tư tưởng hồ chí minh về vấn đề tôn giáo và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam trong giai đoạn - Pdf 34

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
--------------------

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN
GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY

HÀ NỘI, 2013


2


3

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................................3
Chương 1................................................................................................................................5
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO......................................................................5
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo..................................................5
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo..............................................................9
1.3. Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo........................................................21
Chương 2..............................................................................................................................23
ĐẢNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ......................................................23
TÔN GIÁO VÀO CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.............................23
2.1. Khái quát đặc điểm tình hình tôn giáo ở Việt Nam...................................................23
2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo theo

cả mọi vấn đề đều có lợi thế vì nó còn đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Mỗi một quốc gia đều có những nét riêng về văn hóa, chính trị, nhưng sự du
nhập tràn lan của văn hóa nước ngoài khiến cho người dân khó có thể lựa
chọn được những kiến thức về văn hóa, xã hội phù hợp với trình độ nhận thức
của bản thân mình. Tôn giáo vì thế ngày càng trở nên nhạy cảm và dễ bị kẻ
thù lợi dụng. Nó đặt ra một bài toán mới về chính sách tôn giáo phù hợp cho
Đảng và nhà nước ta. Nhưng những thủ đoạn của kẻ thù ngày càng tinh vi,
sức phá hoại ngày càng lớn hơn. Vì vậy, vấn đề nhận thức sự đúng đắn trong
chính sách tôn giáo ngày càng trở nên quan trọng. Không phải ai cũng có đủ
năng lực để nhận thức đúng đắn, biết tiếp thu vấn đề một cách chính xác mà
không bị “hòa tan” vào “nó” hoặc sẽ không đi nhầm đường. Kẻ thù cũng đã
lợi dụng sự hòa nhập này để tiến hành âm mưu của mình. Một bộ phận nhỏ
người dân không có lập trường vững chắc đã bị lung lay trước luận điệu của
kẻ thù.
Tôn giáo đã và đang trở thành một điểm nóng và nhạy cảm trong
đường lối xây dựng đất nước hiện nay. Vì vậy, việc làm rõ tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề tôn giáo trong tình hình hiện nay là việc làm cần thiết, nhằm
nâng cao nhận thức, quan điểm, thái độ cách nhìn nhận cho quần chúng và là


5

cơ sở lí luận giúp cho Đảng đề ra các chính sách giải quyết vấn đề tôn giáo tín
ngưỡng một cách đúng đắn.
Từ những nhận thức khoa học ban đầu như vậy, tôi đã chọn “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

mà còn cố gắng để thu hút vào trong Đảng Dân chủ xã hội tất cả những công
nhân nào còn tin ở thượng đế, chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc
phạm nhỏ nào đến những tín ngưỡng tôn giáo của họ” [4, tr.131].
Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo được Hồ
Chí Minh kế thừa và phát triển, nó quyết định bản chất cách mạng và khoa
học của tư tưởng Người về tôn giáo, trang bị cho Người thế giới quan và
phương pháp luận khoa học trong việc nhận thức và giải quyết vấn đề tôn
giáo – tín ngưỡng trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam.
1.1.2. Kế thừa những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách sâu sắc những giá trị tư
tưởng tốt đẹp của dân tộc. Đây là những giá trị đã hun đúc qua hàng ngàn
năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là truyền thống kiên cường bất khuất
trong đấu tranh chống ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động, đoàn kết
cộng đồng, coi trọng đạo lí đặc biệt là yêu chuộng hòa bình. Có thể thấy rằng
các tôn giáo du nhập vào nước ta chủ yếu đều bằng con đường hòa bình,
chung sống với nhau cũng rất hòa bình dù đó là tôn giáo nội sinh hay ngoại
sinh, Người Việt Nam luôn lấy phương châm “hòa nhi bất đồng” dễ thích ứng
để lựa chọn cái hay cái đẹp làm giàu vốn văn hóa truyền thống của mình.


