1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thuỷ lợi - Hà Nội,
được sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy, các cô trong trường Đại học Thủy lợi nói
chung, trong khoa Kinh tế và Quản lý nói riêng đã trang bị cho tác giả những kiến
thức về cơ bản về chuyên môn cũng như cuộc sống, tạo cho tôi hành trang vững chắc
trong công tác sau này.
Xuất phát từ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm
ơn các thầy cô. Đặc biệt để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ
lực của bản thân, còn có sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng
dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Uân, trường Đại học Thuỷ lợi. Xin chân thành cảm ơn các
thầy cô phòng Quản lý đào tạo Đại học và Sau đại học, Khoa Kinh tế và quản lý đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn anh chị đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã
động viên và giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có sự cố gắng của bản thân, song do khả
năng và kinh nghiệm có hạn, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót ngoài mong muốn,
vì vậy tác giả rất mong được quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp góp ý để các nghiên cứu
trong luận văn này được áp dụng vào thực tiễn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày....….tháng….....năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hưng
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn
BT
BHYT
BHXH
CCN
CNH – HĐH
ĐTH
FDI
GCNQSDĐ
GDP
GPMB
HCM
HĐND
HT
KCN
KĐT
KT - XH
LA
NN&PTNT
QH
QLĐĐ
QLNN
QSD
QSDĐ
QSH
RC
SDĐ
SDĐĐ
TN&MT
TTCN
TW
Sử dụng đất đai
Tài nguyên và môi trường
Tiểu thủ công nghiệp
Trung ương
Ủy ban nhân dân
Ngân hàng thế giới
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có một vị trí đặc biệt đối với con người, xã hội, dù ở bất kỳ
quốc gia nào và chế độ nào. Không một quốc gia nào không có lãnh thổ,
không có đất đai của mình, nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Dù ở
nơi đâu hay làm gì, thì các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người xét
cho cùng, đều được thực hiện trên đất đai. Bởi thế, đất đai luôn được coi là tài
nguyên quý giá của xã hội, luôn được quan tâm gìn giữ và phát huy tiềm
năng.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu to lớn đối
với công tác quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong
đó có quản lý nhà nước về đất đai. Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ đất
đai và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lyus đất đai (gần đây nhất
là luật đất đai sửa đổi năm 2013) nhằn điều chỉnh các mối quan hệ đất đai
theo kịp với tình hình thực tế.
Tỉnh Hà Nam nằm ở phía nam của vùng Đồng bằng sông Hồng, là cửa
ngõ phía nam của Thủ đô Hà Nội. Từ ngày tái lập tỉnh năm 1997 đến nay, Hà
Nam là một tỉnh đang trong quá trình phát triển; tốc độ phát triển kinh tế
những năm vừa qua đều đạt khá (bình quân hàng năm tăng trên 12%). Để đạt
nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra khảo sát; phương pháp thống kê;
phương pháp hệ thống hóa; phương pháp phân tích so sánh; phương pháp
phân tích tổng hợp; phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy;
phương pháp chuyên gia.
4. Đối tượng và phạp vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đê tài là công tác quản lý sử dụng quỹ đất
dành cho việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng
9
và những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng công tác này.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chất lượng và hiệu quả công tác quản
lý sử dụng quỹ đất cho việc đầu tư xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2010 – 2013 và đề ra các giải pháp tăng cường
hơn nữa công tác này đến năm 2020.
5. Nội dung luận văn
Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đất đai và quản lý ử dụng đất đai
cho các khu công nghiệp
- Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý sử dụng quỹ đất phát
triển các khu công nghiệp tại tỉnh Hà Nam
- Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý sử dụng quỹ
đất dành cho phát triển khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam đến năm
2020.
10
11
Đất đai có vị trí tương đối cố định, tính chất cơ học, vật lý, hoá học và
sinh học trong đất không đồng nhất. Do vị trí cố định và gắn liền với các điều
kiện tự nhiên thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước, cây trồng,... và các điều
kiện kinh tế như kết cấu hạ tầng, kinh tế, công nghiệp trên các vùng, các khu
vực nên tính chất của đất có khác nhau. Vì vậy, việc sử dụng đất đai vào các
quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính
chất của đất cho phù hợp.
Trong công nghiệp, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó
không ngừng được nâng lên. Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực
hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý. Sức sản xuất của đất
đai biểu hiện tập chung ở độ phì nhiêu của đất đai nên phải được thực hiện
các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phí nhiêu của đất đai, cho phép năng
suất đất đai tăng lên.
