TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
----------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ NGHỆ
TẠI XÃ NINH VÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH
Người thực hiện
: NGUYỄN THỊ THANH HUẾ
Lớp
: MTB
Khóa
: 54
Chuyên ngành đào tạo : Môi trường
Giáo viên hướng dẫn
: TS.ĐINH THỊ HẢI VÂN
Hà Nội - Năm 2013
: UBND xã Ninh Vân - huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
Hà Nội - Năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội, tôi
chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo,
cô giáo, ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa,…
Sau một thời gian thực tập tốt nghiệp để hoàn thành được khóa luận tốt
nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự dạy dỗ, quan
tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy
cô giáo trong khoa Tài nguyên và Môi trường đã trang bị cho tôi những kiến
thức, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này. Sự giúp
đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Quản lý môi trường.
Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo TS.Đinh Thị Hải Vân
trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của tập thể cán bộ
UBND xã Ninh Vân cùng toàn thể người dân xã Ninh Vân đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và
những người xung quanh đã hết lòng tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ và
luôn ở bên tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý
kiến của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2013
Sinh viên
Bộ Tài nguyên môi trường
Chỉ thị - ủy ban nhân dân
Khoa học công nghệ
Nghị định – chính phủ
Nghị quyết – chính phủ
Nghị quyết/tỉnh ủy
Quy chuẩn Việt Nam
Ủy ban nhân dân
Thông báo/tỉnh ủy
Tiêu chuẩn Việt Nam
Thông tư –bộ Nông nghiệp
Thông tư – bộ Tài chính
Tiểu thủ công nghiệp
Xây dựng nông thôn mới
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
5
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ninh Vân là một xã nằm ở phía nam huyện Hoa Lư, tỉnhNinh Bình, có
diện tích tự nhiên 1.264 ha, phần lớn diện tích là núi đá vôi, chỉ có 374 ha
dành cho mục đích sản xuất nghiệp. Nói đến Ninh Vân là nói đến làng nghề
thống, đảm bảo kinh tế xã hội cần có những đánh giá tác động cụ thể, trên cở
sở đó tìm kiếm giải pháp quản lý môi trường để nâng cao sức khỏe người dân,
giảm ô nhiễm môi trường, vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu môi trường
làng nghề đá mỹ nghệ tại xã Ninh Vân huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình”.
1.2. Mục đích – yêu cầu
1.2.1. Mục đích
-
Đánh giá thực trạng môi trường tại làng nghề đá mỹ nghệ xã Ninh Vân huyện
-
Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường hợp lí và nâng cao hiệu quả quản lý môi
trường tại làng nghề đá mỹ nghệ xã Ninh Vân huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình
để sản xuất và phát triển bền vững hơn.
1.2.2. Yêu cầu
-
Số liệu thu thập được sử dụng trong đề tài phải đảm bảo trung thực, khách
-
quan và cập nhập.
Đánh giá một cách trung thực khoa học và đầy đủ hiện trạng môi trường có
-
ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Từ định nghĩa về làng nghề mà xây dựng nên các tiêu chí công
nhận làng nghề. Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
8
+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm công nhận.
+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Định nghĩa thứ hai được được nêu ra là về nghề truyền thống: là nghề
đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng
biệt, được lưu truyền và phát triển cho đếnngày nay hoặc có nguy cơ bị mai
một, thất truyền…
Bên cạnh định nghĩa là các tiêu chí công nhận nghề truyền thống. Nghề
được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận.
+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi
của làng nghề.
Khi tổng hợp định nghĩa về làng nghề và nghề truyền thống đưa ra
được định nghĩa về làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền
thống được hình thành từ lâu đời. Và tiêu chí công nhận làng nghề truyền
thống:
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một
nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày
18/12/2006 . Đối với những làng nghề chưa đạt hai tiêu chuẩn đầu của tiêu
Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ.
Làng tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại,...)
Làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren.
Làng nghề vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá.
