“ Tổng quan các phương pháp Tiểu luận: xử lý nước thải giàu N, P và ứng dụng trong xử lý nước thải nhà máy chế biến thủy sản ” - Pdf 31

A.

Mở đầu

I. Đặt vấn đề
Việt Nam bước vào giai đoạn chiến lược phát triển 2011 - 2020 với tư cách
là một nước đang phát triển. Mục tiêu phát triển của Việt Nam là đến năm 2020
về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với sự phát
triển đó là sự gia tăng lượng nước thải từ các hoạt động sản xuất gây áp lực lớn
đối với môi trường. Nếu chúng ta xử lý được lượng nước thải đó thì sẽ duy trì
được cân bằng sinh thái, cải thiện được vệ sinh môi trường, tạo điều kiện phát
triển bền vững lâu dài cho loài người.
Nito và photpho là hai nguyên tố cơ bản của sự sống, có mặt ở tất cả các
hoạt độngsống , các ngành công nghiệp, hoạt động nông nghiệp. N , P trong
hợp chất hóa học được gọi là thành phần dinh dưỡng nhưng trong phạm trù
nước thải thì nó là đối tượng gây ô nhiễm cho môi trường. Hàm lượng nitơ và
photpho trong nước thải cao làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đến môi
trường và với các quá trình xử lý khác trong hệ thống xử lý.
Ngành công nghiệp chế biến thủy sản đã và đang đem lại lợi nhuận không
nhỏ cho nền kinh tế Việt. Nhưng bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại về kinh
tế thì nó cũng để lại những hậu quả với môi trường sống của chúng ta. Ngành
chế biến thủy hải sản cũng đưa vào môi trường một lượng nước thải khá lớn,
gây ô nhiễm nguồn nước. Nước thải ngành chế biến thủy sản có chứa nhiều nito
và photpho.
Do vậy, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài :
“ Tổng quan các phương pháp xử lý nước thải giàu N, P và ứng dụng
trong xử lý nước thải nhà máy chế biến thủy sản ”
Để đưa ra một bức tranh tổng thể về việc xử lý nito - photpho, đồng thời
là nguồn thông tin tổng hợp cho các đề tài khác.

1

nước thải sinh hoạt.
Nguồn phát thải photpho quan trọng nhất trong nước thải sinh hoạt là
phân, thức ăn thừa, chất tẩy rửa tổng hợp. Lượng photpho có nguồn gốc từ phân
được ước tính là 0,2 - 1,0 kg P/người/năm hoặc trung bình là 0,6 kg. Lượng
photpho từ nguồn chất tẩy rửa tổng hợp được ước tính là 0,3 kg/người/năm. Sau
khi hạn chế hoặc cấm sử dụng photpho trong thành phần chất tẩy rửa, lượng
photpho trên giảm xuống, còn khoảng 0,1 kg/người/năm.
Nồng độ hợp chất nitơ, photpho trong nước thải sinh hoạt biến động theo
lưu lượng nguồn nước thải: mức độ sử dụng nước của cư dân, mức độ tập trung
các dịch vụ công cộng, thời tiết, khí hậu trong vùng, tập quán ăn uống sinh
hoạt (thức ăn nguội, tự nấu nướng), thay đổi mạnh theo chu kỳ thời gian ngày
tháng cũng như mức sống và tiện nghi của cộng đồng. Lượng chất thải vì
vậy thường được tính theo đầu người (khối lượng khô).
Bảng 1. Đặc trưng ô nhiễm nước thải sinh hoạt.
Thành phần
Chất rắn tan

Đơn vị
mg/l

Nồng độ
khoảng
350 - 1200

đặc trưng
700
3


Cặn không tan

500
35
35
7

P-hữu cơ
mg/l
1-5
2
P-vô cơ
mg/l
3 - 10
5
Nguồn: R. Crites, G. Tchobanoglous. Small and decentralized wastewater
management systems. WCB/Mc Graw Hill 1998. 2. WEF. Biological and
chemical systems for nutrient removal. Special publication. Alexandria USA
1998.

1.2.