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi căn bản về
bản chất kinh tế xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyển sang là
tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diện kinh tế của đất
trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng
nâng cao hiệu quả. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, giá đất cũng như lợi nhuận
khi đầu tư vào đất tăng cao đã khiến cho tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai
xảy ra, làm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Đất đai cũng là
một nguồn vốn tham gia vào sản xuất hàng hoá, việc sử dụng đất lại rất cần có
vốn cho nên hình thành thị trường đất đai là một động lực quan trọng để góp
phần hoàn thiện hệ thống thị trường quốc gia. Chính vì vậy việc quản lý nhà
nước về đất đai là hết sức cần thiết, nhằm phát huy những ưu thế của cơ chế thị
trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra
cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai.
13
1.2. Quản lý và sử dụng đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai có thể có nhiều nghĩa khác nhau tại các
nước khác nhau. Quản lý nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý
đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện các chính
sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền
sử dụng đất. Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở
hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau.
Quản lý Nhà nước về đất đai là toàn bộ hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước ta căn cứ vào cơ sở pháp luật để điều chỉnh các nội
dung quản lý đất đai từ Trung ương đến địa phương trong việc phát sinh, thay
đổi và chấm dứt quan hệ đất đai; điều chỉnh các hành vi của các tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất hướng tới mục đích bảo vệ quỹ đất đai trên toàn
quốc, giữ gìn, tôn tạo, quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả theo định hướng
của Nhà nước.
Như vậy, có thể xác định khái niệm quản lý Nhà nước đối với đất đai ở
nước ta như sau: Quản lý nhà nước đối với đất đai là sự tác động liên tục, có
định hướng mục tiêu của bộ máy Nhà nước lên đối tượng sử dụng đất, nhằm
thực hiện mục tiêu chung đề ra trong những điều kiện và môi trường kinh tế
nhất định, trên nguyên tắc cao nhất Nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về
đất đai trực tiếp tham gia vận hành thị trường, để thực hiện quyền về kinh tế
của sở hữu và các chức năng khác của Nhà nước. Khai thác, sử dụng hợp lý,
hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đồng thời có biện pháp báo vệ đất và môi
trường sống theo hướng sử dụng bền vững quĩ đất. Quản lý nhà nước về đất
đai đô thị nhằm phân bổ tài nguyên đất đai đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đầy đủ, khoa học, hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao, xây dựng phát triển
đô thị theo hướng toàn diện, hiện đại, văn minh, tăng cường sức cạnh tranh
của đô thị trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời khai thác được
thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước về đất đai.
15
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở để quản lý việc
phân bổ quỹ đất, quyết định mục đích sử dụng đất thông qua cơ chế giao đất,
thu hồi đất.
- Quản lý tài chính về đất và trực tiếp tham gia vận hành thị trường
quyền sử dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất thông qua cơ chế giao
đất, thu hồi đất.
- Quản lý, giám sát thực hiện pháp luật đất đai thông qua công tác thanh
tra, kiểm tra, tiến hành xử lý các vi phạm pháp luật đất đai trong quản lý sử
dụng đất của cả chủ thể quản lý và chủ thể sử dụng đất.
Nội dung QLNN về đất đai theo quy định tại Điều 22, Luật Đất đai năm
2013 bao gồm 15 vấn đề. Để thuận tiện cho việc phân tích, đánh giá các nội
dung có mối liên hệ với nhau, tác giả tổng hợp 15 nội dung QLNN về đất đai
thành 10 nhóm, cụ thể như sau:
1.2.1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và phổ biến giáo dục pháp luật về đất đai
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ nhằm
tạo ra một hành lang pháp lý để các cơ quan QLNN về đất đai và những
người SDĐ thực hiện. Luật quy định những nguyên tắc lớn, những chính sách
quan trọng và giao Chính phủ, Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương quy định tiếp những chính sách cụ thể phù hợp với từng vùng, từng địa
phương.
