MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ XUẤT
KHẨU HÀNG HÓA................................................................................3
1.2.3.1. Xuất khẩu trực tiếp................................................................................................................................8
1.2.3.2. Xuất khẩu uỷ thác.................................................................................................................................8
1.2.3.3. Mua bán đối lưu...................................................................................................................................9
1.2.3.4. Giao dịch qua trung gian.......................................................................................................................9
1.2.3.5. Gia công quốc tế.................................................................................................................................10
1.2.3.6. Tái xuất................................................................................................................................................10
1.2.4.1. Nghiên cứu thị trường.........................................................................................................................10
1.2.4.2. Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu............................................................................................11
1.2.4.3. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu............................................................................................................12
1.2.5.1. Tự do hóa thương mại.........................................................................................................................12
1.2.5.2. Các yếu tố kinh tế................................................................................................................................13
1.2.5.3. Các yếu tố luật pháp............................................................................................................................13
1.2.5.4. Các yếu tố cạnh tranh..........................................................................................................................13
1.2.5.5. Yếu tố văn hoá.....................................................................................................................................14
CHƯƠNG 2............................................................................................18
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG
HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT
TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA....................................................18
GT
28
CHƯƠNG 3............................................................................................40
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT
Nghĩa đầy đủ
Nghĩa tiếng Anh
Nghĩa tiếng Việt
1
USD
Đô la
2
IMF
International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
3
WTO
World Trade
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
4
GT
Giá trị
4
XK
Xuất khẩu
5
NK
Nhập khẩu
6
XNK
Xuất nhập khẩu
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và liên kết đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi
khu vực và trên toàn thế giới, khiến cho sự cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như
là các doanh nghiệp tăng lên. Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO cũng đã
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: phân tích và đánh giá về năng lực cạnh tranh xuất khẩu
hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển. Qua
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu
hàng hóa của công ty.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Lý luận chung về cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa.
- Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm
hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời gian qua.
- Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng
hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển trong thời
gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa.
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, chuyên đề nghiên cứu về năng lực cạnh
tranh xuất khẩu hàng hóa của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại
và Phát triển. Về thời gian, chuyên đề nghiên cứu về công ty TNHH ĐT-TM VÀ
PT từ năm 2007 đến quý I năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong chuyên đề:
- Phương pháp diễn giải, quy nạp
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp thống kê học
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các
điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
Dưới góc độ kinh tế học, hai nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ P.A
Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn sách về kinh tế học (xuất bản lần thứ 12)
cho rằng: “Cạnh tranh” (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh
tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai nhà kinh tế này cho cạnh
tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo.
Từ những định nghĩa và quan điểm khác nhau ở trên, có thể rút ra kết luận
rằng: “Cạnh tranh” là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong
môi trường cạnh tranh. Vì thế, để có cạnh tranh phải có các điều kiện như sau:
Thứ nhất, cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định
hoặc ngắn (tùy thuộc từng vụ việc khác nhau) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại,
phát triển của mỗi chủ thể trong quá trình cạnh tranh với nhau). Sự cạnh tranh có
thể diễn ra trong khoảng không gian nhất định. Nó có thể có quy mô hẹp (trong một
3
tổ chức, một nhóm ngành) hoặc rộng hơn (trong một nước, trong một châu lục)
Thứ hai, phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh. Các chủ thể đó có
cùng một mục đích, mục tiêu và kết quả khá giống nhau, nghĩa là phải có một đối
tượng cụ thể mà các chủ thể cùng hướng đến để giành giật. Trong một nền kinh tế,
đối với chủ thể canh tranh bên bán là các loại sản phẩm tương tự nhau có cùng mục
đích phục vụ cho một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh
tranh đều có thể sản xuất và được người tiêu dùng chấp nhận. Ngược lại, đối với
các chủ thể cạnh tranh bên mua thì cạnh tranh tức là giành được quyền mua các sản
phẩm theo đúng chất lượng hay giá cả mà mình mong muốn.
Thứ ba, sự cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể
và phải có những ràng buộc giống nhau mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải
tuân thủ một cách chặt chẽ. Trong một nền kinh tế, những ràng buộc này chính là
khác nhau về kiểu dáng, mẫu mã. Để có thể tồn tại trong cuộc cạnh tranh này, các
doanh nghiệp phải tìm cách cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh thông qua tính kinh tế của quy mô.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là sự cạnh tranh giữa những người bán có các sản
phẩm được sản xuất ra không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩm có thương hiệu
riêng, chất lượng, đóng gói, bao bì sản phẩm khác nhau để phân biệt đối với người
tiêu dùng. Quảng cáo, ưu đãi giá cả, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
chúng … là những cách thức các doanh nghiệp thường sử dụng.
Cạnh tranh độc quyền: là sự cạnh tranh mà trên thị trường chỉ một hoặc một
vài người bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ vào đó. Giá cả của sản phẩm sẽ bị
chi phối rất lớn bởi các nhà sản xuất. Họ sẽ tìm cách để tối đa hóa lợi nhuận của
mình, vì thế mức sản lượng và mức giá họ đưa ra sẽ không phải tại mức cân bằng
hiệu quả của thị trường.
