Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện mộ đức, tỉnh quảng ngãi - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH MINH HẢI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH MINH HẢI

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
838.01.02

1.3. Chủ thể, nội dung, yêu cầu sử dụng quỹ đất công ích ............................. 21
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ ĐẤT
CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG
NGÃI .............................................................................................................. 34
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng quản lý, sử dụng quỹ
đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi ........................... 34
2.2. Đánh giá thực trạng quản lý quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ
Đức, tỉnh Quảng Ngãi ..................................................................................... 44
2.3. Đánh giá thực trạng sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn huyện Mộ
Đức, tỉnh Quảng Ngãi ..................................................................................... 52
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ
DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘ ĐỨC,
TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................................................... 57
3.1. Các giải pháp chung nâng cao hiệu quả quản lý quỹ đất công ích .......... 57
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất công ích trên địa bàn
huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi .................................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 của huyện Mộ
Đức .................................................................................................................. 38
Bảng 2.1. Cơ cấu đất công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức năm 2015 .......... 41
Bảng 2.2. Diện tích đất công ích của các xã trên địa bàn huyện Mộ Đức
năm 2015 ......................................................................................................... 42

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 tại huyện Mộ Đức ...................... 38
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 tại huyện Mộ Đức . 39


phần phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết được mối quan hệ lợi ích giữa
người sản xuất nông nghiệp và Nhà nước, không ngừng cải thiện, nâng cao
đời sống người nông dân. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý và sử dụng quỹ
đất nông nghiệp nhất là đất nông nghiệp công ích còn gặp nhiều khó khăn, bất
cập.
Pháp luật đất đai quy định, mỗi xã phường, thị trấn được lập và để lại
quỹ đất công ích không quá 5% tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã
(Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm
1998, 2001, Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013); không quá 5%
đối với đất trồng cây hàng năm, lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản để phục
vụ cho nhu cầu công ích của địa phương.
Khái niệm quỹ đất công ích được quy định thành định chế cụ thể từ khi có
Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1998,
2001; Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên trong thực tế
khái niệm về đất công ích và quản lý sử dụng đất công ích vẫn còn bỏ ngỏ đối
với các cấp quản lý và bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém …
Huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi là địa bàn nằm gần trung tâm tỉnh lỵ,
có nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và nâng
cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, do đa số dân cư ở đây sống bằng nông
nghiệp trong khi thu nhập từ nông nghiệp không cao, từ đó gây áp lực lên việc
sử dụng đất đai ngày càng lớn.
Trong những năm qua, quỹ đất công ích trên địa bàn huyện được khai
thác và sử dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, công tác quản lý quỹ đất nông nghiệp
nói chung và quỹ đất công ích nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và vướng mắc
cần được tháo gỡ trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng
đất công ích.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực
2



xã trên địa bàn huyện Mộ Đức.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý toàn bộ quỹ đất công ích trong phạm vi
địa bàn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quản lý, sử
dụng đất nông nghiệp nói chung và quản lý quỹ đất công ích nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp; phương pháp
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phương pháp tham vấn ý kiến các
chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý sử dụng đất
công ích trên các loại hình sử dụng đất.
- Cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp
theo về chính sách pháp luật đất đai.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các thông tin cơ bản về thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất
công ích trên địa địa bàn huyện Mộ Đức.
- Là tài liệu tham khảo để đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất
công ích trên địa bàn huyện Mộ Đức; cung cấp thông tin giúp cho cơ quan
chuyên môn quản lý sử dụng quỹ đất công ích có hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các bảng biểu, mở đầu và danh mục tài liệu
4


tích đất mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu
của địa phương, mà được giữ lại không quá năm phần trăm (5%) trong tổng
diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng
thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại xã, phường,
thị trấn thuộc địa phương đó [18, tr.78-79]. Từ khái niệm trên có thể hiểu
rằng đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, trích ra nhằm sử
dụng vào mục đích công ích và chỉ giữ lại trong giới hạn pháp luật cho phép

6


là từ 5% hoặc ít hơn so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp có trong
phạm vi địa bàn địa phương.
* Khái niệm quản lý quỹ đất công ích
Quản lý
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển,
liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất,
điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục
tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, theo đó chủ thể quản lý
được sử dụng quyền lực nhà nước gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp để
quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; có tính tổ chức cao, ổn định, liên
tục trên cơ sở các chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu
đã đặt ra.
Quản lý Nhà nước về đất đai
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc
xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai
cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc

diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai
theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả. Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước
về đất đai là hết sức cần thiết, nhằm phát huy những ưu thế của cơ chế thị
trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra
cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai.
Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành có 15 nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai. Bên cạnh đó, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông
tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai. Hệ
8


thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với
những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng
đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện thống
kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn
lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý nhà nước về quỹ đất công ích
Luật Đất đai quy định các loại đất dù là đất nông nghiệp, phi nông nghiệp
hay bất cứ loại đất nào thì để tạo lập nên loại đất đó cũng dựa trên hai căn cứ
chủ yếu: thứ nhất, dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan
có thẩm quyền xét duyệt; thứ hai, là nhìn vào nhu cầu sử dụng đất cụ thể,
được thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất. Đất công ích vì là diện tích được trích từ đất sản xuất nông
nghiệp nên không nằm ngoài quy định đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
cũng được xem là căn cứ quan trọng nhất trong việc tạo lập, quản lý quỹ đất
công ích. Khi cần diện tích đất thực hiện mục đích công ích cho địa phương,
trước đây theo Luật Đất đai năm 2003 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức lập

Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử
dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “những hoạt động của con
người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác
động lên chúng”. Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao
động, vốn, nước, phân hoá học...), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian,
chu kỳ mùa vụ...) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác
động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi
sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng
10


đất khác. Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị
chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế
bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy có
thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất:
Điều kiện tự nhiên: Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như
diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng..., cần chú ý đến việc thích ứng với
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố
bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng.
Điều kiện kinh tế - xã hội: Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số,
lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai,
yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất
cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Yếu tố không gian: Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất, do
đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con
người. Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất
không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 132 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về

* Vai trò quản lý quỹ đất công ích
Vai trò quản lý đất đai nói chung và quỹ đất công ích nói riêng của Nhà
nước thể hiện qua hai nội dung cơ bản sau: thứ nhất, Nhà nước quản lý đất đai
xuất phát từ chức năng của một tổ chức quyền lực và quan hệ đất đai tồn tại
như một lĩnh vực quan hệ xã hội đòi hỏi Nhà nước phải điều tiết; thứ hai, Nhà
nước với cương vị là đại diện chủ sở hữu cho toàn dân sẽ quản lý đất đai với
tư cách là người đại diện sở hữu. Dù dưới bất cứ hình thức nào, nội dung nào
thì trật tự quản lý nhà nước về đất đai nói chung và đất công ích nói riêng
12


cũng đi theo con đường luật định, nghĩa là sẽ chịu sự chi phối của Nhà nước
từ Trung ương, đến các cấp ở địa phương.
Quản lý Nhà nước về quỹ đất công ích nhằm đảm bảo các yếu tố sau: (1)
Đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, (2) Đánh giá, phân
loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng
loại đất, (3) Ban hành các chính sách, các quy định nội dung còn thiếu chưa
phù hợp với thực tế và sử dụng đất công ích tạo ra một hành lang pháp lý cho
việc sử dụng đất đai nói chung và quỹ đất công ích nói riêng, bảo đảm lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất. Đồng thời, cũng bảo đảm lợi ích của Nhà
nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất công ích, (4) Kiểm tra, giám sát
quản lý và sử dụng đất đai; phát hiện những mặt tích cực, tiêu cực để phát
huy, điều chỉnh và giải quyết những hành vi có sai phạm.
* Vai trò của sử dụng hiệu quả quỹ đất công ích
Có nhiều quan điểm về hiệu quả rất khác nhau. Lúc đầu, người ta thường
quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, khi nhận thức của con người
phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả.
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ
đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong kinh doanh, hiệu quả
là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng

không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải
xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và
hiệu quả môi trường. Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một loại hình nào
đó chúng ta đánh giá chúng trên ba khía cạnh: (1) Hiệu quả kinh tế, (2) hiệu
quả xã hội và (3) hiệu quả môi trường.
1.2. Chủ thể, nội dung và phương thức quản lý quỹ đất công ích
1.2.1. Chủ thể quản lý quỹ đất công ích
Ở Trung ương đối với đất công ích cũng được áp dụng theo quy định
14


chung của pháp luật đất đai, Quốc hội, với chức năng là cơ quan lập pháp,
Quốc hội quản lý bằng việc ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, thực hiện quyền giám sát tối cao
đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước. Vì nằm trong
tổng diện tích đất của quốc giá, đất công ích cũng chịu sự điều tiết chung,
nghĩa là thuộc quyền quản lý bao quát ở tầm vĩ mô, bằng các quy định nằm
rãi rác trong hàng loạt các văn bản mang tính pháp lý cao nhất của Quốc hội.
Hơn thế nữa, đất đai còn chịu sự quản lý ở cấp Trung ương bởi quyền
hạn của cơ quan hành pháp, đó là Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về
đất đai trong phạm vi toàn quốc, được coi là thẩm quyền và cũng là trách
nhiệm mà Chính phủ đảm đương đối với đất đai, trong đó có quỹ đất 5% phục
vụ nhu cầu công ích của cấp xã. Ngoài ra, Chính phủ còn là cấp quyết định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và quy hoạch sử dụng đất vào mục
đích quốc phòng, an ninh. Cơ quan trực thuộc Chính phủ, hệ thống quản lý
đất đất đai chuyên ngành là Bộ Tài nguyên và Môi trường là chủ thể chính,
chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc quản lý đất đai trên toàn quốc.
Ở địa phương, dựa vào đặc điểm và nhu cầu của từng vùng, từng địa
phương mà Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thành lập, hay không
thành lập quỹ đất công ích cho xã, phường, thị trấn. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất.
12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành
quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.

