Đại học quốc gia Hà nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Đặng Minh Quảng
Quan điểm thực tiễn của triết học mác-lênin
và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam
vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Luận văn thạc sĩ Triết học
Hà nội - 2009
Đại học quốc gia hà nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
-
Đặng Minh Quảng
Quan điểm thực tiễn của triết học mác-lênin
và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam
vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Luận văn thạc sĩ Triết học
Chuyên ngành: Triết học
Mã số:
Chương 3. Sự vận dụng luận điểm “Thực tiễn cao hơn lý luận” của
Đảng Cộng sản Việt Nam vào công cuộc đổi mới đất nước ............... 61
3.1.Tách rời lý luận với thực tiễn là một trong những nguyên nhân quan
trọng gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội giai đoạn 1975 1986 ....................................................................................................... 61
3.1.1. Tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn và những nguyên nhân của nó .. 61
3.1.2. Hậu quả của tình trạng tách rời lý luận với thực tiễn............................... 72
3.2. Thực tiễn cao hơn lý luận - ý nghĩa phương pháp luận của nó đối với
công cuộc đổi mới đất nước giai đoạn 1986 - 2006................................. 77
3.2.1. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội giai đoạn 1975 -1986 dẫn đến
nhu cầu đổi mới tư duy lý luận. .............................................................. 77
3.2.2. Đổi mới tư duy lý luận và những thành tựu đã đạt được của sự nghiệp
đổi mới đất nước giai đoạn 1986 - 2006 ............................................... 79
Kết luận........................................................................................................... 97
Danh mục tài liệu tham khảo ....................................................................... 101
Phụ lục .......................................................................................................... 105
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn là điểm xuất phát, là phạm trù trung tâm của hệ thống triết học
Mác. Kể từ khi C.Mác đánh giá đúng vai trò của thực tiễn và khẳng định nó
trong triết học, ông đã vạch ra một ranh giới không thể vượt qua giữa triết học
của Mác với toàn bộ hệ thống triết học còn lại, kể cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ
nghĩa duy tâm.
Trong triết học Mác, thực tiễn được xem xét từ hai góc độ là góc độ thế
giới quan và nhận thức luận. Từ góc độ thế giới quan, phạm trù thực tiễn tạo nên
thế giới quan duy vật biện chứng, và từ góc độ nhận thức luận, phạm trù thực
tiễn tạo nên nhận thức luận biện chứng duy vật. C.Mác viết “Vấn đề tìm hiểu
trong giai đoạn trước đó, Đảng đã xác định: “Khuynh hướng chủ yếu của những
sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy
ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ
quan” [8, tr.19], “Trong lĩnh vực tư tưởng, đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý
luận và sự yếu kém về vận dụng các quy luật” [8, tr.213]. Vì vậy, từ Đại hội VI
đến nay, Đảng luôn khẳng định tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận là một
đòi hỏi vừa cấp bách, vừa thường xuyên trong suốt quá trình cách mạng. Đặc
biệt, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, đã nhấn mạnh việc cần thiết phải phát triển
lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn xây dựng đất nước.
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế cũng
như trong nước có nhiều thuận lợi, song cũng có không ít những khó khăn, thách
thức. Mỗi bước đi trong công cuộc đổi mới đều đòi hỏi sự sáng tạo về mặt lý
luận cũng như thực tiễn. Hơn bao giờ hết, thực tiễn trong giai đoạn hiện nay
đang đặt ra rất nhiều vấn đề mới cần được lý luận luận giải một cách thoả đáng,
có cơ sở khoa học. Điều đó đòi hỏi chúng ta không chỉ thừa nhận luận điểm quan
trọng của triết học Mác - Lênin “Thực tiễn cao hơn lý luận” như là một nguyên
tắc cho nhận thức và hành động, mà cần hiểu nó một cách sâu sắc từ nguồn gốc,
2
từ bản chất của mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, cơ sở để các nhà kinh điển
chủ nghĩa Mác- Lênin đưa ra luận điểm trên. Có như vậy, việc tổng kết kinh
nghiệm và đề ra phương hướng mới để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Việt
Nam mới tránh được tình trạng hoặc quá nhấn mạnh vai trò quy định của thực
tiễn dẫn đến bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, hoặc quá đề cao vai trò của lý luận
dẫn đến bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn.
Từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài “Quan điểm thực tiễn của
triết học Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn Thạc sỹ Triết học của
Việt Nam mà thực chất là bắt đầu bằng việc trở lại những yêu cầu của quan điểm
thực tiễn.
* Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
+ Khảo sát những quan điểm của C.Mác về thực tiễn, lý luận.
+ Làm rõ mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, cơ sở để V.I.Lênin đưa ra
luận điểm “Thực tiễn cao hơn lý luận” bằng cách phân tích tính hiện thực trực
tiếp, tính phổ biến của thực tiễn và so sánh thực tiễn với lý luận.
+ Khảo sát quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1954,
đặc biệt từ năm 1975 cho đến nay dưới góc độ của mối quan hệ giữa thực tiễn và
lý luận.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về phạm trù thực tiễn và mối
quan hệ giữa thực tiễn với lý luận trong một số tác phẩm kinh điển.
- Phân tích luận điểm “Thực tiễn cao hơn lý luận” của V.I.Lênin.
- Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ 1954 cho năm 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của phép biện chứng
duy vật, đặc biệt là nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận. Trong đó
thực tiễn vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm kết thúc của một chu trình nhận thức.
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp so sánh,
phân tích và tổng hợp, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể… cho phép hiện
thực hóa đề tài nghiên cứu.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đóng góp về lý luận: Luận văn tiếp tục làm rõ nội hàm của phạm trù
thực tiễn - một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Mác - Lênin,
góp phần làm sáng tỏ cơ sở khi khẳng định và vận dụng nguyên tắc “Thực tiễn
giới là gì. Bản chất hoạt động của con người và do đó là bản chất của con người
là hoạt động thực tiễn. Đó là những hoạt động vật chất phù hợp với những quy
luật khách quan mà con người đã tích luỹ được đến một thời điểm nhất định. Tuy
nhiên không phải ngay từ đầu con người đã nhận thức được bản chất đó của
mình. Do đó, cũng không hiểu được thực chất mối quan hệ của mình đối với thế
giới và vì vậy cũng không hiểu được thế giới là gì.
Có thể nói triết học Mác là hệ thống triết học đầu tiên đánh giá đúng bản
chất của con người. Chỉ đến C.Mác với một thế giới quan đúng đắn, khoa học
vấn đề bản chất của con người mới được giải quyết một cách triệt để khoa học.
Hay nói cho chính xác, với việc xác định bản chất của con người một cách đúng
đắn, C.Mác mới có một hệ thống thế giới quan thực sự khoa học. Trong đó các
ông đã thấy được vị trí của con người cũng như thực chất mối quan hệ giữa con
người và thế giới.
6
C.Mác nhiều lần khẳng định, thực tiễn là phương thức tồn tại đặc trưng
của con người, là bản chất của con người, đồng thời thực tiễn cũng chính là điểm
xuất phát trong hệ thống triết học của ông.
Như đã khẳng định, trước khi triết học Mác ra đời chưa có một trường
phái triết học nào có cách nhìn nhận đúng đắn về bản chất đích thực của con
người. Tình trạng này một phần do bản chất thực tiễn của con người bị che
khuất, chưa có điều kiện bộc lộ một cách trực tiếp. Mặt khác, do lập trường giai
cấp, các nhà triết học trước C.Mác, thậm chí là những nhà triết học duy vật điển
hình như L.Phoiơbắc cũng không có cách nhìn nhận đúng đắn về bản chất con
người. Mặc dù L.Phoiơbắc đã tự khẳng định triết học của ông lấy con người là
trung tâm, là nhân bản học. Con người theo L.Phoiơbắc không phải là nô lệ của
thượng đế, hay tinh thần tuyệt đối như quan niệm của Hêghen mà là sản phẩm
tinh tuý nhất của tự nhiên, là kết quả của qúa trình phát triển của tự nhiên. Đối
với L.Phoiơbắc bản chất của con người là bản thân con người, là cá thể người.