Công tác phổ biến giáo dục pháp luật về đất đai được thực hiện đồng bộ
từ Trung ương đến tận cơ sở bằng nhiều hình thức khác nhau đến tận địa
phương, cơ sở cộng đồng dân cư để người sử dụng đất nắm rõ và thực hiện,
đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình quản
Quy hoạch SDĐ đảm bảo thoả mãn ngày càng tốt hơn mọi nhu cầu sử
dụng đất, bảo đảm cho đất đai được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, nguồn tài
17
nguyên ngày càng khan hiếm. Giải quyết tốt quy hoạch SDĐ là giải quyết
được tổng thể các vấn đề về phát triển KT -XH và nâng cao đời sống tinh thần
của nhân dân.
Quy hoạch SDĐ được lập ở bốn cấp: cấp TW; cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc TW, cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh, và cấp xã, phường, thị trấn.
1.2.1.4. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng
đất
Giao đất, cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền SDĐ bằng quyết
định hành chính, bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu SDĐ. Thu hồi đất
là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền SDĐ của tổ chức,
cá nhân để giao cho tổ chức, cá nhân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định của Luật Đất đai. Chuyển mục đích SDĐ là việc Nhà
nước cho phép tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chuyển mục
đích sử dụng từ loại đất này sang loại đất khác. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi
và chuyển mục đích SDĐ là một khâu quan trọng trong nội dung QLNN về
đất đai, nó phản ánh cụ thể chính sách của Nhà nước trong việc điều chỉnh các
quan hệ đất đai trong từng thời kỳ.
1.2.1.5. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án là hình thức đảm
bảo cho “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” được thực hiện. Bồi thường về đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất thu hồi cho người
SDĐ. Hỗ trợ (HT), bồi thường (BT), tái định cư (TĐC) khi Nhà nước thu hồi
đất là việc Nhà nước trợ giúp, bồi thường về đất ở cho người có đất bị thu hồi
để ổn định chỗ ở mới, ổn định đời sống sản xuất và phát triển.
dịch chuyển nhượng quyền SDĐ,... là hết sức cần thiết. Xây dựng hệ thống
thông tin đất đai tốt sẽ giúp Nhà nước kiểm soát được tình trạng SDĐ, cung
và cầu về đất đai, giá cả trên thị trường, thuận tiện cho người sử dụng có nhu
cầu tra cứu. Hệ thống này phải được cập nhất thông tin thường xuyên, cung
19
cấp rộng rãi cho các đối tượng sử dụng là các cơ quan QLĐĐ và người có nhu
cầu SDĐ. Thông tin về đất đai càng được công khai minh bạch sẽ tác động
tích cực cho thị trường bất động sản, giúp cho người SDĐ nâng cao hiểu biết,
có ý thức hơn trong quản lý và SDĐĐ đạt hiệu quả.
1.2.1.8. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
Là chức năng rất quan trọng của Nhà nước vừa để thực hiện quyền lợi
về mặt kinh tế của chủ sở hữu; đồng thời, thực hiện chức năng kinh tế của
Nhà nước, nó bao gồm các nội dung quản lý giá đất, quy định mức thu tiền
thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế đất các loại, quy định mức tiền bồi thường
thiệt hại cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản ngân
sách đầu tư vào đất và quản lý ngân sách khi đấu giá quyền sử dụng đất. Quản
lý tài chính về đất và giá đất đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả, hợp lý, tiết
kiệm. Đồng thời tạo hành lang pháp lý để người SDĐ yên tâm đầu tư vào đất,
được bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất.
1.2.1.9. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất và quản lý các hoạt động dịch vụ về đất đai
Quản lý, giám sát việc SDĐ nhằm đảm bảo người SDĐ phải thực hiện
đúng các quyền, đồng thời phải tuân thủ đúng nghĩa vụ mà pháp luật cho phép
thông qua hệ thống tổ chức cơ quan hành chính các cấp và hệ thống tổ chức
ngành địa chính các cấp. Trên cơ sở những quy định chung về quyền và nghĩa
vụ của người SDĐ, các cơ quan chức năng hướng dẫn các chủ SDĐ thực hiện
đúng các quyền và nghĩa vụ của mình ngay từ các đơn vị hành chính cấp cơ
thanh tra, kiểm tra phát hiện các sai phạm để xử lý, ngăn chặn kịp thời tránh
hậu quả xấu gây thiệt hại cho nhà nước hoặc cá nhân. Kịp thời xử lý các vi
phạm theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo mọi đối tượng phải thực thi
pháp luật nghiêm túc, đảm bảo sự bình đẳng giữa đối tượng SDĐ và các cơ
quan quản lý của nhà nước. Ở mỗi cấp quản lý, bộ máy QLNN đều có chức
năng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật.