Các nhóm làng nghề khác ( mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng
thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới,...).
Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
(Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008)
10
Ngoài ra còn có thể phân loại làng nghề theo quy mô sản xuất (lớn,
nhỏ, trung bình); phân loại theo nguồn nước thải và mức độ ô nhiễm; theo
lịch sử phát triển; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ
và những yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết đối với sự tăng trưởng
và phát triển của các làng nghề. Phát triển cơ sở hạ tầng tốt sẽ góp phần thực
hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo việc làm, xóa
nghèo ở nông thôn thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng
nghề. Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi
mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật [2].
2.1.2.2. Làng nghề và xóa đói giảm nghèo
Cùng với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn là sự phát triển
kinh tế trong đó giải quyết được một vấn đề nan giải là xóa đói giảm nghèo.
Tại các làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham gia
sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định. Tại nhiều làng nghề, trong cơ
cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60 –
80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 – 40%. Trong những năm gần đây số
hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn ngày càng tăng lên với tốc độ tăng bình
quân từ 8,8 – 9,8% năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề
không ngừng gia tăng. Chính vì vậy, có thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất
quan trọng đối với việc xóa đói giảm nghèo trong nông thôn, trực tiếp giải
quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu
nhập, nâng cao chất nghề cao gấp từ 3 đến 4 lần so với thu nhập của lao động
thuần nông [2].
2.2. Ảnh hưởng của làng nghề tới môi trường và sức khỏe con người
Trải qua bao đời nay, các làng nghề với phương thức sản xuất thủ công
nghiệp đã tồn tại và phát triển, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế- xã hội của đất nước, đặc biệt góp phần cải thiện đời sống nông
12
thôn. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt về
vấn đề môi trường và xã hội. Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải
chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ. Ô nhiễm bụi thường
xuất hiện tại các làng nghề gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gỗ mỹ
nghệ và các làng nghề tái chế (đặc trưng nổi bật là một lượng lớn bụi chứa
kim loại và bụi vật liệu độc hại). Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ thì
có thể nhắc đến làng nghề mây tre đan, không khí thường bị ô nhiễm bởi SO 2
(phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc sản phẩm mây tre đan). Thái Bình là
một ví dụ, nơi đây có 40/210 làng nghề làm mây tre đan, có tới 800 lò sấy lưu
huỳnh thải ra lượng khổng lồ khí SO2 từ quá trình xử lý chống mốc sản phẩm
mây tre đan. Nhóm các làng nghề được đề cập tiếp theo là sản xuất vật liệu
xây dựng và khai thác đá, ở các làng nghề khai thác đá, bụi phát sinh từ quá
trình khai thác chế tác đá là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm không khí.
Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ từ hoạt động chế tác đá còn chứa một lượng
không nhỏ SiO2 (0,56 – 1,91% tại làng nghề đá Non Nước – thành phố Đà
Nẵng) rất có hại cho sức khỏe. Không chỉ có thế hàng trăm cỗ máy đua nhau
hoạt động hết công suất suốt ngày đêm, nào là máy xẻ, máy mài, rồi đến máy
xay đá, việc ô nhiễm tiếng ồn là điều không thể tránh khỏi. Và một nhóm
làng nghề khác cũng bị ô nhiễm tiếng ồn là các làng nghề dệt do các máy thủ
công trong môi trường vi khí hậu của chính làng nghề. Mức ồn có nơi vượt
tiêu chuẩn cho phép từ 4 – 14 dBA [2].
Tại báo Nhân dân ngày 23/6/2005, GS.TS. Đặng Kim Chi đã cảnh báo:
Môi trường không khí bị ô nhiễm cục bộ tại nơi sản xuất trực tiếp, nhất là ô
nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sản xuất than củi.
Tỷ lệ người dân lang nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường
gặp các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều
dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều
ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề
[8].