Theo quan niệm của C.Mác, các sự vật cần phải được nhận thức một cách chủ
quan như hoạt động cảm tính của con người, như là thực tiễn. Mọi trường phái
khác nhau của chủ nghĩa duy vật cũ đều khẳng định thế giới tự nhiên có trước
loài người và chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc cũng chỉ dừng lại ở đây. Nhưng
từ khi xuất hiện loài người, với hoạt động thực tiễn của con người thì cái bộ phận
của giới tự nhiên có quan hệ trực tiếp với hoạt động của con người đã trở thành
giới tự nhiên được nhân loại hoá. Nó không còn là “một sự vật đã tồn tại trực
tiếp từ ngàn xưa và luôn giống với bản thân nó, mà lại là sản phẩm của công
nghiệp và của trạng thái xã hội, và như vậy là sản phẩm của lịch sử, một kết quả
hoạt động của cả một thế hệ, thế hệ sau đứng trên vai thế hệ trước đó” [29, tr.62].
Vì thế C.Mác đòi hỏi phải “hiểu được rằng thế giới cảm giác là tổng số những
hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhân hợp thành thế giới ấy”.
Hơn nữa “Hoạt động đó, lao động đó và sự sáng tạo vật chất không ngừng đó,
8
nói tóm lại sự sản xuất đó là cơ sở của toàn bộ thế giới cảm giác được, đúng y
như thế giới hiện đang tồn tại, đến mức là nếu như nó bị ngưng lại dù chỉ là một
năm thì Phoiơbắc không những sữ thấy những biến đổi lớn lao trong thế giới tự
nhiên, mà toàn bộ thế giới loài người và năng lực quan sát của bản thân ông,
thậm chí cả sự tồn tại của bản thân ông cũng chẳng mấy chốc cũng sẽ không còn
nữa” [29, tr.63] .
Khác với các nhà triết học duy vật cũ, C.Mác dựa trên những thành quả
của khoa học tự nhiên và thực tiễn xã hội đã đưa ra quan niệm hoàn toàn mới về
bản thân sự tồn tại của con người, bản chất và phương thức sống đặc trưng của
lọài người. Theo các ông, sự tồn tại của con người không phải đơn thuần là giới
tự nhiên bên ngoài, là sản phẩm thuần tuý của tự nhiên như L.Phoiơbắc quan
niệm. Đó trước hết là sự tồn tại xã hội với tư cách là một quá trình hiện thực của
cuộc sống con người. Trong đó, hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là
của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức nào đó và trên ý nghĩa
nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [33,
tr.641].
Trong thế đứng đối lập với thế giới tự nhiên, con người không khác là bao
nhiêu so với các loài động vật khác. Cũng giống như muôn loài, con người cũng
chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên, sống dựa trên cơ sở của giới tự nhiên, đúng
như C.Mác đã từng khẳng định “Giới tự nhiên - cụ thể là giới tự nhiên trong
chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ
của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên” [38, tr.135]. Mặc dù vậy, con
người khác với tất cả các loài động vật khác trong quan hệ với giới tự nhiên, và
cũng chính vì thế con người cao hơn tất cả các loài vật. Tất cả các loài vật đều
sống dựa vào tự nhiên một cách trực tiếp, dựa trên điều kiện cơ thể mình (vốn
cũng do tự nhiên ban tặng, là sản phẩm của tự nhiên). Có nghĩa nếu điều kiện tự
nhiên thay đổi thì loài vật chỉ có cách thay đổi cơ thể mình để có thể thích nghi
và tồn tại. Và trong trường hợp sự thay đổi đó không đủ nhanh để thích nghi với
10
sự thay đổi của môi trường tự nhiên thì chúng sẽ bị tiêu diệt. Mọi hoạt động của
loài vật đều không để lại trong tự nhiên dấu ấn ý chí của chúng. Động vật cũng
biết tác động vào tự nhiên và luôn có ảnh hưởng đến hoàn cảnh xung quanh.
Song đối với bản thân loài vật thì đó chỉ là kết quả của những hoạt động mang
tính bản năng. Còn con người thì khác, “loài người càng cách xa loài vật bao
nhiêu thì tác động của con người vào tự nhiên càng mang tính chất của một hoạt
động có tính toán trước, có kế hoạch hướng vào những mục đích nhất định” [33,
tr.652]. Con người cũng sống trên cơ sở giới tự nhiên, nhưng con người không
sống dựa vào tự nhiên một cách trực tiếp và thụ động như loài vật. Giữa con
người và giới tự nhiên có một khâu trung gian. Đó chính là phạm vi của hoạt
động thực tiễn hay lao động sản xuất của con người. Bằng hoạt động thực tiễn
tích cực của con người” [38, tr.137].
