Học viện báo chí và tuyên truyền
Khoa Lịch sử Đảng CSVN
******************
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Đề tài số 7
Phân tích khái niệm "thời kỳ quá độ từ CNTB lên
CNXH". Liên hệ làm rõ sự vận dụng của Đảng cộng
sản Việt Nam
Sinh viên:
Lớp
:Lịch sử Đảng k32
Năm học: 2013-2014
TÓM TẮT BẢN THAM LUẬN
A.Phân tích khái niệm thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
1. Khái niệm
2. Các hình thức quá độ
Thứ nhất, quá độ lên CNXH từ các quốc gia TBCN phát triển cao.
Thứ hai, quá độ lên CNXH từ các quốc gia có trình độ TBCN trung
bình hoặc thấp.
Thứ 3, quá độ lên CNXH từ các quốc gia tiền TBCN.
3. Tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ từ CBTB lên CNXH
+ Là thời kỳ cách mạng phải trải qua những khó khăn vô cùng to lớn.
+ Là thời kỳ đấu tranh giai cấp quyết liệt và có những đột biến cách
về chất từ sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác, phù hợp với
quy luật phát triển của lịch sử.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, thời kỳ quá độ lên CNXH
là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã
hội nhằm thực hiện sự chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mới-xã hội
XHCN.
Quá độ lên CNXH là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ sự chuyển biến
có tính chất cách mạng từ các yếu tố, các tiền đề còn mang tính chất TBCN
từng bước trở thành các yếu tố, các tiền đề XHCN, trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH được hiểu là sự chuyển
biến, biến đổi diễn ra trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Theo đó,
các sự vật, hiện tượng, quá trình sẽ được biến đổi từ chỗ còn mang tính chất
TBCN từng bước trở thành những sự vật, hiện tượng, quá trình mang tính
chất XHCN, dưới sự tác động của nhà nước, của giai cấp công nhân.
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH được tính từ khi giai cấp công
nhân dành được chính quyền cho đến khi xây dựng xong cơ sở vật chất-kỹ
thuật và những quan hệ xã hội căn bản của CNXH.
2. Các hình thức quá độ
Trên cơ sở kế thừa quan niệm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăng ghen và
qua phân tích,đánh giá tình hình cách mạng thế giới, Lê nin đã đưa ra 3 hình
thức quá độ lên CNXH, đó là:
Thứ nhất, quá độ lên CNXH từ các quốc gia TBCN phát triển cao.
Trên thực tế, hình thức này chưa diễn ra.
Thứ hai, quá độ lên CNXH từ các quốc gia có trình độ TBCN trung
bình hoặc thấp. Ở các quốc gia có trình độ TBCN trung bình, hình thức quá
độ lên CNXH đã diễn ra ở thế kỷ XX. Ở các quốc gia có trình độ TBCN
phát triển thấp, hình thức quá độ lên CNXH đã, đang diễn ra và đạt được
phù hợp với quốc gia mình.
4. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH là một tất yếu lịch sử, vì:
- CNXH là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế- xã hội CNCS, không
thể tự phát ra đời trong lòng xã hội cũ.
- Xây dựng CNXH phải trải qua quá trình đấu tranh gian khổ của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, dành chính quyền Nhà nước, sử dụng
bộ máy Nhà nước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới từ cơ sở hạ tầng
đến kiến trúc thượng tầng.
- Muốn có CNXH đầy đủ và hoàn chỉnh, giai cấp công nhân phải từ
những tiền đề vật chất đã có và bằng công cụ là Nhà nước XHCN để cải tạo
nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới XHCN, làm cơ sở cho một kiến
trúc thượng tầng mới và nền văn hóa mới XHCN.
- Việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một sự nghiệp cực kỳ
khó khăn phức tạp, đòi hỏi phải có thời gian cần thiết. Thời gian ấy chính là
thời kỳ quá độ lên CNXH.
Lênin khẳng định: "Cần phải có một thời kỳ quá độ lâu dài từ CNTB
lên CNXH vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian mới
thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và
phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được
sức mạnh to lớn của những thói quen quản lý theo kiểu tư sản và CNTB. Bởi
vậy, C.Mác có nói đến cả một thời kỳ chuyên chính vô sản, thời kỳ quá độ từ
CNTB lên CNXH".