14
15
nước thải có dộ màu cao chứa nhiều hóa chất là nhắc đến nhóm làng nghề dệt
nhuộm do nhu cấu hóa chất lơn, bao gồm: thuốc nhuộm các loại, axit, xút mà
khoảng 80 – 90% loại hóa chất này hòa tan vào trong nước thải [2].
Ngoài ô nhiễm không khí và ô nhiễm nước thì ô nhiễm chất thải rắn
cũng là loại ô nhiễm dễ bắt gặp nhất trong các làng nghề hiện nay.
2.2.3. Tác động của làng nghề và ô nhiễm chất thải rắn
Có rất nhiều làng nghề ô nhiễm chất thải rắn: tái chế nguyên liệu ( giấy,
nhựa, kim loại,…không tái chế được) hoặc làng nghề chế biến lương thực,
thực phẩm có bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong,…) và nhiều làng
nghề khác với khối lượng rất lớn và đa dạng về thành phần, khó phân hủy
thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào. Đây chính là
một trong những nguyên nhân làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất
hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Làng nghề Hoàng Diệu
huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương là một ví dụ điển hình. Làng nghề may gia
công , da giầy tạo ra chất thải rắn như vải vụn , da vụn gồm da tự nhiên, giả
da, cao su chất dẻo với lượng thải lên tới 4 – 5 tấn/ ngày. Đây loại chất thải
khó phân hủy nên không thể xử lý bằng chôn lấp. Chính vì thế mà từ nhiều
năm nay chưa được thu gom xử lý mà đổ khắp nơi trong làng gây mất mỹ
quan và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái.
Đối với các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm , chăn nuôi, giết
mổ,… thải ra một lượng lớn chất thải rắn giàu hữu cơ dễ phân hủy sinh học
gây khó chịu đối với cộng đồng. Tại làng nghề Dương Liễu hàng năm phát
sinh tới 105.768 tấn bã thải trong khi đó sản lượng chỉ đạt 52.000 tấn tinh
bột/năm. Một phần lượng bã thải được tận thu làm thức ăn gia súc , làm nhiên
liệu. Một phần không nhỏ bã thải bị cuốn theo nước thải gây tắc nghẽn hệ
thống thu gom cũng như ao hồ khu vực, gây ô nhiễm nghiêm trọng nước mặt
và nước dưới đất [2].
Chế biến
nônglâm-thủy
sản
Thủ công mỹ
nghệ và vật
liệu xây dựng
Các
ngành
dịch vụ
Các
ngành
khác
Thủ công bán cơ khí (%)
61,51
70,69
43,9
59,44
17
2.2.4. Tác động của làng nghề tới sức khỏe con người
Trong thời gian gần đây, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc
biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao. Theo
các kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại các
làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn
quốc và so với làng không làm nghề tuổi thọ này cũng thấp hơn từ 5 đến 10
năm. Bên cạnh những vấn đề bệnh tật do ô nhiễm môi trường làng nghề, các
nguy cơ tai nạn thương tích đối với người lao động tại các làng nghề này cũng
rất cần được quan tâm. Những tai nạn lao động như nổ lò, điện giật, bỏng,
ngã, gãy tay, vật nặng đè cũng đáng báo động, tỷ lệ tai nạn lao động tại nhóm
làng nghề này chiếm khoảng 33,4% mỗi năm. Theo một nghiên cứu năm
1999, cho thấy tỷ lệ tai nạn lao động tại làng nghề Đa Hội – Bắc Ninh lên tới
56,9%. Nghiên cứu khác tại làng nghề Đại Bái – Bắc Ninh (2002) tỷ lệ tai nạn
lao động 42,2%. Theo nghiên cứu tại Tống Xá – Nam Định năm 2007, tỷ lệ
tai nạn thương tích (bỏng, điện giật, gãy chân tay..) của làng nghề Tống Xá
18
cao hơn so với khu vực đối chứng là làng An Thái và Ba Khu thuộc xã Yên
Phong (Nam Định) [2].