Trong quan niệm của C.Mác, với hoạt động thực tiễn, con người không
chỉ phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình với tư cách là những cá thể
người riêng lẻ mà còn sáng tạo ra lịch sử của chính mình, lịch sử loài người.
Chính trong hoạt động lao động sản xuất, con người mới cố kết với nhau thành
những mối quan hệ xã hội nhất định. Hoạt động lao động sản xuất là cơ sở của
tất cả các hoạt động xã hội khác của con người từ kinh tế đến chính trị văn hóa.
Con người và xã hội không tách rời tự nhiên mà tồn tại dựa vào giới tự
nhiên, vào sự biến đổi tự nhiên của chính mình. Nếu không có giới tự nhiên, con
người không thể tiến hành hoạt động sản xuất được. Song đến lượt mình, sản
xuất xã hội lại trở thành điều kiện tiên quyết để con người cải biến tự nhiên, trở
thành nhân tố trực tiếp quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Chính hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động thực tiễn lại cho con người năng
lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, sáng tạo ra lịch sử loài người. Như vậy, lịch sử của
loài người là lịch sử của hoạt động thực tiễn sản xuất, tức là lịch sử của lao động.
Trong lao động con người nhận thức cải tạo thế giới tự nhiên, đồng thời từng
bước trở thành chủ nhân của giới tự nhiên. Do đó, sự khác biệt cơ bản giữa loài
12
người với loài vật chính là ở chỗ lịch sử của loài người do chính con người sáng
tạo ra trên cơ sở hoạt động thực tiễn.
Do nhu cầu khách quan, lao động của con người không ngừng phát triển.
Bắt đầu từ khi chế tạo được công cụ lao động đơn giản nhất thì “từ thế hệ này
sang thế hệ khác, chính ngay lao động cũng ngày càng nhiều vẻ hơn, hoàn thiện
hơn, có nhiều mặt hơn” [33, tr.650]. Như vậy, sự phát triển về phương diện tự
nhiên của hoạt động thực tiện, tức là lao động (mối quan hệ giữa con người với
giới tự nhiên) khi phát triển đến một trình độ nhất định lại quy định hình thức và
trình độ của các mối quan hệ xã hội. Tức là quyết định một hình thức tương ứng
Như trên đã nói, tất cả các trường phái triết học trong lịch sử đều đi tìm lời
giải đáp cho câu hỏi “thế giới là gì?” Nhưng khả năng hiểu biết của con người về
thế giới lại phụ thuộc vào mức độ con người thâm nhập vào thế giới đến đâu.
Điều này có nghĩa chính mối quan hệ giữa con người với thế giới và sự hiểu biết
về mối quan hệ đó quyết định câu trả lời của con người về câu hỏi thế giới là gì.
Mối quan hệ giữa con người và thế giới chính là phương thức tồn tại của con
người - hoạt động thực tiễn. Như vậy, một trình độ phát triển nhất định của thực
tiễn quyết định trình độ của quan niệm chung của con người về thế giới và chính
bản thân con người, tức là quyết định trình độ thế giới quan của con người. Nói
cách khác, thế giới quan được chủ thể nhận thức trên cơ sở tự nhận thức của chủ
thể về chính mình. Do đó, tùy thuộc vào trình độ của hoạt động thực tiễn mà mỗi
thời đại khác nhau có thế giới quan khác nhau.
Mặt khác, mỗi nhà triết học khi đề cập đến vấn đề thế giới quan là nhân
danh thời đại mình, đồng thời họ lại thuộc về một tầng lớp, một giai cấp cụ thể
với một lập trường riêng nào đó. Họ trả lời câu hỏi thế giới là gì, con người có vị
trí như thế nào trong thế giới ấy đạt đến trình độ nào, một mặt phụ thuộc vào sự
hiểu biết của họ về thực tiễn, đồng thời lại phụ thuộc vào lập trường giai cấp của
họ.
