ảnh hưởng của liều lượng đạm hạt vàng chậm tan đến sinh trưởng và năng suất lúa mtl612 trồng trong chậu ở vụ đông xuân năm 20112012 - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
- oOo -

NGUYỄN LÝ NGÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM HẠT VÀNG CHẬM TAN
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA MTL612 TRỒNG
TRONG CHẬU Ở VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2011-2012

LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC

Cần Thơ - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
- oOo -

ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM HẠT VÀNG CHẬM TAN
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA MTL612 TRỒNG
TRONG CHẬU Ở VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2011-2012

LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC

Cán bộ hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS. Nguyễn Thành Hối


..........................................................................................................................

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“Ảnh hưởng của liều lượng đạm hạt vàng chậm tan đến sinh trưởng và năng
suất lúa MTL612 trồng trong chậu ở vụ Đông Xuân năm 2011-2012”
Do sinh viên Nguyễn Lý Ngân thực hiện và bảo vệ trước hội đồng.
Luận văn đã được hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ......................................
Ý kiến hội đồng:..............................……………………………………………….
……………………………………………………………………………………...
…..………………………………………………………………………………...
Cần Thơ, ngày ……..tháng ……năm 2012
Thành viên Hội đồng

-------------------------

------------------------

------------------------

DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn này hoàn toàn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây.

Tác giả luận văn

Chân thành biết ơn
Thầy Nguyễn Thành Hối đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em
trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cố vấn học tập Trần Thị Thanh Thuỷ, cùng toàn thể quý thầy cô khoa
Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng vì những kiến thức mà quý thầy cô đã truyền
dạy cho em trong suốt thời gian học tập tại trường. Đây sẽ là hành trang vững chắc
giúp em bước vào đời.
Chân thành cảm ơn
Các anh chị và các bạn sinh viên làm đề tài ở Bộ Môn Khoa Học Cây
Trồng và các bạn Trồng Trọt, Nông Học khoá 35 đã đóng góp, động viên và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.

Nguyễn Lý Ngân


Nguyễn Lý Ngân, 2012. “Ảnh hưởng của liều lượng đạm hạt vàng chậm tan
đến sinh trưởng và năng suất lúa MTL612 trồng trong chậu ở vụ Đông Xuân
năm 2011-2012”
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng,
Trường Đại Học Cần Thơ. 39 Trang
Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn Thành Hối.

TÓM LƯỢC
Ngày nay, do việc thâm canh trồng lúa trong thời gian dài làm cho đất thiếu
dinh dưỡng dẫn đến người dân phải sử dụng một lượng lớn phân đạm để cung cấp
dinh dưỡng cho lúa. Bên cạnh đó, việc sử dụng phân hóa học ngày càng làm cho
đất canh tác trồng trọt trở nên chai cứng, bạc màu nhất là lượng phân đạm bón
không hợp lý làm lưu tồn trong đất sau mỗi vụ mùa, trong sản phẩm sau thu hoạch
đã góp phần làm cho môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm trầm trọng và ảnh
hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Mặt khác, sự mất đạm do các tiến trình

i

Lời cam đoan

ii

Lý lịch cá nhân

iii

Cảm tạ

iv

Tóm lược

v

Mục lục

vi

Danh sách bảng

x

Danh sách hình

xi


1.5.4 Trọng lượng 1000 hạt ............................................................................... 15
1.5.5 Chỉ số thu hoạch (HI)................................................................................ 16
CHƯƠNG 2 – PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP.................................. 17
2.1 PHƯƠNG TIỆN .......................................................................................... 17
2.2.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm.............................................................. 17
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm ................................................................................... 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP ......................................................................................... 19
2.2.1 Bố trí thí nghiệm ....................................................................................... 19
2.2.2 Kỹ thuật canh tác ...................................................................................... 20
2.3 CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC...................................................................... 21
2.3.1 Chỉ tiêu về chiều cao cây và số chồi.......................................................... 21
2.3.2 Các thành phần năng suất và năng suất ..................................................... 22
2.3.2.1 Các thành phần năng suất ................................................................ 22
2.3.2.2 Năng suất ......................................................................................... 23
2.3.3 Phân tích kết quả ...................................................................................... 23
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.................................................. 24
3.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH THÍ NGHIỆM................................................. 24
3.1.1 Đặc điểm khí hậu ...................................................................................... 24
3.1.1 Tình hình dịch bệnh .................................................................................. 24
3.2 CÁC CHỈ TIÊU NÔNG HỌC CỦA CÂY LÚA .......................................... 25