Số liệu từ Hiệp hội Ung thư Việt Nam cho thấy mỗi năm cả nước phát
hiện 150.000 người mắc bệnh và hơn 75.000 người chết vì ung thư. Hầu hết
người bệnh đều không được phát hiện sớm để điều trị. Khảo sát trên 400 bệnh
nhân đến khám tại Bệnh viện K (Hà Nội) cho thấy có đến 79% được chẩn
đoán và điều trị lần đầu khi đã ở giai đoạn 3 và 4. Nguyên nhân là do chủ
quan và thiếu hiểu biết về ung thư. Và theo số liệu từ Bệnh viện K (Hà Nội),
trong 5 năm (2007-2011) có 80.254 bệnh nhân ung thư đến điều trị tại bệnh
viện. Trong đó, nam giới chiếm 40,1%, nữ giới 59,9%. Số lượng bệnh nhân
đến điều trị ngày một tăng, nhiều nhất là ung thư vú, phổi. Trong đó có một
10
11
12
Các loại bệnh thường gặp
Bệnh ngoài da
Đau mắt
Đau ngang thắt lưng
Bệnh về thần kinh
Bệnh về dạ dày
Bệnh về thận
Bệnh về đường hô hấp
Viêm đường ruột
Bệnh thấp khớp
Bệnh tim và huyết áp
Răng hàm mặt
Tai mũi họng
Người dân
làm nghề (%)
14
2,3
12,8
2,3
4,6
1,2
4,6
1,2
4,6
1,2
về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển
làng nghề nông thôn theo nghị định số 66-2006/NĐ-CP [2].
20
Theo Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt 7 nhiệm vụ, giải pháp gồm:
- Tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công
nghiệp; nâng cao chất lượng thẩm định yêu cầu bảo vệ môi trường trong các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển.
- Chú trọng bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.
- Tập trung khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường nông thôn, làng nghề.
- Chỉ đạo quyết liệt, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường tại các thành phố lớn và các lưu vực sông.
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu phế liệu.
- Ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái của các hệ sinh thái, suy giảm các loài.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Tuy vậy các văn bản pháp luật BVMT làng nghề còn thiếu và chưa cụ
thể. Luật BVMT năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh
vực môi trường, trông đó có điều 38 về BVMT làng nghề và các điều khoản
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp. Cho đến hiện nay, chưa có một văn bản
hướng dẫn thực hiện nội dung BVMT làng nghề của Luật BVMT. Dù có một
số nội dung BVMT làng nghề được đề cập đến trong một số văn bản khác
nhau nhưng cũng chưa có quy định cụ thể về việc làng nghề phải có hệ thống
thu gom và xử lý nước thải tập trung, phải có biện pháp giảm thiểu khí thải
phát sinh… Các làng nghề rất đa dạng và mỗi loại có đặc thù riêng. Tuy
nhiên, hoàn toàn chưa có văn bản pháp luật quy định riêng đối với vấn đề
được do sản xuất, chăn nuôi và sinh hoạt đan xen lẫn nhau, khó tách bạch
nước thải sản xuất ra để tính toán mức phí. Chưa kể đời sống người dân còn
22
nghèo, nguồn nước sử dụng chủ yếu là nước giếng khơi và giếng khoan. Nhân
lực, tài chính và công nghệ cho BVMT làng nghề không đáp ứng được nhu
cầu. Lực lượng cán bộ làm công tác môi trường còn quá mỏng về số lượng và
hạn chế về trình độ. Nhân lực quản lý môi trường từ trung ương đến địa
phương chưa đủ về số lượng, thiếu người chuyên trách về môi trường làng
nghề, không được đào tạo bài bản và cũng không được tập huấn thường
xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn. Đầu tư cho BVMT làng nghề chưa