7

Ngoài ra, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, nhưng lại có đặc
điểm là thống nhất trong đa dạng.
Trong tất cả các giá trị đó thì chủ nghĩa yêu nước của Việt Nam là cơ
sở quan trọng hàng đầu hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và
về tôn giáo nói riêng. Chủ nghĩa yêu nước là động lực thôi thúc người ra đi
tìm đường cứu nước, đồng thời cũng là cơ sở hàng đầu để người nhận thức
giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta nhằm đoàn kết toàn thể nhân dân không
phân biệt tôn giáo tín ngưỡng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Việc Người

hóa, đề cao nhân dân.
∗Ở Phương Tây
Hồ Chí Minh thấy cái tinh túy nhất trong giáo lý của Thiên chúa là mục
đích cao cả nhằm giải phóng chúng sinh, vì hạnh phúc của con Người. Vì vậy,
Người đã tìm thấy nét tương đồng giữa mục đích của Chúa với mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội đều hướng tới con người. Mặc khác, là một tôn giáo nên nó
có hạn chế nhất định như thế giới quan duy tâm, đấu tranh vì mục đích tự do,
hạnh phúc con người, nhưng lại được hưởng ở trên thiên đàng chứ không phải
ở thế giới hiện thực.
Hồ Chí Minh không hề định kiến với Thiên Chúa giáo mà còn thấy
được những giá trị văn hóa, đạo đức trong tôn giáo ấy. Đồng thời Người rất
chú trọng đến việc tuyên truyền đồng bào Thiên Chúa giáo và các linh mục
cảnh giác với những kẻ đội lốt tôn giáo chống phá cách mạng. Người đã giải
quyết một cách đúng đắn và hài hòa nhất với đồng bào Thiên Chúa giáo,
nhằm phát huy đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng
xã hội mới.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chắt lọc, tiếp thu những gì tốt đẹp nhất của
các tư tưởng tiến bộ tôn giáo trên thế giới. Như một nhà báo nước ngoài đã
nhận xét: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn
ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách


9

mạng Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả được bao bọc
trong một dáng dấp rất tự nhiên” [1, tr.19].
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.2.1.Các giai đoạn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

∗ Trước năm 1945

một nước mà có hàng ngàn năm có hiện tượng độc đáo là Nho – Phật – Đạo
dung hợp cả trong tư tưởng và thực tiễn, Hồ Chí Minh vừa chịu ảnh hưởng
của tư tưởng, nề nếp gia phong Nho giáo, vừa chịu ảnh hưởng của các tôn
giáo khác như Phật giáo … Điều đặc biệt là Hồ Chí Minh đã nhận thấy cái
chung là tính hướng thiện, một giá trị đích thực của các tôn giáo, Người nói :
“ Phật Thích Ca dạy đạo đức là từ bi
Khổng Tử dạy đạo đức là nhân nghĩa” [11, tr.225].
Hồ Chí Minh còn phân biệt tín ngưỡng tôn giáo bản địa với tôn giáo du
nhập vào nước ta: “Người An Nam không có linh mục, không có tôn giáo
theo cách nghĩ của Châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện
tượng xã hội. Chúng tôi không có những người tư tế nào, những người già
trong gia đình thực hiện những nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi không biết đến
uy tín của những thầy cúng, của linh mục là gì”. Nhận rõ tính hòa đồng của
tín ngưỡng, tôn giáo cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam, Hồ Chí Minh
đã đưa ra chủ trương hết sức quan trọng, đó là liên kết toàn dân, không phân
biệt già trẻ tôn giáo, giầu nghèo cùng đoàn kết chung sức, chung lòng đấu
tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và thực hiện quyền bình đẳng, tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, Người viết:
“ Hội hè tín ngưỡng báo chương
Họp hành đi lại có quyền tự do” [8, tr.152].
Những bài viết của Hồ Chí Minh trước năm 1945 về tín ngưỡng tôn
giáo tuy chưa nhiều, song là những phác thảo quan trọng, tạo cơ sở cho quan


11

điểm của Người về tín ngưỡng, tôn giáo ở giai đoạn sau cách mạng Tháng
Tám 1945.
∗Giai đoạn sau năm 1945
Với tư cách là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, ngay sau khi giành

1.2.2.1 Tất cả mọi tôn giáo đều hướng tới giá trị nhân đạo của con người
Hồ Chí Minh trong vai trò là người đứng đầu Đảng, Nhà nước rất chú
trọng đến chính sách tôn giáo. Tư tưởng về chính sách tôn giáo của Hồ Chí
Minh được hình thành từ truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm về dân tộc
của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thực chất tư
tưởng về chính sách tôn giáo của Hồ Chí Minh là nhằm xây dựng, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cho nên
chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người thể hiện tính nhất quán lâu dài,
thực sự tôn trọng đối với các tôn giáo và sự mềm dẻo khéo léo trong xử lí các
vấn đề tôn giáo
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ tác dụng quan trọng của tín ngưỡng, tôn
giáo với sự hình thành đạo đức của con người. Hồ Chí Minh đã tìm thấy cái
chung của các tôn giáo là đều phản ánh khát vọng tự do và hạnh phúc của quần
chúng bị áp bức, đau khổ, thấy rõ tính nhân văn của các tôn giáo chân chính là
hướng tín đồ, hướng nhân loại tới bình đẳng, bác ái, khuyên con người làm
điều thiện, loại trừ cái ác.
Từ lòng ngưỡng mộ các vị sáng lập ra một tôn giáo, đặt họ ngang
hàng với các vĩ nhân sáng lập một học thuyết lớn, một chủ nghĩa lớn. Người
nêu rõ giá trị đạo đức của từng tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác
ái/ Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi/ Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân
nghĩa”[7, tr.225]. Hồ Chí Minh coi Chúa Giêsu, Khổng Tử, Các Mác, Tôn