Nguồn gốc từ nước thải công nghiệp
Ô nhiễm do hợp chất nitơ, photpho từ sản xuất công nghiệp liên quan chủ

yếu tới chế biến thực phẩm, sản xuất phân bón hay trong một số ngành nghề đặc
biệt như chế biến mủ cao su, chế biến tơ tằm, thuộc da.
Chế biến thực phẩm thải một lượng đáng kể hợp chất chứa nitơ, photpho
liên quan đến loại thực phẩm chứa nhiều đạm: chế biến thuỷ hải sản, giết mổvà
sản xuất thức ăn từ các loại thịt, sữa, đậu, nấm.
Chế biến sữa, sản xuất bơ, pho mát, chế biến nấm, ươm tơ cũng thải ra một
lượng nước thải đáng kể chứa hợp chất nitơ.

215 (164 - 266)

+ Cá

30

- Chế biến rau, quả, đồ uống
- Bột, sản phẩm khoai tây
- Rượu vang
- Hóa chất, phân bón

4
21 (5 - 40)
40 (10 - 50)

+ NH3-N

1270

+ NO3—N

550

Nguồn:- J. Takeda, T. Suzuki. Technical manual of marine products processing
on industrial pollution control. Japan environmental consultants Ltd, 1999.
1.3.

Nguồn thải từ nông nghiệp, chăn nuôi
Canh tác nông nghiệp về nguyên tắc phải bón phân đạm và lân cho cây


Bò thịt

85

0,5

0,2

0,5

Bò sữa

85

0,7

0,5

0,5

Gia cầm

72

1,2

1,3

0,6


phospholipit, các sản phẩm phân huỷ từ thức ăn, xác động vật.
6


So với các loại hình nước thải khác, độ dao động của các đặc trưng ô
nhiễm rất lớn do điều kiện thời tiết và mức độ phân huỷ tại thời điểm đánh giá.
Bảng 4. Đặc trưng ô nhiễm nước rỉ rác tại một số bãi chôn lấp tại Hà Nội,
Quảng Ninh, Nam Định, Hải Phòng, giá trị đặc trưng (a) và khoảng dao động
(b)
Đặc trưng
COD (mg/l)
a

Hà Nội

Quảng Ninh

Nam Định

Hải Phòng

400 - 800

500 - 1200

300 - 500

100 - 1600

211 - 5060


70 - 250

200 - 600

58 - 852

31 – 1022

10 – 598

21 - 1787

a

200 - 600

300 - 800

80 - 300

250 - 800

b

61 - 873

55 - 1801

17 – 661

2. Khái quát về phương pháp xử lý nito và photpho

7


Trước khi trình bày chi tiết và các quá trình xử lý hợp chất Nito – Photpho
trong nước thải, chúng ta sẽ liệt kê các phương pháp đã được nghiên cứu và
một số được ứng dụng trong thực tiễn. Một số phương pháp đã được sử dụng để
xử lý nito, photpho riêng rẽ, một số được sử dụng để xử lý đồng thời 2 yếu tố
trên.
2.1.

Xử lý hợp chất N
Xử lý hợp chất nitơ có thể thực hiện bằng các biện pháp hóa lý (hóa học),

vật lý hoặc sinh học dựa trên các nguyên tắc chuyển hóa thành hợp chất khác
hoặc tách loại, cách ly chúng ra khỏi môi trường nước.
Xử lý hợp chất nitơ trong nước thải với mục tiêu cao nhất về phương
diện công nghệ là chuyển hóa chúng về dạng khí nitơ.
Hiệu quả xử lý và giá thành của từng phương pháp rất khác nhau và khả
năng sử dụng từng phương pháp còn phụ thuộc vào nồng độ của hợp chất nitơ
(amoni) trong nước.
- Nồng độ amoni trong nước thải nhỏ hơn 100 mgN/l như trong nước thải
sinh hoạt thì phương pháp vi sinh là thích hợp.
- Nồng độ amoni trong khoảng 100 - 5000 mg N/l như trong nước thải từ
quá trình phân hủy bùn thì áp dụng phương pháp vi sinh.
- Nước thải có nồng độ amoni lớn hơn 5000 mg N/l có thể xử lý theo
2.2.

phương pháp hóa lý sẽ thuận lợi cả về mặt kỹ thuật và kinh tế.

