i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được
sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS. Nguyễn Bá Uân cùng sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Thủy lợi, Ban Giám
đốc và lãnh đạo các phòng chuyên môn Công ty tư vấn xây dựng NN&PTNT
Hà Nam.
Tác giả xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ và các ý kiến đóng góp của
các thầy giáo, cô giáo của Khoa Kinh tế và Quản lý trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Do trình độ, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu hạn chế nên Luận
văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến
đóng góp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Đức Phúc
ii
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự tìm tòi, nghiên cứu. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực và
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng....................................................................22
1.5.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp...........................................22
1.5.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp............................................23
1.6. Những bài học kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp..........................................................................................................24
1.6.1. Kinh nghiệm một số nước châu Á.................................................24
1.6.2. Kinh nghiệm một số nước khác.....................................................26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..............................................................................28
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC CỦA CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NAM..............................................29
iv
2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty Tư vấn xây dựng NN&PTNT Hà Nam
.....................................................................................................................29
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển...................................................29
2.1.2. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh và mục tiêu hoạt động............30
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty..............................................31
2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đến hết năm 2014............37
2.2.1. Tư vấn lập báo cáo đầu tư............................................................38
2.3.2. Tư vấn lập quy hoạch....................................................................40
2.3.3. Tư vấn giám sát.............................................................................40
2.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty.....46
2.3.1. Đặc điểm lao động........................................................................46
2.3.2. Năng lực đội ngũ lao động...........................................................51
2.3.3. Đánh giá và xếp hạng năng lực của công ty.................................51
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng nguồn nhân lực tại
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................82
vi
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty.................................32
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ học vấn.......................14
Bảng 1.2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động tại Việt
Nam.................................................................................................................16
Bảng 1.3. Chỉ tiêu đánh giá thể lực người lao động...................................18
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 5 năm (2010 – 2014)......44
Bảng 2.2. So sánh tỉ lệ nhân viên năm 2005 và 2014..................................46
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động phân theo giới tính...........................................48
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo tính chất lao động....................................49
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo độ tuổi.......................................................49
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của Công
ty tính đến thời điểm 31/12/2014..................................................................50
Bảng 3.1. Nhu cầu số lượng cán bộ tập huấn trong các năm 2020-2025. .69
Bảng 3.2: Số lượng sinh viên đào tạo...........................................................73
viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đều được dựa trên
các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực,... song chỉ có nguồn lực con người
mới tạo ra động lực cho sự phát triển, nguồn lực con người đóng vai trò quan
trọng và quyết định trong việc phát huy hiệu quả của các nguồn lực khác.
Nhân lực không chỉ là yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển của
xã hội, mà sự phát triển của xã hội còn được đo bằng chính bản thân mức độ
phát triển của nguồn nhân lực. Bởi vậy xác định nguồn nhân lực là “tài sản”
và phát triển nguồn nhân lực là một việc làm rất quan trọng, là quốc sách của
mỗi quốc gia.
Đối với các doanh nghiệp, nhân lực chính là yếu tố đầu vào có ảnh
hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều không thể thực hiện mà
không có sự có mặt của nguồn nhân lực, từ việc phân tích dự báo nhu cầu sản
xuất, lập kế hoạch, quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh cho đến việc
vận hành máy móc, thiết bị, công trình, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Cùng với sự gia tăng của hàm lượng chất xám trong
sản phẩm, dịch vụ, vai trò của con người ngày càng trở nên quan trọng và trở
thành nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia
nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Do đó phát triển và nâng cao
nguồn nhân lực là chiến lược quan trọng nhất của các doanh nghiệp trong điều
với các doanh nghiệp tư vấn, dựa trên những căn cứ, kết quả đánh giá thực
trạng công tác quản lý, sử dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên
trong thời gian qua của Công ty Tư vấn xây dựng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Hà Nam, Luận văn nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty Tư vấn xây
dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam nói riêng và các doanh
nghiệp tư vấn nói chung.
3.