Thứ tư, căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh được chia làm ba
loại:
Cạnh tranh giữa nguời bán với nhau: đó là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật
thị trường và khách hàng. Kết quả là giá cả giảm xuống và người mua được mua
với giá rẻ hơn. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào không đủ tiềm lực
kinh tế thì sẽ không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị
phần cho các đối thủ khác mạnh hơn.
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: mức độ cạnh tranh này phụ thuộc phần
nhiều vào quan hệ cung cầu trên thị trường hàng hóa và dịch vụ. Khi cung về một
loại hàng hóa nhỏ hơn lượng cầu mà người tiêu dùng cần thì cuộc cạnh tranh trở
nên khốc liệt và gay gắt. Giá cả của hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, vì thế, người
mua sẽ phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ mong muốn.
Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hoá của
mình với giá cao nhất trong khi người mua muốn mua với giá thấp nhất. Lúc đó,
giá cả hàng hóa tại mức cân bằng sẽ do cung cầu quyết định.
1.1.3.
tế theo IMF thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Theo điều 28, mục 1, chương 2, luật thương mại Việt Nam 2005, xuất khẩu
hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu
vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo
quy định của pháp luật.
Xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương và
ngày càng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hội nhập quốc như hiện nay. Từ
những hình thức trao đổi sơ khai ban đầu, đến nay xuất khẩu đã xuất hiện thêm rất
nhiều hình thức mới nhằm tạo thuận lợi cho các bên. Nó diễn ra trong tất cả các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, và trên phạm vi toàn cầu.
1.2.2. Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại chủ yếu của một
quốc gia. Hoạt động xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản thúc đẩy tăng
6
trưởng và phát triển của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
Vai trò của xuất khẩu đối với một quốc gia bao gồm:
Thứ nhất, xuất khẩu có vai trò thúc đẩy đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản
xuất. Quá trình sản xuất phải liên tục đổi mới trang thiết bị công nghệ, hơn nữa,
người lao động phải nâng cao tay nghề, phải học hỏi kinh nghiệm để đáp ứng yêu
cầu cao của thị trường thế giới về chất lượng sản phẩm. Kinh nghiệm cho thấy khi
thay đổi thị trường chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu và đòi hỏi phải thay đổi mẫu
mã, chất lượng sản phẩm sẽ tất yếu xảy ra, điều này kéo theo sự thay đổi trang thiết
bị, máy móc, và lực lượng lao động. Xuất khẩu giúp tạo ra những nền tảng kinh tế kỹ thuật để thường xuyên nâng cao năng lực sản xuất ở trong nước. Vì thế, xuất
khẩu giúp cho nước xuất khẩu tiếp thu được những thành tựu khoa học tiên tiến ở
các nước phát triển hơn.
Thứ hai, xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Xuất khẩu
không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng
nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác. Xuất khẩu tạo ra khả
điều tăng 42%; giá cà phê tăng 44%; giá cao su tăng 29%. Nhờ sự tăng mạnh về giá
đã góp phần tạo nên giá trị lớn cho lĩnh vực xuất khẩu và đóng góp rất lớn vào tăng
trưởng GDP trong năm 2011. Cùng với đó, các doanh nghiệp ngày càng khai thác
được nhiều hơn những ưu đãi từ những lợi thế sau năm năm Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới WTO và từ các hiệp định thương mại song phương, đa
phương. Từ đó không ngừng mở rộng và tìm kiếm thêm các thị trường mới để nâng
cao kim ngạch xuất khẩu.
1.2.3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Để nâng cao sức cạnh tranh, các doanh nghiệp xuất khẩu nên đa dạng hóa các
hình thức xuất khẩu. Bằng việc áp dụng những hình thức xuất khẩu chủ yếu như
sau:
1.2.3.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị
sản xuất trong nước hoặc từ khách hàng nước ngoài thông qua tổ chức của mình rồi
xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ đó. Một doanh nghiệp muốn xuất khẩu trực tiếp
trước tiên cần phải có nguồn vốn đủ lớn, đội ngũ cán bộ công nhân viên phải có đủ
năng lực và trình độ chuyên môn để có thể cải tiến tất cả các khâu trong hoạt động
xuất khẩu. Nó có những ưu điểm đáng kể như sau:
- Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp tại vì cắt giảm được các chi phí trung gian.
- Nắm bắt ngay được nhu cầu của khách hàng nên có thể thay đổi sản phẩm,
dịch vụ và những điều kiện bán hàng vì có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với
khách hàng và với thị trường nước ngoài.
1.2.3.2. Xuất khẩu uỷ thác
Xuất khẩu ủy thác việc mà theo đó bên được uỷ thác thực hiện việc mua bán
hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ
thác và được nhận phí uỷ thác. Bên được uỷ thác mua bán hàng hoá là doanh
nghiệp kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua
bán hàng hoá theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác. Công ty uỷ thác
8
Đại lý là một tổ chức hoặc một cá nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo
sự uỷ thác của người uỷ thác, quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng đại lý. Có rất
nhiều đại lý khác nhau như đại lý hoa hồng, đại lý toàn quyền, tổng đại lý... Môi
giới là thương nhân trung gian giữa người mua và người bán. Khi tiến hành nghiệp
vụ, người môi giới không đứng tên của chính mình mà đứng tên của người uỷ thác.