14
Như phần trên chúng ta đã biết phương thức tồn tại hay bản chất của con
người là hoạt động thực tiễn, tức là hoạt động vật chất, phù hợp và nương theo
những quy luật của thế giới khách quan mà con người đã tích luỹ được đến một
thời điểm nhất định. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu, con người đã nhận thức
được bản chất đó của mình. Do đó, cũng không hiểu thực chất mối quan hệ của
mình với thế giới và vì vậy cũng hiểu thế giới là gì một cách đúng đắn.
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra bản chất thực tiễn của con người và
của đời sống xã hội. Phát hiện ấy của các ông cũng chính là do sự phát triển của
đều bó tròn trong những biểu tượng tôn giáo” [29, tr.26]. Bởi theo những nhà
triết học thuộc phái Hêghen trẻ vấn đề quan trọng nhất là phải đấu tranh phê
phán lại những ảo tưởng của ý thức, cái mà họ cho rằng có một sự tồn tại độc lập
và là xiềng xích thực sự đối với con người. Do đó “ngoài những câu nói ra, họ
chẳng có cái gì khác hơn để chống lại những câu nói ấy, và nếu họ chỉ đấu tranh
chống lại những câu nói của thế giới thôi thì họ tuyệt nhiên chẳng đấu tranh gì
chống lại thế giới hiện thực, hiện tồn ấy cả” [29, tr.28].
Thực ra, những tư tưởng của C.Mác về thực tiễn và vai trò quyết định của
thực tiễn đối với lịch sử đã hình thành những nét phác thảo ngay từ tác phẩm
“Gia đình thần thánh”, thông qua việc phê phán phái Hêghen trẻ. C.Mác cho
rằng, phái Hêghen trẻ chưa xác lập được quan điểm thực tiễn về con người mà
chỉ dừng lại ở sự “phê phán cõi thượng giới”. Họ cổ vũ cho triết học “tự ý thức”
nhằm đề cao tác dụng sáng tạo của tinh thần, hạ thấp và coi vật chất không có vai
trò gì. Họ đả kích, vu cáo công nhân là đám quần chúng “không biết phê phán”,
là loại “vật chất” tiêu cực. Trong tình hình thực tiễn lúc bấy giờ, quan điểm của
phái Hêghen trẻ cực kỳ có hại tới phong trào của công nhân đang lên và cần có
một đường lối triết học để chỉ dẫn. Vì vậy, trong Lời tựa của tác phẩm Gia đình
thần thánh, C.Mác,Ph.Ăngghen đã chỉ ra trước hết, “ở Đức, chủ nghĩa nhân đạo
hiện thực (chủ nghĩa cộng sản- Đ.M.Q) không có kẻ thù nào nguy hiểm hơn chủ
nghĩa duy linh, tức chủ nghĩa duy tâm tư biện” [28, tr.13]. Đó chính là quan
16
niệm “anh hùng làm nên lịch sử” được luận chứng thông qua triết học “tự ý
thức”. C.Mác vạch rõ “Nó thay thế con người hiện thực bằng “tự ý thức” hoặc
tinh thần và cùng với nhà truyền đạo nó giảng dạy rằng “tinh thần đem lại sinh
khí, còn thể xác thì yếu đuối, bất lực” [28, tr.13].
Theo quan niệm của phái Hêghen trẻ, việc quần chúng công nhân bị lăng
nhục và bóc lột dưới chế độ tư bản đều bị coi là “tư tưởng thuần tuý”, chỉ tồn tại
Hêghen và phái Hêghen trẻ trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác đã ý
thức được việc cần thiết phải đề xuất quan điểm duy vật về lịch sử, với tư cách là
cơ sở triết học của chủ nghĩa cộng sản khoa học. Dự định đó được C.Mác thực
hiện trong Bản sơ thảo “Những luận cương về L.Phoiơbắc”. Mặc dù đây mới chỉ
là “những bút ký ghi vội vàng”, nhưng như Ph.Ăngghen nhận xét, đó chính là
“những nguyên lý xuất phát của một thế giới quan mới, là những luận cương vô
cùng quý giá vì đó là văn kiện đầu tiên chứa đựng mầm mống thiên tài của một
thế giới quan mới” [34, tr.528]. Nếu nói rằng “Luận cương” là bản sơ thảo của
thế giới quan mới thì phạm trù thực tiễn chính là điểm xuất phát.