13

Dật Tiên đều là các bậc vĩ nhân của nhân loại và tự nhận mình là người học
trò nhỏ của các vị đó.
Người luôn ca ngợi lòng nhân ái, đức hi sinh của Chúa Giêsu trong
những bức thư gửi đồng bào Công giáo nhân dịp lễ Nôen. Trong bức thư
năm 1945, Hồ Chí Minh viết: “Đức Thiên Chúa là tấm gương hi sinh triệt

người cuộc sống dương thế chỉ là tạm bợ. Phật khuyên con người nhẫn nại tu
luyện thoát khỏi vòng luân hồi để đến cõi niết bàn cực lạc. Chúa khuyên con
người chăm chỉ cầu nguyện, rửa sạch mọi tội lỗi để được lên thiên đường.
Hồ Chí Minh thương yêu con người sống thực trên thế gian này và chỉ ra
nguyên nhân gây nên mọi nỗi khổ đau cho con người bị áp bức; từ đó hướng
họ tới con đường cách mạng, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, con đường để mỗi người hoàn toàn có quyền tự do lao động sáng tạo, tự
do tôn giáo, tín ngưỡng.
1.2.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
* Đoàn kết tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong chiến lược đại
đoàn kết dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội.
Theo Hồ Chí Minh cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không
phải của một hai người. Vì vậy, để thực hiện đại đoàn kết dân tộc thì phải tập
hợp lực lượng. Trong đó có đoàn kết giữa những người có tôn giáo và những
người không có tôn giáo, đồng bào các tôn giáo khác nhau là mục tiêu và
nhiệm vụ hàng đầu. Dưới chế độ thực dân phong kiến đồng bào có tôn giáo
hay không tôn giáo đều bị áp bức nặng nề. Khi Tổ quốc bị mất độc lập thì các
tôn giáo cũng không được tự do. Vì vậy đồng bào cần đoàn kết lại và đoàn kết
với toàn dân đấu tranh giành độc lập.
Năm 1941, khi phân tích tình hình thế giới, Hồ Chí Minh đã đưa nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Và chỉ đạo tập hợp mọi lực lượng yêu
nước trong đó có đồng bào các tôn giáo….Đặc biệt là Hội phật giáo cứu quốc


15

và Hội Cơ đốc giáo cứu quốc đã tham gia rất tích cực trong mặt trận Việt
Minh, hình thành một khối đoàn kết thống nhất cùng chống Pháp, Nhật.
Ngoài ra các tổ chức tôn giáo khác cũng nhanh chóng thu hút các tín đồ, chức

sách mỏng nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với đồng bào công giáo
và lên án hành động xấu xa của Bảo Đại, lợi dụng đồng bào công giáo để
chống phá kháng chiến: “Ngày xưa vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị và vua Tự
Đức cậy thế quân chủ giết hại giáo sĩ ngoại quốc và đồng bào công giáo Việt
Nam, thực dân Pháp mượn cớ ấy để chia rẽ dân tộc ta và cướp nước ta. Sau
80 năm áp bức dân ta, thực dân Pháp bị đánh đổ, nước ta được giải phóng.
Thực dân Pháp lợi dụng thủ đoạn cũ mong chia rẽ lương-giáo, để làm kém
lực lượng chiến đấu của ta và cướp nước ta một lần nữa.
Song thực dân Pháp quên rằng:
- Việt Nam ngày nay đã hoàn toàn đoàn kết, giáo cũng như lương, kiên
quyết kháng chiến để tranh lấy thống nhất, độc lập cho tổ quốc.
- Đồng bào công giáo quyết thực hiện khẩu hiệu: Phụng sự thiên chúa,
phụng sự tổ quốc và đều hiểu rằng kính chúa mà không biết yêu nước là chưa
kính chúa, mà yêu nước thì phải kháng chiến” [3, tr.139].
Sau 1945, hoàn cảnh lúc này là chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc,
cục diện chiến tranh lạnh đang hình thành, trong đó sự đối đầu giữa công giáo
và cộng sản là rất gay gắt. Vậy mà một chính phủ non trẻ do Hồ Chí Minh
lãnh đạo lại có thể huy động được đông đảo chức sắc tôn giáo vào mặt trận
đứng về phía đảng, bí quyết thành công này chính là sự thắng thế của tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng nhất về việc thực hiện khối đoàn kết
tôn giáo, Người không kì thị bất cứ một tôn giáo nào mà luôn quan tâm thăm
hỏi đồng bào các tôn giáo, đặc biệt là vào các dịp đại lễ Nôen.