- Trong quá trình xử lý sơ cấp: 5 - 10% N, P.
- Trong xử lý thứ cấp
: 10 - 20% N, P.
- Xử lý thứ cấp + nitrat hóa
: 20 - 30% N, P.
Khả năng hấp thu N và P của thủy thực vật phụ thuộc trực tiếp vào hiệu suất
sinh khối thực, tức là phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và loài thực vật cụ
thể.
Đồng thời loại bỏ hợp chất N và P bằng cách kết tủa chúng với ion magie tạo
thành hợp chất có độ tan thấp là struvite, MgNH4PO4. Phương pháp này thích
hợp cho nước thải có nồng độ cao.
3. Xử lý nước thải giàu N và P bằng phương pháp cơ học và hóa lý
3.1. Xử lý cơ học
Mục đích là tách cặn rắn và rác ra khỏi hỗn hợp nước thải bằng cách thu
gom, lắng cặn. Có thể dùng song chắn rác, bể lắng... để loại bỏ cặn dễ lắng
tạo điều kiện xử lý và giảm khối tích các công trình phía sau.
+ Song chắn rác hoặc lưới chắn rác :
• Loại bỏ tất cả các tạp chất có thể gây sự cố trong quá trình vận hành
hệ thống XLNT như tắc ống bơm, đường ốn và ống dẫn.
9


• Theo cách vớt rác thì song chắn rác được chia ra làm 2 loại : song
chắn rác thủ công dùng trong nhà máy có công suất nhỏ dưới 0.1
m3/ngày và song chắn cơ giới dùng cho các trạm có công suất lớn
hơn 0.1 m3/ngày
+ Bể điều hòa : dùng để duy trì sự ổn định của dòng thải, khắc phục các vấn
đề sự vận hành do sự dao động của lưu lượng của dòng thải gây ra và nâng
cao hiệu suất của các quá trình ở cuối dây chuyền sản xuất.
+ Bể lắng : trong quá trình lắng được sử dụng để loại bỏ các tạp chất ở dạng

cationit, các ion mang điện tích (-) trao đổi trên anionit. Vật liệu trao đổi ion là
dạng rắn không tan trong nước, vô cơ hoặc hữu cơ.
Để có thể tham gia được vào quá trình trao đổi ion, amoniac phải tồn tại ở
dạng tích điện dương amoni. Do bản chất là 1 bazo yếu, chịu sự cân bằng:
NH3 + H+ ↔ NH4+
Tại vùng pH cao amoni chuyển hóa về dạng trung hòa.
Phương pháp trao đổi ion có thể sử dụng để tách amoni trong nước sinh
hoạt. Phần lớn các nguồn nước ngầm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có nồng độ
amoni ở mức 20-30mgµ, cá biệt có nguồn tới 120mgµ. Sử dụng cationit mạnh
có thể trao đổi amoni với hiệu quả phụ thuộc vào hàm lượng ban đầu trong nước
và độ cứng của nước. Do hàm lượng Ca, Mg khá cao sẽ có độ chọn lọc trao đổi
cao hơn so với amoni.
4.1.2. Phương pháp oxi hóa khử
• Xử lí amoni
Clo có tính chất oxi hóa, có khả năng thu điện tử do tích điện (+). Các
hợp chất clo (Cl2, NaOCl, clodioxit, cloamin B,T) đều có tính oxi hóa.
Cl2 + H2O ↔ HOCl + HCl.
`
Ca(OCl)2 + 2H2O ↔ Ca(OH)2 + 2HOCl
NaOCl + H2O ↔ HOCl + NaOH.
Phản ứng giữa amoniac với clo hoạt tính xảy ra theo bậc
NH3 + HOCl ↔ NH2Cl + H2O
NH2Cl + HOCl ↔ NHCl2 + H2O
NHCl2 + HOCl ↔ NCl3 + H2O
NH2Cl, NHCl2, NCl3 là các chất oxi hóa.
• Xử lý nitrit
Một số loại nước thải chứa nitrit, có thể loại bỏ nitrit bằng phương pháp
oxi hóa. Chuyển hóa nitrit thành nitrat có thể thực hiện với chất oxi hóa là clo
hoạt động và với hydro peroxit theo các phản ứng:
NO2- + OCl- ↔ NO3- + ClNO2- + H2O2 ↔ NO3- + H2O