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của luận văn, đề tài áp dụng phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra khảo sát; Phương pháp thống kê;
3
Phương pháp hệ thống hóa; Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp
phân tích tổng hợp; Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy;
Phương pháp chuyên gia.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý, sử dụng, đào tạo
đội ngũ cán bộ công nhân viên, các nhân tố ảnh hưởng và những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty Tư vấn xây
dựng NN&PTNT Hà Nam.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng công tác quản lý,
sử dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên trong giai đoạn 2010 - 2014
và đề ra các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác này cho đến năm 2020 tại
Công ty Tư vấn xây dựng NN&PTNT Hà Nam.
bộ công nhân viên Công ty Tư vấn xây dựng NN&PTNT Hà Nam nói riêng
và các doanh nghiệp tư vấn nói chung.
7.
Nội dung của luận văn
Ngoài những nội dung quy định của một bản luận văn thạc sĩ như: phần
mở đầu, kết luận kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,... Phần chính của
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhân lực và chất lượng nguồn
nhân lực
Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Công
ty Tư vấn xây dựng NN&PTNT Hà Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực tại Công ty Tư vấn xây dựng NN&PTNT Hà Nam đến năm 2020
1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN LỰC VÀ CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát
triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con
người,…vv. Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng
nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của
mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên
phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu nhưng không có những con
người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả
năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự
phát triển KTXH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả
năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của
họ được huy động vào quá trình lao động.
Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô NNL, song
đều có chung một ý nghĩa là phản ánh khả năng lao động của xã hội. Như
vậy, NNL và nguồn lao động có ý nghĩa tương đồng. Từ sự phân tích trên,
chúng ta có thể hiểu khái niệm NNL theo nghĩa rộng là bao gồm những người
đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao
động và trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ
trong gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào
tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề,…).
NNL thường được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng.
- Về số lượng: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ
tăng NNL, các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ
3
tăng dân số. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và NNL được biểu hiện sau một
thời gian khoảng 15 năm, vì sau khoảng thời gian đó con người mới bước vào
độ tuổi lao động. Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư
của một khu vực vào thời điểm nhất định. Quy mô dân số là nhân tố quan
trọng là căn cứ để hoạch định chiến lược phát triển. Mỗi một nước (cũng như
một vùng, một địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích
với điều kiện tự nhiên, cũng như trình độ phát triển KTXH của mình.
Về chất lượng: NNL được xem xét trên các mặt tình trạng sức khỏe,
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, thái độ đối với công việc ...
Nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế
hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của
Luật Lao động Việt Nam năm 2012 (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến
hết 55 tuổi).
1.1.2. Chất lượng nguồn nhân lực
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) định nghĩa “chất lượng là
toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ
thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn”. Và người tạo nên chất lượng
của sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức thì là tất cả lực
lượng lao động của tổ chức đó.
Theo Bùi Văn Nhơn (2006) giải thích, thì: Chất lượng nguồn nhân lực
gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó:
“Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần”
“Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và
kỹ năng lao động thực hành của người lao động”
“Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác
phong công nghiêp, có tinh thần trách nhiệm cao,…”
Còn theo sự phân tích của Tạ Ngọc Hải (2010), dựa trên khái niệm:
“Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá
nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công đạt
được của mỗi tổ chức” thì: “chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của
5
nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức
khỏe, thẩm mỹ,… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể
lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân
lực.”
thông qua trí tuệ. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự
thất bại trong hoạt động của con người. Năng lực trí tuệ của con người hiện
nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra
những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ
được những kỹ thuật - công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành kỹ
năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là, kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình
độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp,... Quá trình CNHHĐH càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của
NNL nhằm đạt được năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều
lần.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải
biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là
hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực
bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng
có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng
không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ
được nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện như vậy, người lao động ngoài ý
thức dân tộc cao, còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi ít ra là của khu
vực. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực
lượng nòng cốt, lực lượng dẫn đầu và nhân tài. Lực lượng nòng cốt của đội
ngũ lao động là những công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất
hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước
ngoài. Do đó, họ phải có một trình độ trí tuệ, khả năng nhất định để tiếp thu
và làm chủ được công nghệ tiên tiến. Hơn thế nữa, với những tri thức khoa
học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp,
7
người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có, mà còn
có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương
Trong quá trình thực hiện CNH-HĐH, người lao động còn phải có năng
lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và thời đại.
Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tình cảm, những tập
quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí,... của một
cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, truyền thống có cả mặt tích
cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức
độ nhất định, có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của tương lai. Sự nghiệp
CNH-HĐH đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền
thống, vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn, đồng thời tiếp thu
những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền
thống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội
hiện đại thì tương lai chỉ là sự tụt hậu.