16


14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
quản lý và sử dụng đất đai.
15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai”.
Cùng với Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước đã ban hành các Nghị định,
Thông tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất
đai. Hệ thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn
chỉnh với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử
dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện
thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng
dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm
định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1.2.3. Phương thức quản lý quỹ đất công ích
Trong công tác quản lý tổng thể đất đai hay quản lý quỹ đất riêng như
đất công ích, muốn đạt được kết quả tốt, ngoài việc phân định rạch ròi các
thẩm quyền chung hay riêng góp phần đem lại hiệu quả thiết thực và nhanh
chóng còn cần phải có phương pháp, vạch ra các đường lối cụ thể, có như vậy
thì việc quản lý sẽ gọn nhẹ và minh bạch hơn, mang lại nhiều thành công hơn.

kế hoạch và thời gian đã được dự tính trước tạo nên sự đơn giản hóa và hiệu
quả trong quản lý quỹ đất công ích.
Bên cạnh đó việc thống kê, kiểm kê đất đai cũng là biện pháp quản lý
tốt khi diện tích, ô thửa được thể hiện rõ trong hồ sơ địa chính, trong các bảng
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổng thể của xã, phường, thị trấn là khi công
tác quản lý, sử dụng quỹ đất công ích phát huy tốt chức năng.
* Quản lý theo chính sách riêng của chính quyền từng xã
Mỗi cấp chính quyền là một tế bào tạo nên sự hoàn chỉnh của một bộ
18


máy Nhà nước với đầy đủ quyền hạn trong công tác quản lý điều tiết sự vận
hành của đất nước, thể hiện một thể chế chính trị vững vàng của quốc gia.
Một cấp chính quyền sẽ có một phương thức thể hiện quyền hạn khác nhau và
bằng các biện pháp, chính sách riêng để quản lý địa phương mình, nhưng
đương nhiên vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật, không trái với đạo đức xã
hội là nguyên tắc hàng đầu.
Đối với đất đai là lĩnh vực cần nhiều sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của
toàn Đảng, toàn dân. Ở từng nơi, chính sách về đất đai là khác nhau, có thể
xem đây là lĩnh vực đại diện cho đặc điểm chung, về sự khác nhau trong công
tác quản lý, cũng như thể hiện quyền hành của các đơn vị hành chính nhà
nước. Đất công ích, vì được tồn tại theo nhu cầu ở từng nơi nên có thể xem là
loại đất thể hiện nhiều nhất đường lối quản lý khác nhau ở cấp xã.
Dù chỉ là đơn vị hành chính thấp nhất trong cơ cấu bộ máy hành chính
nhà nước nhưng cấp xã cũng có chính sách pháp luật riêng, độc lập được thừa
nhận và không tách rời so với cơ chế chung của cả nước. Ở mỗi xã, đất công
ích hiện diện ở mức khác nhau, vì tùy theo điều kiện của từng nơi và nhu cầu
sử dụng khác nhau, mà được giữ lại diện tích đất khác nhau, thậm chí có xã
không có đất công ích 5%. Có thể coi chủ trương không để lại đó như là một
cách thể hiện chính sách riêng quản lý của cấp xã, khi nhu cầu sử dụng đất ở

tìm hiểu thì thuế đất là một trong những loại thuế ra đời sớm nhất trong lịch
sử thế khóa, ở Việt Nam ra đời và tồn tại hơn 20 năm, có thể nói đây là sắc
thuế ít có sự sửa đổi, bổ sung nhất so với các sắc thuế khác, trong hệ thống
pháp luật thuế hiện hành. Điều này còn thấy rõ mục đích chủ yếu của Nhà
nước khi ban hành loại thuế này là nhằm thể hiện sự quản lý nhà nước đối với
đất đai [19, tr.12].
Mỗi loại đất khác nhau thì mức thuế suất được định ra là khác nhau. Tùy
theo từng mục đích sử dụng và mục đích điều tiết của Nhà nước, trong sử dụng
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status