+ Dùng Ca2+

12


Hợp chất Canxi sử dụng để xử lý nước thải thường được tiến hành với vôi
tôi. Đồng thời sự hình thành các hợp chất của canxi với phosphat xảy ra phản
ứng tạo thành CaCO3 từ độ cứng và độ kiềm của nguồn nước.
Khả năng loại bỏ Phosphat sẽ rất tốt ở giá trị pH > 10, đặc biệt hiệu quả
nhất ở giá trị pH = 10,5 – 11.
10 Ca2+ + 6 PO43- + 2OH-  2 Ca5( PO4)3OH

Đặc điểm của phương pháp dùng vôi:
Dùng vôi làm tăng độ kiềm của nước thải thuận lợi cho phản ứng phân
hủy sinh học của NH4+.
Không đưa Amoni mới vào nước thải ( so với dùng muối để kết tủa
Phosphat ).
Canxi phosphat dùng làm phân.
Do môi trường kết tủa pH cao không phù hợp với quá trình keo tụ và lắng
nên nó cần được được trung hòa ( với khí CO2 ) và đồng thời đáp ứng tiêu
chuẩn thải.
+ Dùng muối sắt
Trong moi trường không có oxy hòa tan, sắt (II) tạo sản phẩm với
phosphat:
Fe2+ + PO43Fe3(PO4)3Phản ứng trên xảy ra triệt để nhất ở vùng pH = 8, ngoài vùng tối ưu trên,
lượng dư phosphat lớn gấp 20 lần pH = 7 và lớn hơn 8 lần ở pH = 9.
Các kết tỉa phosphat sắt hình thành thường ở dạng gel và hiếm khi có
thành phần ổn định.
Đặc điểm của phương pháp
Đưa vào nước những ion của muối dùng.

1,4:1
85
1,6 : 1 ÷ 1,9 : 1
1,7 : 1
95
2,1 : 1 ÷ 2,6 : 1
2,3 : 1
Nguồn : Trần Văn phương – Lê Văn Cát : Tách protein trong nước thải
Tùy theo bản chất của nước thải, quy trình xử lý mà giai đoạn khử

phospho của nước thải có thể diễn ra ở bể lắng sơ cấp, bể lắng thứ cấp, bể lắng
riêng đặt sau bể lắng thứ cấp.
Đặc điểm của phương pháp:
Cặn kết tủa của quá trình lắng không cao, chậm, kéo theo cần có thiết bị
lắng lớn. Vì vậy để thúc đẩy nhanh tốc độ lắng người ta sử dụng thêm các chất
trợ keo tụ. Cơ chế hoạt động của chất trợ keo tụ là làm cầu nối giữa các hạt keo
hình thành để tạo ra tập hợp hạt lớn và dễ lắng hơn.
+ Dùng Mg2+
Sử dụng Mg2+ trong xử lí nước thải có chứa phospho để tạo ra hợp chất
hóa học Struvite, một dạng phân bón tổng hợp (N, P) có chất lượng cao.
Struvite hình thành từ các thành phần:
Mg2+ + NH4+ +HPO42- + OH- + 5 H2O  MgNH4PO4.6H2O
14


Để tạo ra hợp chất Struvite cần tối ba thành phần chính là phosphat,
amoni, magie và cùng với kiềm (OH-), tức là phản ứng xảy ra trong môi trường
kiềm (pH cao). Nước thải hầu như không hội đủ các yếu tố trên để tạo thành
struvite phù hợp với thành phần hóa học của sản phẩm, vì vậy ta cần phải bổ
sung những thành phần còn thiếu. Để kết tủa phosphat và amoni trong nước

