Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGA SƠN
Năm học: 2010-2011
1
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
ĐỀ TÀI:
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM HOÁ HỌC VỀ KIM LOẠI
VÀ OXIT KIM LOẠI
Họ tên:
Nguyễn Tiến Dũng
Chức vụ:
Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác:
I. Kết quả nghiên cứu
II. Kiến nghị
Năm học: 2010-2011
Trang
2
2
3
3
4
5
5
5
5
6
6
8
11
11
12
3
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI NÓI ĐẦU
phương pháp dạy và học là một trong những yếu tố quan trọng quyết
định tới chất lượng giáo dục. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, học
sinh chủ động lĩnh hội tri thức. Để thực hiện được như vậy, trong thời
lượng bài viết này tôi xin đề xuất một phương pháp giải loại bài tập
này. Đây là một trong số rất nhiều phương pháp, nhưng tôi vẫn cho
Năm học: 2010-2011
5
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
rằng đây là phương pháp quan trọng, chủ đạo gọi là “ Đổi mới phương
pháp giải bài tập trắc nghiệm hoá học”.
Bài viết này dựa trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm đã
tích lũy được trong quá trình học tật và công tác. Qua đây tôi xin chân
thành cảm ơn tới các thày cô giáo, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn
thành bài viết này. Rất mong được sự phê bình, đánh giá đóng góp của
các thày cô giáo, các bạn đồng nghiệp.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng
Cả ngành giáo dục cùng toàn dân đang phát huy mọi nội lực, khắc
phục mọi khó khăn đưa chất lượng giáo dục tiến xa hơn, cao hơn bắt
nhịp với nền giáo dục các nước trong khu vực vào quốc tế. Phải thừa
nhận chất lượng giáo dục đã có sự chuyển biến lớn, mặc dù như vậy
nhưng cũng chưa được cải thiện là bao.
Năm học: 2010-2011
7
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
tài khoa học. Như vậy nếu học sinh không tự giác học tập thì đó là một
hậu quả khó lường. Có rất nhiều học sinh đưa ra một bài tập cơ bản
nhưng không biết giải quyết bài toán bằng cách nào, thậm chí học
xong 3 năm học còn trả lời: Em không được học một phương pháp giải
bài tập nào. Trên thực tế lượng bài tập ở sách giáo khoa, sách bài tập
và tham khảo khá nhiều. Các bài tập giải theo “ cách trình bày như một
bài tự luận để đưa đến kết quả” còn chiếm hầu hết ở đa số học sinh.
Qua kết quả khảo sát đầu năm của học sinh khối 12.
Số học HS giải
Số
Số học HS giải
theo phương
Bài tập
Lớp
lượng
0
0%
55
100%
100%
Năm học: 2010-2011
8
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
pháp giải
nhanh
2. Kết quả
“Đổi mới phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học”
là một vấn đề hết sức quan trọng. Không nắm được phương pháp này
học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi giải một lượng lớn các bài tập
và còn tiết kiệm thời gian trong quá trình làm bài. Để học sinh có thêm
các phương pháp hay trong kho tàng kiến thức của mình, trong thời
lượng có hạn tôi xin đưa ra một số phương pháp để giải nhanh bài tập
trắc nghiệm hoá học hi vọng sẽ giúp ích phần nào cho các em trong
qúa trình giải quyết các bài tập.
hành để hướng dẫn cho các em 2 tiết.
Năm học: 2010-2011
10
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
- Với các lớp học sinh có trình độ khác nhau nên cho số lượng và
mức độ khó, dễ khác nhau cho phù hợp.
II. Các biện pháp tổ chức thực hiện
Tôi đã tiến hành tổ chức truyền đạt 2 buổi ôn thi Đại học về phương
pháp này tới các học sinh của 2 lớp 12G, 12A ở Trường THPT Nga
Sơn như sau:
VD: Khi cho m gam hỗn hợp X gồm Fe và oxít của nó qua HNO 3
loảng dư, thu được dung dịch A và V lít khí Y(Sản phẩm khử duy
nhất của Nitơ). Tính khối lượng muối có trong dung dịch A.
1. Phương pháp.
a. Phương pháp thông thường
Học sinh có thể sử dụng định luật bảo toàn e là sẽ đi đến kết quả và
phải lưu ý được Fe và hỗn hợp oxít của nó gồm có 2 thành phần Fe và
Oxi.
VD: Cho 11,36g một hồn hợp X gồm Fe,FeO,Fe2O3,Fe3O4.Cho X vào
dung dịch HNO3 dư thì thu được 1,344 lít khí NO (duy nhất ở đktc).
Tính m muối [thi ĐH -khối A 2008- Mã đề 263]
Năm học: 2010-2011
11
56 x + 16 y = mhh(1)
3x − 2 y = 3.n NO (2)
Trường THPT Nga Sơn
Nhân (2) với 8 rồi cộng với (1) ta
có:
80x = mhh+24nNO→ x =
mhh + 24n NO
= n Fe3+
80
→ mmuối =
242
(mhh + 24n NO )
80
(*)
Từ công thức (*) ta áp ngay vào VD trên:
mmuối =
242
242
(mhh + 24n NO ) =
(11,36 + 24.0,06) = 38,72 gam
Trường THPT Nga Sơn
Sản phẩm là khí N2O, ta có: (2N+5 + 8e → N2+1)
mmuối =
242
(mhh + 64.n N 2O )
80
Sản phẩm là khí N2, ta có: (2N+5 + 10e → N20)
mmuối =
242
(mhh + 80.n N 2 )
80
Sản phẩm không phải là khí mà là muối NH 4NO3, ta có: (N+5 + 8e →
N-3)
mmuối =
242
(mhh + 64.n NH 4 NO3 ) + n NH 4 NO3 × 80
80
Sản phẩm là hỗn hợp khí N2O và NO, ta có: (2N+5 + 8e → N2+1, N+5 +
3e → N+2)
mmuối =
242
242
(mhh + 24.n NO + 8.n NO2 + 64.n N 2O )
80
=
242
2,24
4,48
8,96
(99,9 + 24.
+ 8.
+ 64.
) = 90,65 gam.
80
22,4
22,4
22,4
2. Bài tập áp dụng
Bài tập 1: Để m gam bột Fe ngoài không khí sau một thời gian
thu được 12 gam hỗn hợp A gồm Fe và các oxit Fe. Cho hỗn hợp tan
hoàn toàn trong HNO3 thu được 2,24 l NO (sản phẩm khử duy nhất
đktc). Giá trị m là:
Năm học: 2010-2011
15
B. 0,7 gam
C. 0,8 gam
D. 0,9
gam
Bài tập 4[Đề thi ĐH -khối A 2010- Mã đề 516]: Cho hỗn hợp
gồm 6,72 gam Mg và 0,8 gam MgO tác dụng hết với lượng dư dung
dịch HNO3. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được 0,896
lít một khí X (đktc) và dung dịch Y. Làm bay hơi dung dịch Y thu
Năm học: 2010-2011
16
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
được 46 gam muối khan. Khí X là:
A. NO2.
B. N2O.
C. NO.
D. N2
Bài tập 5: Hoà tan hoàn toàn m gam FexOy bằng dung dịch
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
Nếu cho m gam hỗn hợp X tác dụng với dung dịch HNO 3 loãng dư
thu được dung dịch Z và khí NO ( sản phẩm khử duy nhất,đktc). Cô
cạn dung dịch Z khối lượng muối khan thu được là:
A. 242,3 gam
B. 189,6 gam
C. 268,4 gam
D. 254,9 gam
Bài tập 8: Cho 11,36 gam hỗn hợp gồm Fe,FeO,Fe 2O3,Fe3O4
phản ứng hoàn toàn với dung dịch HNO3 loãng dư thu được 1,344 lít
khí NO ( sản phẩm khử duy nhất đo ở đktc) và dung dịch X.
Dung dịch X có thể hoà tan tối đa 12,88 gam Fe. Số mol HNO 3 có
trong dung dịch đầu là:
A. 0,88 mol
B. 0,64 mol
C. 1,04 mol
D. 0,94 mol
D. 3,46 gam
C. KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
“Đổi mới phương pháp giải bài tập trắc nghiệm” là một phương tiện
chủ đạo giúp học sinh giải quyết được nhiều bài tập.
Năm học: 2010-2011
19
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
Một kết quả đầu tiên tôi nhận thấy đó là học sinh có thể giải quyết
được những bài toán cùng một phương pháp trên, hoặc khi giáo viên
hướng dẫn cũng có cơ sở về phương pháp.
Tôi đã làm một phép thăm dò để kiểm nghiệm các em học sinh của 2
lớp: 12A (Ban cơ bản A), 12G (Ban cơ bản A), đánh giá vai trò của
các phương pháp, thì được kết quả như sau:
Tổng số HS Phương pháp áp
của 4 lớp
103
%
dụng công thức
%
0
SL
5
%
10,4
SL
25
Năm học: 2010-2011
%
52,1
SL
18
%
37,5
20
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
12B
52
chỗ nào cũng đã hoàn hảo. Mà mỗi người có thể phát hiện ra một ý
hay để cùng đóng góp, học hỏi lẫn nhau. Mỗi sáng kiến kinh nghiệm
Năm học: 2010-2011
21
Người thực hiện: Nguyễn Tiến Dũng
Trường THPT Nga Sơn
(SKKN) là kết quả của quá trình lao động, tích lũy và chải nghiệm lâu
dài của mỗi cán bộ , giáo viên đã được áp dụng cho bản thân và có
hiệu quả. Tôi tha thiết mong rằng Sở Giáo dục – Đào tạo Thanh Hóa
sẽ có nhiều biện pháp tích cực để động viên cán bộ giáo viên nhiệt
tình, tích cực viết SKKN và đưa các SKKN có chất lượng tốt tới phổ
biến sâu rộng tới các trường phổ thông, các trung tâm GDTX để anh
chị em học hỏi, rút kinh nghiệm và áp dụng.
Xin chân thành cảm ơn!
Nga Sơn, tháng 05 năm
2011
Người viết
Nguyễn Tiến
Dũng
Năm học: 2010-2011
22