NNL và đặc biệt là NNL chất lượng cao của thời kỳ CNH-HĐH phải là
những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động,
về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng. Việc xác
lập các chuẩn mực, định hướng các giá trị xã hội để xây dựng và phát triển
NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước là hết sức cần
thiết. Chìa khóa vạn năng để phát triển NNL chất lượng cao chính là phải
nâng cao giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội
dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
nâng cao hiệu quả nền giáo dục Việt Nam.
Dựa trên giác độ đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để
phân chia các giai đoạn phát triển kinh tế, nhiều chuyên gia đã chia quá trình
phát triển kinh tế thành 3 giai đoạn: nền kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế công
9
nghiệp, nền kinh tế tri thức. Đặc trưng trình độ phát triển của lực lượng sản
10
thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất trước đây, nguồn nhân lực
càng đóng một vai trò ngày một quan trọng hơn. Những nghiên cứu gần đây
cũng chỉ ra rằng, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền
vững chính là con người. Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ và đã nhấn mạnh
tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng đất
nước “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” (trích
Nghị quyết Đại hội Đảng VII). “Con người và nhân lực là yếu tố quyết định
sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
(trích Nghị quyết Đại hội Đảng VIII). Ngày nay trong quá trình đổi mới phát
triển, nhân lực được đánh giá là sức mạnh siêu quốc gia, có tính quyết định
trong cạnh tranh kinh tế và thiết lập trật tự thế giới mới. Sự phát triển của mỗi
quốc gia gắn chặt với chính sách và chiến lược phát triển nhân lực, sử dụng
nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao. Vì vậy, việc xây
dựng chính sách và chiến lược phát triển nhân lực sử dụng hiệu quả nguồn
nhân lực là một vấn đề hết sức cần thiết đối với không chỉ các quốc gia, mà
còn đối với cả các doanh nghiệp trong thời đại ngày nay.
1.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Theo cách đánh giá về chất lượng NNL của PGS.TS. Phùng Rân thì
năng lực hoạt động của NNL thuộc về chuyên môn của NNL. Tuy khó khăn
vất vả nhưng thông qua học tập, rèn luyện có thể đạt được và có thể đánh giá,
điều chỉnh được dễ dàng.
Để đánh giá chất lượng NNL người ta thường đánh giá trên một số tiêu
chí như sau:
1.3.1. Trí lực
Trí lực của NNL có thể bao gồm trình độ học vấn, kiến thực chuyên
môn, kỹ năng nghề, kinh nghiệm làm việc.
Trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn mà NNL có được chủ yếu
thông qua đào tạo, có thể được đào tạo về ngành và chuyên ngành đó trước
thể hiện lòng trung thành đối với doanh nghiệp hoặc với ngành. Người nhiều
kinh nghiệm làm việc có thể giải quyết công việc thuần thục và nhanh hơn
12
người ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm làm việc kết với trình độ và kỹ năng xử lý
trong công việc tạo thành mức độ lành nghề của NNL. Khả năng sáng tạo là
vô tận, năng lực của con người thể hiện tư duy trong việc đưa ra các sáng
kiến, các ý tưởng và có các quyết định nhanh nhạy linh hoạt trong giải quyết
các vấn đề.
Chất lượng NNL được phản ánh chủ yếu thông qua sức mạnh trí tuệ,
đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng NNL. Trí lực của NNL
biểu hiện ở năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng lao động nghề
nghiệp của người lao động thông qua các chỉ số: trình độ văn hóa, dân trí, học
vấn trung bình của người dân; số lao động qua đào tạo, trình độ và chất lượng
đào tạo; mức độ lành nghề (kỹ năng, kỹ xảo,…) của lao động; trình độ tổ
chức quản lý sản xuất kinh doanh; năng suất, chất lượng hiệu quả của lao
động,…
1.3.1.1.
Chỉ tiêu trình độ văn hóa của nguồn nhân
lực:
Trình độ văn hóa của con người là sự hiểu biết của người đó đối với
những kiến thức phổ thông. Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ
năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn
giản để duy trì cuộc sống. Trình độ văn hoá được cung cấp qua hệ thống giáo
dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá
nhân. Nói đến trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, tức là nói đến trình độ