5. Nội dung của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
a. Quá độ lên CNXH trong lĩnh vực xây dựng nền dân chủ và từng
bước kiện toàn hệ thống chính trị của CNTB
- Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
- Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN
Thời kỳ quá độ từ TBCN lên CNXH ở Việt Nam là quá độ từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, trình độ TBCN phát
triển thấp. Trong điều kiện, hoàn cảnh đó, Việt Nam tiến hành quá độ lên
CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN. Do những dặc điểm và tính
chất quy định, quá độ từ CNTB lên CNXH ở Việt Nam là một quá trình dần
dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phù
hợp với quy luật phát triển biện chứng của lịch sử. Lê nin chỉ rõ: " Tất cả các
dân tộc sẽ đi lên CNXH, đó là điều không thể tránh khỏi, sự quá độ đó cũng
phù hợp với xu hướng của thời đại ngày nay, thời đại mà nói chung chủ yếu
là sự quá độ từ CNTB lên CNXH". Nước ta quá độ lên CNXH không qua
giai đoạn TBCN, là một sự lựa chọn có tính lịch sử, phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nước và nguyện vọng của toàn thể nhân dân.
1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ ở Việt Nam
Thứ nhất, quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, hết
sức khó khăn. Các khó khăn của thời kỳ quá độ ấy sinh ra từ 3 nguyên nhân
khách quan, là:
Do những hạn chế, yếu kém về trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ
của Đảng, Nhà nước.
Sự chống phá của các thế lực thù địch cùng với sự cản trở của các
phong tục tập quán, ý thức bảo thủ, lạc hậu.
Những thoái hóa, biến chất về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, Đảng viên và nhân dân.
Vì vậy, quá độ từ CNTB lên CNXH ở Việt Nam chắc chắn là một thời
kỳ lâu dài, khó khăn là tất yếu, khách quan. Nhưng đi đến CNXH là con
đường duy nhất của nhân loại, không trừ Việt Nam.
Thứ hai, là thời kỳ đấu tranh giai cấp với những nội dung mới, hình
thức mới bằng phương pháp mới. Với nội dung chính trị là chủ yếu nhất.
Mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị chỉ được giải quyết khi có đường lối
miền Nam và đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục,...
Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng với hậu phương vững
chắc là miền Bắc, đã anh dũng đấu tranh giành thắng lợi, hoàn thành cách
mạng DTDCND, thống nhất nước nhà.
Quá độ lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn này, gặp phải rất nhiều
khó khăn, phức tạp. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng CSVN,
nhân dân ta đã hoàn thành về cơ bản cả hai nhiệm vụ trên.
2.2. Quá độ từ CNTB lên CNXH ở Việt Nam giai đoạn 1975-1986
Năm 1976, Việt Nam thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1980 ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của
Đảng CSVN được quyết định tại đại hội đại biểu toàn quốc năm 1976.
Đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam được Đảng đưa ra trong thời
kỳ này là công nghiệp hóa XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN
của nhân dân lao động.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả " do khuyết điểm,
sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về
lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội" dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề
ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước quá cao so với khả
năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu căn
cứ xác đáng, dẫn tới lãng phí lớn về sức người, sức của..., rất bảo thủ trong
việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của trung ương,
trong việc đánh giá và vận dụng khả năng về nhiều mặt của đất nước... kéo
dài cơ chế quan lý quan liêu, bao cấp vói cách kế hoạch hóa gò bó, cứng
nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa
phương và ngành, không tập trung những vấn đề mà trung ương cần phải
quản lý, duy trì lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp cản trở
quan, duy ý chí. Đảng ta nhận định "thời kỳ quá độ ở nước ta do tiến thẳng
lên CNXH từ một nền sản xuất nhỏ bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN
đương nhiên phải rất lâu dài và khó khăn".
Đại hội IX (tháng 4-2001), khẳng định: " Xây dựng CNXH bỏ qua chế
độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự
nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu
dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính
chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và
đấu tranh giữa cái mới và cái cũ".
Trong hàng loạt các quy luật khách quan, Đảng CSVN đã nhận thức
rõ hơn quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất. Các quy luật vận động trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, nhất là các quy luật kinh tế đã được nhận thức một cách đúng
đắn và vận dụng có hiệu quả hơn. Đại hội VI của Đảng đã nghiêm túc chỉ ra
rằng, cuộc sống cho chúng ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội và
làm trái với quy luật.
Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng quyết định
đổi mới cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là đặc
trưng của thời kỳ quá độ. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
xây dựng quan hệ sản xuất mới phà hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân
phối. Xây dựng nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng
XHCN với cơ cấu nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo.
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, và vai trò,
chức năng quản lý, điều hành của nhà nước. Nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng Nhà nước theo hướng nhà nước pháp
quyền XHCN.
Thứ tư, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện "dân