của quá trình xử lý sinh học.
Các quá trình sinh hoá của VSV gồm:
a. Trao đổi chất
Quá trình trao đổi chất rất phức tạp bao gồm nhiều chu trình biến đổi
chất, là các phản ứng hoá học xảy ra trong tế bào. Vì phản ứng hoá học
xảy ra trong tế bào của cơ thể sinh vật nên còn gọi là phản ứng sinh
hoá.Hai phản ứng sinh hoá cơ bản nhất trong trao đổi chất là đồng hoá
và dị hoá.
Để phản ứng đồng hóa, dị hóa xảy ra cấn phải có hoạt động của enzym –
chất xúc tác cơ thể sống. Emzym có hai loại : nội bào và ngoại bào. Emzym
là loại xúc tác có hoạt tính lớn và độ chọn lọc cao.
b. Quá trình dị hoá và năng lượng
Năng lượng sinh ra và tiêu hao do phản ứng sinh hoá là yếu tố quan
trọng hàng đầu của quá trình trao đổi chất. Năng lượng sinh ra do phản ứng
hoá học trong hệ xử lý nước thải chủ yếu là từ phản ứng oxy hoá và lên
men hoặc do phản ứng quang hoá.
+ Phản ứng dị hoá do oxy hoá.
Phản ứng oxy hoá là phản ứng hóa học có xảy ra quá trình trao - nhận
điện tử, tức là có sự thay đổi hoá trị của nguyên tố tham gia phản ứng. Chất
(nguyên tố) cho điện tử là chất khử, sau phản ứng hoá trị của nó tăng. Chất
nhận điện tử đóng vai trò chất oxy hoá, sau khi nhận điện tử nguyên tố đó sẽ
giảm hoá trị.
Phản ứng oxy hoá khử tạo ra năng lượng cho tế bào, quá trình oxy
hoá và khử là hai phản ứng nhưng phải xảy ra đồng thời (cho và nhận điện
tử).
+ Phản ứng dị hoá do lên men
16


Khác với phản ứng oxy hoá, trong quá trình lên men không có sự


Amôn hoá

( NO2 N2 )
Khử nitrat

N-hữu cơ

17


Hình 1: Sơ đồ quá trình khử hợp chất N
+ Quá trình oxy hóa amoni
Xử lý amoni theo phương pháp vi sinh vật thành hợp chất bền là N2
trải qua chặng đường vòng: oxy hóa hợp chất nitơ có hóa trị -3 (NH3,
+
NH4 ) lên hóa trị +3, +5 (NO2 , NO3 ) rồi sau đó lại khử từ hóa trị
dương về hóa trị không (N2) chứ không thể oxy hóa trực tiếp từ hóa trị -3
về hóa trị không.
Oxy hóa amoni với tác nhân oxy hóa là oxy phân tử còn có tên gọi là
nitrat hóa, được hai loại vi sinh vật thực hiện kế tiếp nhau:
+
+
NH4 + 1,5 O2 -> NO2 + 2 H + H2O

(1)

NO2 + 0,5 O2-> NO3

(2)

photphat chiếm tỷ lệ lớn.
Bảng 6. Hợp chất Photpho và khả năng chuyển hóa
Hợp chất
Photpho hữu cơ
Photphat đơn
Photphat trong tế bào

Khả năng chuyển hóa
Phân hủy thành photphat đơn và
trùng ngưng
Tan, phản ứng tạo muối, tham gia
phản ứng sinh hóa
Thành phần của tế bào hoặc lượng dư
trong tế bào của một số loại VK

Trong quá trình xử lý vi sinh, lượng photpho hao hụt từ nước thải
duy nhất là lượng được vi sinh vật hấp thu để xây dựng tế bào. Hàm lượng
photpho trong tế bào chiếm khoảng 2% (1,5 – 2,5%) khối lượng khô. Trong
quá trình xử lý hiếu khí, một số loại vi sinh vật có khả năng hấp thu
photphat cao hơn mức bình thường trong tế bào vi sinh vật (2 – 7%), lượng
photpho dư được vi sinh vật dự trữ để sử dụng sau. Trong điều kiện yếm
khí, với sự có mặt của chất hữu cơ, lượng photphat dư lại được thải ra
ngoài cơ thể vi sinh dưới dạng photphat đơn
Hiện tượng trên được sử dụng để tách loại hợp chất photpho ra khỏi
môi trường nước thải bằng cách tách vi sinh có hàm lượng photpho cao
dưới dạng bùn thải hoặc tách photphat tồn tại trong nước sau khi xử lý
19


yếm khí bằng biện pháp hóa học.

hoạt động ở lớp nước trên, VSV tùy nghi và yếm khí hoạt động ở lớp nước sâu
phụ thuộc vào khả năng khuấy đảo nước của gió.
+ Hồ sục khí bổ sung thường có chiều sâu lớn hơn để xử lý nước thải có độ ô
nhiễm cao hơn. Oxy được cấp bổ sung bằng các thiết bị đặt nổi trên mặt nước
hay bơm hút khí chìm. Độ sâu của hồ nằm trong khoảng 2 – 6 m, thời gian lưu
thủy lực từ 3 – 20 ngày. Lợi thế của loại hồ có sục khí bổ sung là ít tốn diện
tích.
+ Hồ sinh học yếm khí được sử dụng để xử lý loại nước thải có độ ô nhiễm
cao, chủ yếu là nước thải công nghiệp ở xa vùng dân cư. Hồ loại này không có
vùng hiếu khí, độ sâu nằm trong khoảng 5 – 10 m, thời gian lưu thủy lực từ 20 –
50 ngày.
Sử dụng hồ sinh học để xử lý nước thải có lợi ích sau: chi phí xây dựng thấp,
chi phí vận hành thấp, kỹ năng vận hành đòi hỏi không cao,mức độ bùn thải
thấp, chu kỳ thải từ 10 – 20 năm,dễ kết hợp với các loại hình công nghệ xử lý
khác
Nhược điểm của hồ sinh học:tốn nhiều diện tích, mật độ tảo có thể cao, khó
kiểm soát ảnh hưởng đến việc xả thải ra nguồn nước mặt, hồ yếm khí thường
không có khả năng đảm bảo tiêu chuẩn thải, ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn
nước ngầm, thiết kế không hợp lý sẽ gây ra mùi.
b.Phương pháp cánh đồng tưới
Cánh đồng tưới là việc tưới nước thải lên bề mặt của một cánh đồng với lưu
lượng tính toán để đạt một mức xử lý nào đó thông qua các quá trình lý, hóa, và
sinh học tự nhiên của hệ đất nước. Ở các nước đang phát triển, diện tích đất còn
nhiều, giá đất còn rẻ thì đây là một biện pháp rẻ tiền.
Tùy theo tốc độ duy chuyển, đường đi của nước thải thì người ta chia cánh
đồng tưới thành :

21



protein của tế bào thông qua quá trình quang hợp của tảo. Các nguyên tố vi
lượng ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo, trong tế bào tảo tỷ lệ P: Mg: K là
1,5:1:0,5
Độ sâu của tảo: độ sâu thường là 40 - 50cm.
Thời gian lưu chất thải trong ao: thường chọn lớn hơn 2-8 ngày .
Lượng BOD nạp cho hồ tảo: Một số thí nghiệm ở Thái lan cho thấy trong
điều kiện nhiệt đới thì lượng BOD nạp vào là 336 kg/ha.ngày (33,6
g/m2.ngày) .
+ Xử lý bằng thực vật thủy sinh có kích thước lớn: Thực vật thủy sinh kích
thước lớn có thể sử dụng trong xử lý nước thải chia làm 3 nhóm :

23


- Nhóm nổi: bèo tấm (Lemna minor), bèo Nhật bản (Eichhornia crassipes),
loại này có thân, lá nổi trên mặt nước, chỉ có phần rễ là chìm trong nước.
- Nhóm nửa chìm, nửa nổi: sậy (Pharagmites communis), lau (Cirpus
lacustris). Loại này có bộ rễ cắm vào đất, bùn còn phần thân chìm trong
nước, phần còn lại và lá ở phía trên. Mực nước thích hợp của cây là >1,5m.
- Nhóm chìm: rong xương cá (Potamogeton crispus), rong đuôi chó
(Littorella umiflora), thực vật loại này chìm hẳn trong nước, rễ của chúng
bám chặt vào bùn đất, còn thân và lá ngập trong nước.
Bảng 7. Một số loại thuỷ sinh vật tiêu biểu
Loại

Tên thông thường

Tên khoa học

Thuỷ sinh vật sống

Cattails

Typha spp

Bulrush

Scirpus spp

Sậy

Phragmites communis

Thuỷ sinh vật sống
trôi nổi

Thuỷ sinh thực vật
sống nổi

Nguồn : Bài giảng công nghệ sinh học xử lý môi trường
Ví dụ :
+ Hệ xử lý nuôi bèo tây.

24


Bèo tây ( hay còn gọi là bèo Nhật Bản, bèo Lộc bình)Có tên khoa học là
Eichhornia crassipes solms. Tác dụng loại bỏ dinh dưỡng của bèo dựa trên hai
đặc trưng chính là tốc độ tăng sinh khối và hàm lượng protein cao trong sinh
khối của bèo (15 – 22%). Bèo tây là loài thủy thực vật được sử dụng rỗng rãi
nhất trong các ao hồ xử lý nước thải. Ao hồ chứa bèo dùng để xử lý có thể chia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status