Trong “Luận cương”, lần đầu tiên C.Mác gọi triết học của mình là “Chủ
nghĩa duy vật mới” để phân biệt với “triết học mới” của L.Phoiơbắc. Bởi như
C.Mác đã khẳng định trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức viết ngay sau đó “Hoàn
toàn trái với triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ
dưới đất đi lên trời, tức là chúng ta không xuất phát từ những điều mà con người
nói, tưởng tượng, hình dung, chúng ta cũng không xuất phát từ những con người
chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, trong biểu tượng của
người khác, để từ đó mà đi tời những con người bằng xương bằng thịt; không,
chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là
cũng xuất phát từ quá trình đới sống hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát
triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống
ấy” [29, tr.37]. Mặt khác, theo quan niệm của V.I. Lênin, chủ nghĩa duy vật cũ
cho đến L.Phoiơbắc, loại triết học đó là chủ nghĩa duy vật “nửa dưới”, chỉ duy
18
vật trong lĩnh vực tự nhiên còn duy tâm khi xem xét về lịch sử. “Chủ nghĩa duy
vật mới” của C.Mác “mới” ở chỗ hoàn thiện cấu trúc triết học của chủ nghĩa duy
vật, đó là chủ nghĩa duy vật hoàn bị, duy vật cả trong lĩnh vực tự nhiên và xã hội.
Điều này có được cũng là do C.Mác, đã nhìn nhận đúng bản chất thực tiễn của
của phái Hêghen, đặc biệt anh em Bau, “Thành thử mặt năng động được chủ
nghĩa duy tâm phát triển , đối lập với chủ nghĩa duy vật, nhưng chỉ phát triển
một cách trừu tượng vì chủ nghĩa duy tâm dĩ nhiên không hiểu hoạt động hiện
thực, cảm giác được, đúng như là hoạt động hiện thực, cảm giác được” [29, tr.9].
Như vậy, với việc lý giải “hoạt động cảm giác của con người”, C.Mác đã chỉ ra
nguyên nhân khiến chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc và chủ nghĩa duy tâm của
Hêghen không có khả năng phát triển tới quan điểm khoa học về lịch sử.
Trong Luận cương, C.Mác cũng khẳng định thực tiễn không chỉ là tiền đề
duy vật để hiểu đời sống xã hội loài người mà còn là chìa khoá để hiểu động lực
phát triển của xã hội, là cơ sở hiện thực của sự phát triển của xã hội. Chủ nghĩa
duy vật Pháp thế kỷ XVIII quan niệm rằng “con người là sản phẩm của giáo dục
và hoàn cảnh”, có nghĩa con người biến đổi cùng với sự biến đổi của giáo dục và
hoàn cảnh. Do đó, họ cho rằng cần phải tìm ra những con người thúc đẩy sự biến
đổi của hoàn cảnh và nền giáo dục, những người đó đứng trên xã hội. Như vậy,
chủ nghĩa duy vật cũ đã không hiểu được mâu thuẫn giữa con người với hoàn
cảnh, cho nên khi nhận thức động lực của lịch sử họ sa vào quan niệm “anh hùng
làm nên lịch sử”. C.Mác đã chỉ ra rằng: “Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn
cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một
cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng” [29, tr.10]. Trong quá trình thực
tiễn, đồng thời với việc làm biến đổi hoàn cảnh, con người cũng làm biến đổi bản
thân mình. Sự thay đổi của hoàn cảnh và sự phát triển của bản thân con người
đều là kết quả của hoạt động thực tiễn. Quá trình thực tiễn của con người chính
là quá trình phát triển tiệm tiến của lịch sử.
20
Trên cơ sở đó, C.Mác phê phán quan điểm lịch sử của L.Phoiơbắc, quan
điểm này chỉ chú trọng đến “đối tượng của cảm tính” chứ không phải là “hoạt
động cảm tính”. Quan hệ giữa chủ thể và khách thể của lịch sử chỉ được giới hạn