3.2.1 Chiều cao cây lúa...................................................................................... 25
3.2.2 Số chồi...................................................................................................... 27
3.3 CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT CÂY LÚA ........... 30
3.3.1 Các thành phần năng suất.......................................................................... 30
3.3.1.1 Số bông trên chậu ............................................................................. 30
3.3.1.1 Số hạt trên bông ............................................................................... 31
3.3.1.2 Tỷ lệ hạt chắc ................................................................................... 31
3.3.1.2 Trọng lượng 1000 hạt ....................................................................... 32



DANH SÁCH HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

1.1 Cấu tạo hạt lúa.................................................................................................3
2.1 Chậu dùng để trồng lúa trong thí nghiệm.......................................................18
2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm...................................................................................19
3.1 Năng suất thực tế của lúa MTL612 ở các nghiệm thức..................................34
3.2 Chỉ số thu hoạch lúa MTL612 ở các nghiệm thức..........................................35


MỞ ĐẦU

Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta và đặc biệt là ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào
thị trường lúa gạo quốc tế với sản lượng gạo xuất khẩu đứng hàng thứ 2-3 trên thế
giới. Nhìn vào quá trình phát triển và các tiến bộ trong ngành trồng lúa, trong mấy
thập niên gần đây và các nổ lực hiện tại cho phép chúng ta tin tưởng vào triển
vọng tốt đẹp của ngành trồng lúa nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng.
Trong quá trình phát triển đất nước cây lúa không những đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp lương thực cho nhân dân mà còn có vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời góp phần làm giàu cho đất
nước. Tuy nhiên, giá và sản lượng lương thực tăng nhưng thu nhập của nông dân
vẫn chưa được cải thiện vì chi phí sản xuất cao cho phân bón. Bên cạnh đó, việc
sử dụng phân hóa học ngày càng làm cho đất canh tác trồng trọt trở nên chai cứng,

dục với thành lóng dày hay mỏng và lóng dài hay ngắn tùy từng loại giống và điều
kiện môi trường, đặc biệt là nước. Thân lúa có nhiệm vụ vận chuyển và tích trữ
các chất trong cây. Cây lúa sẽ cứng, chắc nếu có lóng ngắn, thành lóng dày và bẹ
ôm sát thân (Nguyễn Ngọc Đệ, 1998).
1.1.3 Lá lúa
Lúa là cây đơn tử diệp. Lá lúa mọc đối ở 2 bên thân lúa, lá ra sau nằm về
phía đối diện với lá trước đó. Lá trên cùng (lá cuối cùng trước khi trổ bông) gọi là
lá cờ hay lá đòng. Lá lúa gồm phiến lá, cổ lá và bẹ lá (Yoshida, 1981 ).
Phiến lá (leaf blade) là phần lá phơi ra ngoài ánh sáng, bộ phận quang hợp
chủ yếu của cây lúa. Phiến lá là gồm 1 gân chính ở giữa và nhiều gân song song
chạy dài từ cổ lá đến chóp lá. Phiến lá chứa nhiều bó mạch lớn nhỏ và các bộng
khí lớn phát triển ở gân chính đồng thời ở 2 mặt lá đều có khí khẩu. Mặt trên phiến
lá có nhiều lông để hạn chế thoát hơi nước và điều hoà nhiệt độ. Lá lúa có thể
quang hợp được ở cả 2 mặt lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)
Bẹ lá (leaf sheath) là phần ôm lấy thân lúa. Giống lúa nào có bẹ lá ôm sát
thân thì cây lúa đứng vững khó đổ ngã hơn. Bẹ lá có nhiều khoảng trống nối liền
các khí khổng ở phiến lá thông với thân và rễ, dẫn khí từ trên lá xuống rễ giúp rễ


có thể hô hấp được trong điều kiện ngập nước (Yoshida, 1981).
Cổ lá (colar) là phần nối tiếp giữa phiến lá và bẹ lá. Cổ lá to hay nhỏ ảnh
hưởng tới góc độ của phiến lá. Cổ lá càng nhỏ, góc lá càng hẹp, lá lúa càng thẳng
đứng và càng thuận lợi cho việc sử dụng ánh sáng mặt trời để quang hợp (Nguyễn
Ngọc Đệ, 2009).
1.1.4 Bông lúa
Bông lúa là cả một phát hoa bao gồm nhiều nhánh gié có mang hoa. Bông
lúa có nhiều dạng: bông túm hay bông xoè (do các nhánh gié bậc nhất tạo với trục
bông một góc nhỏ hay lớn), đóng hạt thưa dày (thưa nách hay dày nách), cổ hở
hay cổ kín (cổ bông thoát ra khỏi bẹ lá cờ hay không) tuỳ đặc tính giống hay điều
kiện môi trường. Sau khi ra đủ số lá nhất định thì cây lúa sẽ trổ bông, thời gian lúa

nhiệt đới yêu cầu 3500-45000C, giống dài ngày cần trên 50000C, các giống ngắn
ngày yêu cầu tổng nhiệt độ thấp hơn 2000-30000C. Trong quá trình sinh trưởng
nếu gặp nhiệt độ cao, cây lúa chống đạt được tổng nhiệt độ cần thiết, sẽ ra hoa và
chín sớm hơn, nếu gặp nhiệt độ thấp thì ngược lại.
Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh
hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-300C), nhiệt độ càng tăng cây
lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 400C hoặc dưới 170C cây lúa tăng trưởng
chậm lại. Phạm vi nhiệt độ mà cây lúa có thể chịu đựng được và nhiệt độ tối hảo
thay đổi tùy theo giống lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009 ).
Trong giai đoạn sinh trưởng ban đầu, nhiệt độ nước ảnh hưởng đến nắng
suất thông qua việc ảnh hưởng lên số bông trên bụi. Giai đoạn giữa nhiệt độ nước
ảnh hưởng lên số hạt trên bông và phần trăm hạt chắc. Đến giai đoạn sau, nhiệt độ
không khí sẽ ảnh hưởng đến năng suất thông qua ảnh hưởng trên phần trăm hạt
chắc và trọng lượng hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Ở nhiệt độ thấp dưới 200C có
thể gây tỷ lệ lép cao nếu duy trì liên tục từ lúc ngậm dòng đến lúc trổ bông, nhưng
trái lại ở nhiệt độ cao hơn 350C vào lúc trổ bông có thể làm tỷ lệ lép cao (Nguyễn
Ngọc Đệ, 1998).
1.2.2 Ánh sáng
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới và là loài cây ưa sáng. Ánh sáng ảnh hưởng
rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện:
cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ). Cường độ ánh
sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa, thể hiện chủ yếu bằng


năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vị diện tích đất (lượng bức xạ).
Thông thường, cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng mặt
trời chiếu tới ruộng lúa. Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ trung bình từ
250-300 cal/cm2/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt và trong phạm vi này lượng bức
xạ càng cao thì quá trình quang hợp xảy ra càng mạnh (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Cây lúa thuộc nhóm cây ngắn ngày, thời gian chiếu sáng ngắn 9-10 giờ/ngày có

1.2.5 Đất đai
Nói chung đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng
khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ ăn sâu, bám chặt
vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha sét,
ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa. Tuy nhiên,
muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước.
Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện
đất đai khắc nghiệt (phèn, mặn, khô hạn, ngập úng) rất tốt.
1.3 SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc nẩy mầm cho đến khi lúa chín có thể chia
làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn sinh sản và giai đoạn chín
(Võ Tòng Xuân, 1984).
1.3.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt đầu
hóa đòng. Giai đoạn này cây lúa phát triển về thân lá, chiều cao phát triển dần và
ra nhiều chồi mới, trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận
lợi cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6 (Võ Tòng Xuân, 1984). Thời
gian sinh trưởng của các giống lúa dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn
tăng trưởng này dài hay ngắn.
Trong điều kiện quần thể ruộng lúa cấy với mật độ cao, dinh dưỡng hạn chế
các nhánh được sinh ra ở mắt thứ 4 và sau cấy 20 đến 25 ngày đã là nhánh vô hiệu
(Vũ Văn Hiến và Nguyễn Văn Hoan, 1999). Thời điểm có số chồi tối đa có thể đạt
được cùng lúc hoặc trước hay sau thời kỳ phân hoá đòng tuỳ theo giống lúa (Võ
Tòng Xuân, 1984).
1.3.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông. Giai
đoạn này kéo dài khoảng 27 đến 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài hay
ngắn ngày thường không khác nhau nhiều. Lúc này chồi vô hiệu giảm nhanh,
chiều cao tăng rõ rệt lúa phát triển qua giai đoạn cuối cùng thoát ra khỏi bẹ lá cờ
lúc này gọi là lúa trổ.

cây (Võ Thị Gương 2004).
Theo Nguyễn Phi Long và La Thị Hiền (1978) sự thiếu đạm thể hiện qua
màu sắc lá xanh nhạt, sinh trưởng bị chậm lại, hệ thống rễ phát triển kém, năng
suất thấp, phẩm chất hạt lúa không cao.
Theo Đào Thế Tuấn (1970) đạm làm tăng diện tích lá một cách rõ rệt. Có
hai thời kỳ trong đời sống cây lúa không thể thiếu đạm:
- Thời lỳ đẻ nhánh hữu kiệu (số bông giảm).
- Thời kỳ hình thành bông con đến lúc ôm đòng (số hạt/gié và số hạt/bông
giảm).


Khi thiếu đạm, toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây sẽ bị trì trệ do thiếu
chất hình thành tế bào, các quá trình sinh hóa cũng bị ngưng trệ, cây lúa thấp, đẻ
nhánh kém, phiến lá nhỏ, hàm lượng diệp lục giảm. Hệ thống rễ phát triển kém,
tính chống chịu với môi trường giảm, lá lúa ngả màu vàng và lúa sẽ trổ sớm hơn,
số bông và số lượng hạt ít hơn, cuối cùng cho năng suất và phẩm chất xấu. Đối với
lúa, đạm giúp lúa sinh trưởng tốt, chiều cao, số chồi và số bông/m2 tăng, tăng kích
thước cũng như trọng lượng 1000 hạt. Đủ đạm, cây quang hợp mạnh cho năng
suất cao.
Khi thừa đạm cây phát triển xum xuê, mềm yếu, lá lúa to, dài, phiến lá
mõng, lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, trổ muộn, mất cân bằng giữa quang hợp và hô
hấp, làm tăng mức độ lây nhiễm sâu bệnh, màu sắc xanh đậm của lá thu hút các
loại côn trùng đến cư trú, đẻ trứng, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh hại phát sinh,
phát triển, chất khô giảm, nhất là khi lúa trổ và chín, cây lúa phát triển cao lên,
làm cho lóng dài ra, dẫn đến việc cây dễ đổ ngã dẫn đến năng suất, hiệu suất lúa
không cao. Khuynh hướng này càng rõ rệt khi cường độ ánh sáng thấp, trời mây
mù nhiều trong mùa mưa.
Cây lúa có hai thời kỳ nếu hút quá nhiều đạm sẽ gây nguy hiểm, đó là:
- Lúc lúa đẻ nhánh mạnh nhất: mô gốc cây lúa cấu tạo non yếu dễ đổ. Rễ
yếu đi rất sớm nên lúc hình thành bông dễ bị héo đi.

trao đổi. Đạm amonium chỉ được phóng thích một cách chậm chạp cho cây và sinh
vật trong những điều kiện nhất định.
- Do tạo thành photphatamonium-alunium khó tan.
- Do sự cố định ammonium của các thành phần hữu cơ.
Tiến trình sinh học là sự biến chuyển cùa các dạng đạm vô cơ sang hữu cơ
trong các cơ thể sinh vật trong quá trình phân hủy chất hữu cơ.
 Sự khoáng hóa
Là quá trình biến đổi đạm từ dạng hữu cơ sang vô cơ hữu dụng. Quá trình
này xảy ra qua 3 bước:
- Quá trình amin hóa: Là quá trình biến đổi các hợp chất hữu cơ sang đạm
vô cơ hữu dụng.
Protein

R-NH2 + amino acid + năng lượng.

- Quá trình ammonium hóa:
R-NH2 + H2O

NH3

NH3 hình thành tác dụng với khí CO2 và H2O có sẵn trong đất để tạo ra
(NH4)2CO3 và sau đó sễ phân ly thành 2NH3+ + CO32-.
- Quá trình nitrat hóa chia thành 2 giai đoạn:
 Giai đoạn 1:
Nitrosomnas


NH4+

NO2-

NH3 và sau đó sẽ bay hơi. Nếu pH nước ruộng tăng cao hơn 9 thì sự mất đạm do
bay hơi có thể hơn 50% lượng phân đạm sử dụng. Ngoài ra, NH4+ cũng có thể bị
rửa trôi theo nước một cách đáng kể nếu nồng độ ion ammonium trong nước
ruộng tăng cao do bón phân đạm với liều lượng cao.
 Sự khuếch tán NH4+
Sự mất đạm còn do quá trình khuếch tán NH4+ từ tầng đất yếm khí lên tầng
thoáng khí để xảy ra quá trình nitrat hóa và khử nitrat. Đạm NH4+ khuếch tán từ


tầng đất yếm khí lên tầng thoáng khí chiếm hơn 50% tổng số đạm mất đi. Và phần
còn lại có nguồn gốc ban đầu trong tầng thoáng khí.
 Sự chảy tràn
Theo Tahamusa thì 13-16% đạm bón cho lúa mất đi do chảy tràn. Hầu hết
đạm chảy tràn ở dạng NH4+ một số rất ít ở dạng NO3-. Sự mất đạm do chảy tràn
trong điều kiện thoát thủy có thể được ngăn cản bởi cách bón vùi phân đạm và giữ
cho lượng nước tưới hay nước mưa trên đồng ruộng khoảng 5 ngày sau khi bón
phân.
 Sự bốc hơi NH3
Chất hữu cơ trong đất trong điều kiện không có oxy và pH cao sẽ phân hủy
đề phóng thích NH3 một cách dễ dàng. Trong đất và ruộng lúa bị ngập nước NH3
cũng được tạo thành một cách liên tục do kết quả của sự khoáng hóa đạm. nguồn
phân đạm amonium chứa NH4+ hoặc phân đạm dạng amid như urê có thể phân ly
trực tiếp hay nhờ các chất xúc tác thủy phân cho ra các ion NH4+ trong nước. Các
ion NH4+ liên kết lỏng lẻo trong nước ở pH dưới 9,2. Với sự gia tăng nồng độ OH trong nước, NH4+ được ion hóa sẽ bị khử và biến thành NH3 không ion hóa. NH3
có thể bốc hơi ở dạng khí. Nguồn đạm NH3 mất đi cao nhất trên đất kiềm và có thể
xảy ra ở đất có pH trung tính đến axid yếu (Surajit, De data 1981).
1.4.4 Sự biến chuyển đạm khi phân đạm được bón vào đất
Phân đạm khi bón vào đất ở hai dạng NH4+ và NO3-. Nguồn đạm này bao gồm
cả phân vô cơ (SA, Urê… ) và phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh). Khi bón
vào đất phân sẽ biến đổi qua các giai đoạn:

xuống tầng khử của đất.
1.4.5 Các loại phân đạm được sử dụng trong thí nghiệm
 Urê
Phân urê có ưu điểm hơn những dạng phân khác như giá rẽ, hàm lượng
đạm nguyên chất cao 46% N nên chi phí vận chuyển và tồn trử trên một đơn vị
cũng rẽ hơn những dạng phân đạm khác. Phân dễ hoà tan trong nước, dễ sử dụng
và không gây cháy nổ. Hơn nữa urê còn thích hợp cho sản xuất phân hỗn hợp ở
dạng viên hay dung dịch để bón vào đất và có thể làm phân phun lá. Nên urê được
sử dụng rộng rãi và là nguồn đạm chủ lực ở nước ta (Nguyễn Bảo Vệ, 2000). Tuy
nhiên, đây lại là loại phân bón dễ thất thoát, nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả
sử dụng phân urê rất thấp, thường chỉ khoảng 30-40% được hấp thu bởi lúa, số
còn lại bị mất do thấm lậu, chảy tràn hoặc bay hơi. Việc sử dụng phân đạm sao
cho hiệu quả, tránh lãng phí và ô nhiễm môi trường là quan tâm hàng đầu của tất
cả bà con nông dân nói chung và người trồng lúa nói riêng.
Theo Trần Thành Lập (1998), urê là loại phân có hiệu quả nhanh nhất vì
sau khi được bón vào đất, nó chuyển rất nhanh sang dạng (NH4)2CO3 và NH4+
được keo đất hấp phụ.
CO(NH2)2+ 2H2O  (NH4)2CO3
(NH4)2CO3 + [KĐ]H+ [KĐ]NH4+ + CO3- + 2H+
Nếu bón phân urê lên mặt đất mà không vùi thì đạm dễ bị mất do bay hơi
và dễ bị rửa trôi
NH4+ + OH-  NH3 + H2O
Ngoài ra, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thất thoát như nhiệt độ, pH
của đất, pH của nước, mực nước trong ruộng,… Vào lúc thời tiết nắng nóng,
lượng đạm bị mất trong một ngày có thể lên đến 50%.
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Thị Nga và ctv (1994), phân urê phân
huỷ mạnh vào ngày thứ 2-3 sau khi bón phân và thuỷ phân hoàn toàn vào ngày thứ
4-5 làm cho pH đất gia tăng. Sau khi quá trình thuỷ phân xảy ra thì NH4+ có thể bị
vi sinh vật sử dụng, keo đất hấp phụ do tác dụng trao đổi ion hoặc có thể bị nitrate
hoá tạo thành HNO3 tạm thời làm đất chua nhưng sau một thời gian cây hút cả 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status