tương xứng với quy mô sản xuất hiện nay. Cho đến nay, kinh phí đầu tư cho
BVMT làng nghề còn hết sức hạn chế. Thêm vào đó, việc thu phí BVMT tại
làng nghề còn chưa áp dụng một cách triệt để. Kinh phí cho công tác BVMT
do chính quyền xã tự trang trải lấy từ nguồn được phép chỉ 10% nguồn thu
thuế của các hộ sản xuất. Lượng kinh phí này không đủ để xây dựng hệ thống
xử lý giúp làm giảm ô nhiễm môi trường. Một số làng nghề có dịch vụ này
cho cán hộ sản xuất đóng góp nhưng lượng thu này cũng không đủ để chi trả
tiền công cho tổ dịch vụ và trang thiết bị thu gom. Việc ứng dụng công nghệ
môi trường tại các làng nghề còn chưa chú trọng đúng mức. Công tác quản lý
môi trường chưa huy động được đầy đủ các nguồn nhân lực xã hội trong
BVMT làng nghề. Tiềm năng của cộng đồng trong BVMT vẫn chưa được
phát huy đầy đủ tại địa phương. Và đấu tranh của cộng đồng với các cơ sở
gây ô nhiễm buộc họ phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm. Trách
nhiệm của các doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ sản xuất tại chính làng nghề
đối với việc tuân thủ pháp luật về môi trường còn chưa cao [2].
Thành phố Đà Nẵng là một trong những tỉnh, thành phố có nhiều sáng
kiến trong công tác quản lý môi trường tại địa phương và đã đạt được những
quảng bá thương hiệu của làng thông qua việc tiếp tục tham gia các hội chợ
lớn về ngành thủ công mỹ nghệ trong và ngoài nước; xây dựng website Hội
làng nghề ngày càng nhiều nội dung, giới thiệu nhiều hơn về hình ảnh, hiệu
quả, sản phẩm độc đáo của làng nghề; đẩy mạnh việc từng cơ sở sản xuất kinh
doanh mở website và xây dựng nhãn hiệu công nghiệp cho từng cơ sở sau khi
logo làng nghề được công nhận; tăng cường khai thác thông tin thị trường trên
24
mạng… Cùng với các công việc trên, trong thời gian sắp tới quận sẽ đẩy
mạnh kiểm tra thực hiện văn minh thương mại thông qua các biện pháp như:
niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết; chấn chỉnh tình trạng chèo kéo khách
hàng; tiến hành tập huấn nâng cao nghiệp vụ bán hàng và văn minh thương
mại. Quận cũng sẽ tổ chức thi sáng tác, nâng cao tay nghề, qua đó chọn những
sản phẩm đoạt giải để trưng bày nhằm quảng bá sản phẩm của làng nghề. Mặt
khác, yêu cầu đặt ra đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng nghề là
không ngừng cải tiến mẫu mã, đầu tư trang thiết bị để nâng cao năng suất và
chất lượng sản phẩm”.
Theo Hội làng nghề đá Non Nước, hiện môi trường của làng nghề đang
ở mức báo động, đặc biệt là ô nhiễm bụi, tiếng ồn, chất thải, ô nhiễm nguồn
nước. Tuy nhiên, do làng nghề tồn tại khá lâu đời, nhiều cơ sở sản xuất nằm
xen lẫn trong khu dân cư và phát triển một cách tự phát nên rất khó khăn
trong việc xử lý, khắc phục ô nhiễm. Vì vậy, trong thời gian trước khi di dời
làng nghề vào khu vực tập trung, cần có các biện pháp hữu hiệu, tức thời như:
Mỗi cơ sở sản xuất tự che chắn hạn chế bụi; tăng cường trồng cây xanh trong
làng; mỗi hộ xây dựng bể thoát và lắng chất thải; đầu tư trang thiết bị dẫn
nước tới các vị trí cắt, mài để hạn chế bụi; xây dựng hệ thống thoát nước cục
bộ tại các tuyến đường vào làng và thường xuyên định kỳ xử lý chất thải; tăng
cường xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, gây ô nhiễm và lấn chiếm vỉa hè, lòng