21
Giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
quản lý, sử dụng đất. Khi có tranh chấp quyền SDĐ, các bên không thể cùng
nhau tự giải quyết, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ giải quyết tranh
chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật. Khiếu nại là việc người SDĐ đề
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu về quyền lợi
đối với quyền SDĐ của tổ chức hoặc cá nhân có liên quan hoặc kiến nghị với
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước giải quyết những vấn đề lợi ích của họ
mà cơ quan nhà nước cấp dưới đã giải quyết nhưng người sử dụng đất chưa
đồng tình. Tố cáo các vi phạm trong quản lý SDĐ là việc công dân, tổ chức tố
cáo những hành vi sai phạm của người thực hiện pháp luật gây thiệt hại cho
Nhà nước, xã hội. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai nhằm điều tiết mối
quan hệ giữa Nhà nước với người SDĐ trong việc quản lý và sử dụng đất đai
theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện đúng Quy chế dân chủ, công khai
và công bằng xã hội.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai
1.2.2.1. Nhân tố khách quan
- Điều kiện kinh tế,xã hội: Nền kinh tế càng phát triển, đời sống con
người được nâng cao thì nhu cầu về sử dụng đất càng lớn. Quy mô dân số lớn
thì nhu cầu sử dụng đất ở và đất để phát triển cơ sở hạ tầng sao cho phù hợp
với điều kiện dân số và quy mô phát triển của nền kinh tế. Cơ chế thị trường
nhanh chóng, dứt điểm. Ngược lại, sẽ gặp khó khăn nếu cán bộ QLNN về đất
đai có hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu trong thực hiện chính sách QLNN
về đất đai.
3. Các công cụ quản lý nhà nước về đất đai
- Công cụ pháp luật:
Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước.
Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi
của con người. Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ
23
nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan đến công tác QLĐĐ cụ thể
như: Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các
quyết định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết... của Nhà nước, của
Chính phủ, của các bộ, ngành có liên quan và các văn bản quản lý của các
cấp, các ngành ở chính quyền địa phương.
Với một hệ thống luật pháp đầy đủ và triển khai đồng bộ thì công tác
QLNN về đất đai gặp nhiều thuận lợi, ngược lại sẽ gặp nhiều khó khăn vì đây
là lĩnh vực sảy ra nhiều tranh chấp, khiếu kiện nhiều nhất.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Trong công tác QLNN về đất đai, công tác quy hoạch, kế hoạch SDĐ là
một nội dung quan trọng trong việc quản lý và SDĐ, nó đảm bảo cho sự lãnh
đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong QLNN về đất đai. Thông qua quy
hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp
xếp một cách hợp lý. Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất
đai. Từ đó, ngăn chặn được việc SDĐ sai mục đích, lãng phí.
- Công cụ tài chính
Tài chính là công cụ để các đối tượng SDĐ thực hiện nghĩa vụ và trách
nhiệm của họ. Thông qua nó để tác động đến các đối tượng SDĐ làm cho họ
Nam được hiểu giống với định nghĩa 2.
Trong đó:
+ Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
+ Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công
nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.
+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cáu hạ tầng KCN, dịch
vụ sản xuất công nghiệp.
1.3.2. Vai trò của các khu công nghiệp trong phát triển kinh tế
Các KCN có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Nó thể hiện
ở trong những nội dung sau:
25
- Tăng cường khả năng thu hút đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế.
Hầu hết các nước đang ở thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đều gặp phải một bài toán nan giải là tình trạng thiếu
vốn. Thông qua những ưu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước các KCN có
được môi trường đầu tư hấp dẫn, vì vậy nó có khả năng thu hút được nhiều
nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo
ngân hàng thế giới World Bank (WB), cho đến 1999 các dự án thực hiện trong
KCN do các Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chiếm tỷ lệ khá cao (khoảng
43% số dự án do doanh nghiệp trong nước thực hiện 24% do liên doanh với
nước ngoài và 33% do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện). Do vậy KCN đã
góp phần đáng kể trong thu hút FDI. Chẳng hạn như Đài Loan và Malaixia,
trong những điều phát triển, KCN đã thu hút được 60% vốn FDI. Đồng thời,
các doanh nghiệp hoạt động trong KCN phần lớn là các đơn vị tiềm năng. Do
đó hoạt động có hiệu quả góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất