không phải trên trời sa xuống, nó là kết quả của sự dày công
rèn luyện mà trong đó tự phê bình và phê bình là một biện pháp thiết thực
nhất. Phải đặt hoạt động tự phê bình và phê bình với vấn đề đạo đức cách
mạng trong một mối quan hệ biện chứng. Thực tiễn cuộc sống luôn vận
động. Cái "tâm" cái "đức" cũng không bất biến mà nó vận động cả ở góc độ
chuẩn giá trị cộng đồng, cả ở góc độ với mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên. Vì
. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 264.

24

12


vậy, nếu quan niệm "tâm" "đức" là cái gốc rễ sức sống của tổ chức, của cách
mạng thì tự phê bình và phê bình là quá trình trao đổi chất thờng xuyên giúp
cho việc không ngừng củng cố, bồi bổ cho sức sống ấy. Hơn nữa, tự phê bình
và phê bình thờng xuyên còn làm cho cái "tâm" cái "đức" - thuộc lĩnh vực
tinh thần, t tởng - luôn ăn sâu, gắn chặt mà không xa rời những điều kiện vật
chất của nó; luôn theo kịp sự vận động của thực tiễn. Tự phê bình và phê
bình không phải là phơng thuốc quý, là cái quyền cho riêng ai, mà nó là
quyền lợi, là nghĩa vụ, là đặc trng phẩm chất cao quý của tất cả những ngời
cách mạng. Tự phê bình và phê bình giúp ngời có khuyết điểm thì tiến bộ
hơn lên, ngời tiến bộ thì tiến bộ mãi.
Hồ Chí Minh kết luận: "Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn
luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm
điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình,
thì khuyết điểm nhất định hết dần, u điểm nhất định thêm lên và Đảng ta
nhất định thắng lợi"25. Trong tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của
Đảng lên trên hết, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, tự t tự lợi, ba
hoa Phải thực hành khẩu hiệu "chí công vô t".

khuyết điểm, để vợt qua chính mình và vợt qua trở ngại, đó là sự tiến bộ hết
sức đáng khâm phục, hết sức đáng học tập và sự tiến bộ ấy bao giờ cũng bền
vững, tự tin và tự hào.
Mun xõy dng v chnh n ng thỡ phi thc hin t phờ bỡnh v
phờ bỡnh nghiờm tỳc. Ngi nhn mnh: Phờ bỡnh v t phờ bỡnh l cụng
vic thng xuyờn ca ng, ca cỏn b, ng viờn. Ngng phờ bỡnh v t
phờ bỡnh tc l ngng tin b, tc l thoỏi b. Ngi ta luụn luụn cn khụng
khớ sng. Ngi cỏch mng v on th cỏch mng cn phờ bỡnh v t
phờ bỡnh thit tha nh ngi ta cn khụng khớ. Cỏch mng s d phỏt trin
mói, tin b mói, cng gp nhiu gian kh, cng mnh m thờm, l do cú phờ
bỡnh v t phờ bỡnh27.
2. Quỏ trỡnh thc hin nguyờn tc t phờ bỡnh v phờ bỡnh trong
cụng tỏc xõy dng ng, í ngha i vi cụng tỏc xõy dng ng
nc ta hin nay.
ng t nhõn dõn m ra. Cỏn b, ng viờn ca ng cng xut thõn
t cỏc tng lp nhõn dõn lao ng. H ch khỏc qun chỳng v ý thc giỏc
ng v tớnh ng. H khụng phi l thn thỏnh, m nh V.I.Lờnin ó tng
núi: Cỏc lónh t ca cụng nhõn khụng phi l thiờn thn, khụng phi l

26
27

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 260.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG , H, 2002, tr. 242-243.

14


thánh, không phải là anh hùng, mà cũng là người như tất cả mọi người khác.
Họ cũng có khuyết điểm. Đảng sửa cho họ”28.



động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và
khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực,
có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Các mặt đó luôn mâu thuẫn với nhau, tác động
chi phối lẫn nhau. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như
thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết
mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực
đó. Mỗi người đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và
phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa
khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải thiết thực tự phê bình và phê bình.
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: tự phê bình và phê
bình là quy luật phát triển của các Đảng Cộng sản. Kế thừa và vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng và hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khéo léo sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình. Người coi đó là "luật
phát triển" trong Đảng và được Người nâng lên tầm nghệ thuật trong công
tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí
Minh về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt
động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê bình và phê bình. Đảng ta khẳng định tự
phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ
sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân
dân. Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu
thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công
nhân của Đảng. Đảng là một tổ chức chính trị, tất yếu trong quá trình vận
động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Nhưng đó không phải
là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái
tiến bộ với cái lạc hậu. Đảng lấy tự phê bình và phê bình là biện pháp cơ bản
để giải quyết những mâu thuẫn đó, tạo động lực cho sự vận động, phát triển
16



cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền và ở đó luôn nảy sinh các hiện tượng
tiêu cực trong xã hội.
Công tác xây dựng Đảng đã đạt được những kết quả nhất định như
Nghị quyết Đại hội X chỉ ra: Việc thực hiện tự phê bình và phê bình, đẩy
mạnh đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý
nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, được nhân dân đồng
tình. Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến
bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vai trò của Mặt trận
và các đoàn thể nhân dân được nâng lên. Quy chế dân chủ ở cơ sở bước đầu
được thực hiện có hiệu quả. Quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân được
tiếp tục phát huy; nhân dân hăng hái tham gia xây dựng và thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tuy nhiên, một số nơi vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự
nghiêm túc tự phê bình và phê bình. ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác,
sinh hoạt tự phê bình và phê bình chỉ còn hình thức. Người ta vẫn tổ chức
sinh hoạt đều đặn, nhưng thực chất lại tước mất linh hồn của các buổi sinh
hoạt, vấn đề tự phê bình và phê bình lại bị biến thành vũ khí cầu lợi cá
nhân…Những hạn chế đó được Đại hội X nêu lên như sau: “Cuộc vận động
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ, tổ
chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ
bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí,
quan liêu. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa nêu gương, chưa
làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Việc xử lý kỷ luật đối với những người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng
phí ở ngành, địa phương, đơn vị chưa kịp thời, kiên quyết”30.

30


sát nhau nhằm tranh giành địa vị, quyền lợi, tập hợp phe cánh, loại bỏ người
tốt, gây mất đoàn kết nội bộ. Một số tổ chức đảng còn mất dân chủ trong
19


sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Một số cán bộ lãnh đạo có thái độ độc
đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân. Trong phê bình và tự phê bình còn
có những biếu hiện hình thức, phê bình một cách chung chung, qua loa,
chiếu lệ. Khắc phục tình trạng trên, tự phê bình và phê bình phải được coi là
biện pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định. Thực hiện tốt tự phê bình và phê
bình cho phép giải quyết thấu đáo các vấn đề nảy sinh về tư tưởng, đạo đức,
lối sống một cách kiên quyết, ráo riết nhưng thiết thực, có lý, có tình, không
rơi vào tình trạng đối kháng, đao to búa lớn. Điều đó hoàn toàn đúng đắn,
phù hợp về mục đích và tính chất của tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Để phát huy tác dụng của tự phê bình và phê bình, phải nhận thức rõ
những đặc điểm trong khi tiến hành tự phê bình và phê bình hiện nay. Đó là
tình trạng nhận thức và hành động không đúng: hoặc tập trung quan liêu, gia
trưởng, độc đoán, hoặc dân chủ cực đoan. Bên cạnh đó, hiện tượng hữu
khuynh né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên làm ảnh
hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình.
Trong giai đoạn hiện nay, việc quán triệt và đẩy mạnh tự phê bình và
phê bình đang là vấn đề vừa cơ bản, lâu dài; vừa là những yêu cầu trước mắt
của cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, của quá trình đổi mới và
cải cách bộ máy hành chính, đổi mới cung cách làm việc của mỗi cấp, mỗi
ngành, mỗi cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta thật sự
trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân, hướng tới thực hiện
thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Thực hiện mục tiêu đó, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức
Đảng cần thực hiện nghiêm túc những quy định mới về tự phê bình và phê
bình mà Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đã đề ra: "Mở rộng dân