17

Ngày 13-7-1945, Hồ Chí Minh tiếp đại biểu của ba tôn giáo lớn là
Công Giáo, Phật Giáo và Cao Đài, Người tuyên bố rằng: dân tộc có được giải
phóng thì tôn giáo mới được giải phóng, cho nên lúc này chỉ có quốc gia là

chúa trên các tầng trời hòa bình cho mọi người lành dưới thế”. Vì vậy, nếu
giáo dục tốt và biết quan tâm chăm lo đời sống mọi mặt của họ thì giáo dân có
thể đấu tranh đến cùng “sống theo Đảng, chết theo Chúa”. Người nhắc nhở
cán bộ chú ý đến việc chăm lo sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tinh thần
giáo dân.

∗ Đoàn kết tôn giáo thì phải đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng tôn
giáo, tín ngưỡng để chống phá cách mạng.
Từ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù là luôn tìm cách chia rẽ nhân
dân ta bằng việc kích động, gây mâu thuẫn đồng bào theo đạo và không theo
đạo, giữa các đạo với nhau. Chúng tuyên truyền cộng sản là vô thần sẽ tiêu
diệt tôn giáo, thà mất nước còn hơn mất chúa,… Trên thực tế một bộ phận
giáo dân đã mắc mưu, ngộ nhận tin theo kẻ thù. Vì thế, Người yêu cầu phải
thường xuyên nêu cao tinh thần, đấu tranh vạch rõ thủ đoạn của địch, tuyên
truyền giải thích các chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người đã lên án mạnh mẽ bọn
thực dân Pháp cấu kết với các giáo sĩ, chức sắc công giáo để xâm lược nước
ta. Người nói: “Như vậy là người dân An Nam không chỉ trói buộc vào một
chiếc cột mà họ còn bị đóng đinh bởi bốn thế lực liên hợp: Nhà nước, tên
thực dân, nhà thờ, tên lái buôn”[13, tr.160]. Hồ Chí Minh coi bọn đội lốt tôn
giáo để chống phá cách mạng không những là Việt gian mà còn là giáo gian.
Chính vì vậy, để thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn quan
tâm đến việc giáo dục quần chúng phân biệt quyền tự do tín ngưỡng với việc
lợi dụng nó để chống phá cách mạng có như vậy mới thực hiện được chiến
lược đoàn kết dân tộc nói chung và tôn giáo nói riêng.


19

1.2.2.3. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

không thể đoàn kết được lực lượng. Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin thiêng
liêng, giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống tin thần và chi phối tâm tư
tình cảm của đồng bào các tôn giáo. Do đó, vi phạm niềm tin tôn giáo là vi
phạm tín đồ chia rẽ khối đoàn kết là mắc vào âm mưu thâm độc của kẻ thù.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Tất cả mọi người có quyền nghiên cứu một
chủ nghĩa “tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô tin ở chúa Trời cũng
như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin
tưởng”[13, tr.165]. Mặc dù thế giới quan cách mạng và thế giới tôn giáo khác
nhau, song không vì thế mà đối đầu, phải tôn trọng đức tin của mọi người. Do
vậy, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ năm 1945, Hồ Chí
Minh tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do lương - giáo đoàn kết”. Không chỉ bằng
lời nói mà còn thể hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Trong bản hiến pháp
đầu tiên 1946 của chúng ta đã ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tín
ngưỡng”. Trong chính cương mặt trận Liên Việt điều thứ 7, điểm 1 viết: “Tôn
trọng tự do tính ngưỡng, tự do thờ cúng tổ tiên” [2, tr.359].
Năm 1951, trước luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, Hồ Chí Minh cũng
tuyên bố: vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao Động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng của mọi người.
Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ngày 8-3-1955, một lần nữa Người
khẳng định chính sách nhất quán, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo và khẳng định: Chính phủ nhất định làm đúng như
vậy. Đến ngày 14-6-1955, Bác đã kí sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo, gồm
5 chương và 16 điều rất chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do
thờ cúng của nhân dân, không ai xâm phạm quyền tự do ấy. Mọi người Việt
Nam đều có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mọi công


21

22

ổn định chính trị xã hội, sự vững mạnh và phát triển của nước Việt Nam độc
lập, có chủ quyền.
Trước đây cũng như hiện nay, nước ta luôn bị các thế lực thù địch “
nhòm ngó”, chống phá. Vì Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng về kinh
tế, quốc phòng. Hơn nữa, Việt Nam lại là một quốc gia đa dân tộc, tín ngưỡng
nên vấn đề tôn giáo hết sức phức tạp.
Những năm qua ở nước ta đã xuất hiện một số hoạt động lợi dụng tôn
giáo; hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái phép, hoạt động móc nối với
cá nhân, tổ chức phản động và tôn giáo lưu vong để chống phá cách mạng…
Trước tình hình đó, các cấp chính quyền, các lực lượng, các nghành có liên
quan đã tiến hành nhiều biện pháp công tác để ổn định chính trị - xã hội, phát
triển kinh tế, giữ gìn An ninh trật tự…Tuy nhiên, hiệu quả còn hạn chế trên
nhiều mặt. Vẫn còn có nhận thức, quan điểm khác nhau về tôn giáo và hoạt
động lợi dụng tôn giáo, dẫn đến cách giải quyết khác nhau, tả khuynh hoặc
hữu khuynh. Điều đó đã làm cho tình hình các mặt ở nước ta phức tạp hơn,
ảnh hưởng không tốt đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời
sống cho nhân dân, An ninh trật tự đất nước.
Chính vì lẽ, trong giai đoạn hiện nay, vận dụng những tư tưởng của Hồ
Chí Minh về tôn giáo là một tất yếu khách quan, giúp cho Đảng hoạch định
được các đường lối, chiến lược, giải quyết đúng đắn, hài hòa các vấn đề tôn
giáo ở nước ta giai đoạn hiện nay.


23

Chương 2
ĐẢNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
TÔN GIÁO VÀO CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

khoan dung trong sinh hoạt tôn giáo
Một là, tính đan xen hòa đồng thể hiện ở sự tồn tại hòa bình của nhiều
loại hình tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của người Việt. Trong
lịch sử, người Việt đã từng tiếp nhận nhiều tôn giáo như Đạo giáo hay Khổng
giáo từ Trung Hoa xuống; Ấn giáo hay Phật giáo từ Ấn Độ sang,…Ngày nay
là cả những tôn giáo du nhập từ phương Tây như Công giáo hay Tin lành,…
Hai là, tính đan xen, hòa đồng thể hiện ở sự hiện diện của nhiều loại
thần thánh, tiên, phật…trên điện thờ của một số tôn giáo như điện thờ Phật
giáo Đại thừa, mà điển hình hơn cả là điện thờ của đạo Cao Đài.
Ba là, tính đan xen hòa đồng thể hiện tâm thức đa thần giáo của người
Việt. Có thể thấy, ở người Việt, một cá nhân cũng có thể tham gia nhiều hành
vi tôn giáo khác nhau. Và tính đan xen hòa đồng còn thể hiện ở một số giáo
sĩ, chức sắc tôn giáo thông hiểu am tường giáo lý của nhiều tôn giáo khác
nhau.
2.1.3. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thần thánh hóa những người có
công với đất nước, với dân
Việt Nam là một quốc gia luôn phải chống chọi với thiên nhiên khắc
nghiệt, đặc biệt là đấu tranh chống lại nạn ngoại xâm, do đó các vị thánh thần
được người Việt Nam tôn thờ phải là những người có công với nước, với dân
( ngoại trừ một số ít các vị thần của Đạo giáo hay Phật giáo…). Vì vậy, từ xa
xưa ở Việt Nam đã hình thành nên một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo tương
ứng với mối quan hệ giữa nhà – làng - nước, đó là thờ cúng tổ tiên trong gia
đình, dòng họ; thờ cúng thần Thành hoàng của làng; và thờ vua Hùng – Tổ
chung của cả dân tộc.


25

Trong thời gian gần đây, những người có công lao to lớn trong chống
Pháp, chống Mỹ cũng được quần chúng nhân dân tạc tượng, thờ phụng, trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status