Hai là: Thực hiện thường xuyên phê bình và tự phê bình “như cơm
ăn, nước uống và rửa mặt hằng ngày”. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là
ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ. Không tự phê bình và phê bình thường xuyên,
tức là để tích tụ những mâu thuẫn, những sai lầm, khuyết điểm, những “mầm
bệnh” và càng để lâu, càng nguy hiểm.
22


Ba là: Cán bộ cấp trên, cán bộ chủ chốt phải gương mẫu thực hiện tự
phê bình và phê bình. Đây là một trong những vấn đề mấu chốt, có tính đột
phá góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của phê bình và tự phê bình
trong sinh hoạt đảng. Không tự phê bình, hoặc không tự giác phê bình, tìm
mọi cách thủ tiêu tự phê bình có nghĩa là không trung thực, không thật thà
với đồng chí, đồng nghiệp và với Đảng.
Bốn là: Có động cơ trong sáng và tình thương yêu đồng chí trong phê
bình. Mọi sự tự phê bình và phê bình đều phải xuất phát từ cái tâm, cái lý,
cái tình trong sáng, tuyệt đối không được lợi dụng tự phê bình và phê bình
để đả kích, nói xấu nhằm loại bỏ, hạ bệ nhau. V.I.Lênin đã dạy: Sự phê bình
và sự tự do đánh giá phải trên tinh thần đồng chí. “Phê phán và “luận chiến”
là cần thiết, nhưng “chỉ được phê phán công khai, trực tiếp, rõ ràng và minh
bạch chứ không phải bới lông tìm vết, không phải châm chọc, không phải
xoi mói”32 lẫn nhau.
Năm là: Có thái độ thành khẩn, trung thực, tôn trọng sự thật, lẽ phải,
không giấu giếm, bao che, thổi phồng hoặc bóp méo sự thật. Phê bình và tự
phê bình phải có nội dung cụ thể, chú trọng phê bình việc chứ không nhằm
phê bình người. Bác Hồ thường dặn “Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ.
Cho nên phê bình phải có thái độ thành khẩn, tính chất xây dựng. Không nên
phê bình ẩu, phê bình suông. Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của
khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa”33.
Sáu là: Phương pháp phê bình và tự phê bình đúng đắn, thích hợp, “lý

phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh
nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên
có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm
chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng
viên, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng. Coi trọng
kiểm tra, phát hiện nhân tố tích cực.
KẾT LUẬN
Tự phê bình và phê bình là một bộ phận cấu thành văn hóa chính trị
của Đảng ta, bởi vì chỉ có tự phê bình và phê bình thì Đảng mới giữ vững
24


được danh hiệu cao quí “Đảng ta quang minh chính đại”, “Đảng ta là đạo
đức, là văn minh”, là “hiện thân của trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân
tộc”… mà truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta hun
đúc nên. Tất cả những điều đó gắn liền với yêu cầu mỗi chúng ta phải không
ngừng phấn đấu, học tập, rèn luyện theo những nguyên lý Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh nhiều hơn nữa để chiến thắng cái “tôi” trong chính bản
thân mình, chỉ có như thế Đảng ta mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử
trong tình hình mới. Thực hiện Chỉ thị số 10- CT/TW ngày 30-3-2007 của
Ban Bí thư Trung ương, mỗi chi bộ, tổ chức của cả hệ thống chính trị, mỗi
cán bộ đảng viên của Đảng, công nhân viên chức của Nhà nước phải thường
xuyên nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, đề cao tinh thần tự phê bình và phê
bình để không ngừng tiến bộ, bảo vệ những đảng viên, cán bộ và những
người thẳng thắn đấu tranh chống các biểu hiện sai trái, tiêu cực, tăng cường
sự đoàn kết, thống nhất và tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp, đồng đội
trong Đảng, trong đơn vị và toàn dân. Các đồng chí đảng viên là cán bộ lãnh
đạo, có chức có quyền trong các đơn vị, ở các cấp phải thực sự gương mẫu
trong việc tự phê bình và phê bình, sinh hoạt chi bộ, góp phần làm cho việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status