Do quá trình trao đổi giữa người bán với người mua phải thông qua một người
thứ ba nên tránh được những rủi ro như: do không am hiểu thị trường hoặc do sự
9
biến động của nền kinh tế .Tuy nhiên phương thức giao dịch này cũng phải qua
trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hồng nhất định, nó làm cho lợi nhuận giảm
xuống.
1.2.3.5. Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên (gọi là bên
nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên (bên đặt
gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu lại
một khoản phí gọi là phí gia công.
Đây là hình thức kinh doanh chủ yếu áp dụng cho những nước nơi có nhiều lao
động, giá rẻ, nhưng lại thiếu vốn, thị trường. Khi đó các doanh nghiệp có điều kiện
cải tiến và đổi mới máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng lực sản xuất và thâm
nhập vào thị trường thế giới.
Mặc dù đây là hình thức kinh doanh mang lại khoản tiền thù lao thấp nhưng nó
giải quyết được công ăn việc làm cho nước nhận gia công khi không có đủ điều
kiện sản xuất hàng hoá xuất khẩu cả về vốn, công nghệ và có thể tạo được uy tín
trên thị trường thế giới. Đối với nước thuê gia công có thể tận dụng được lao động
của các nước nhận gia công và thâm nhập vào thị trường của nước này.
1.2.3.6. Tái xuất
Tái xuất khẩu là xuất khẩu những hàng hoá mà trước đây đã nhập nhưng không
tiến hành các hoạt động chế biến.
những bạn hàng của các doanh nghiệp khác trong nước đã quan hệ cũng là một căn
cứ để xem xét lựa chọn ở các nước đang phát triển. Các bạn hàng thường được
phân theo khu vực thị trường mà tuỳ thuộc vào sản phẩm mà doanh nghiệp lựa
chọn để buôn bán quốc tế, mà các quốc gia ưu tiên.
d. Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức giao dịch là những cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực
hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới. Hiện
nay, có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như giao dịch thông thường,
giao dịch qua trung gian, giao dịch thông qua hội chợ hay triển lãm. Tuỳ vào khả
năng của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn phương thức giao dịch sao cho đảm bảo
các mục tiêu của sản xuất kinh doanh.
1.2.4.2. Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đây là một khâu quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu, vì nó quyết định đến
tính khả thi hoặc không khả thi của kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả
của đàm phán sẽ là hợp đồng được ký kết. Đàm phán có thể thông qua thư tín, điện
tín và trực tiếp.
Tiếp theo công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu,
trong đó, quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người
mua, còn người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá trị
theo các phương tiện thanh toán quốc tế.
11
Với những hợp đồng phức tạp, nhiều mặt hàng thì có thể thêm các phụ kiện là
bộ phận không tách rời của hợp đồng.
1.2.4.3. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, hai bên phải thực hiện đúng những điều khoản
mình đã cam kết trong hợp đồng. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ thực hiện những công
đoạn sau:
Bước 1: mở L/C và kiểm tra L/C đó
vốn được xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành
viên đang tìm kiếm.
1.2.5.2. Các yếu tố kinh tế
Bất cứ một nền kinh tế nào cũng đều phải chịu tác động của những yếu tố kinh
tế vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, … Những nhân tố này có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Khi lạm phát tăng như trong giai đoan hiện nay, đồng tiền trong nước bị mất
giá, giá cả các sản phẩm trong nước sẽ rẻ hơn một cách tương đối so với các sản
phẩm ở nước ngoài. Vì thế, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Khi lãi suất tăng, người dân sẽ gửi tiền vào ngân hàng và nguồnvốn đầu tư sẽ
giảm đi. Hoạt động kinh doanh cũng gặp khó khăn khi phải đi vay với lãi suất cao
hơn.
Tỷ giá hối đoái là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
hoạt động xuất nhập khẩu. Vì thế Ngân hàng nhà nước luôn có những điều chỉnh để
tỷ giá luôn nằm trong một ngưỡng nhất định để không làm ảnh hưởng quá lớn đến
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như là các doanh nghiệp khác. Khi tỷ giá
tăng, đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ. Điều này sẽ là yếu tố bất lợi cho
nhập khẩu nhưng lại có lợi cho xuất khẩu.
1.2.5.3. Các yếu tố luật pháp
Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh quốc tế, và các doanh nghiệp khi xuất khẩu vào nước nào thì phải tuân thủ
luật pháp của nước đó. Những yếu tố luật pháp ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
của doanh nghiệp bao gồm:
Các quy định về chống bán phá giá.
Các quy định về cạnh tranh, độc quyền.
Các quy định về thuế, trợ cấp, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, hạn ngạch.
Các quy định về bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn an toàn chất lượng.
Các quy định về bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ.
Các quy định về lao động, tiền lương, thời gian lao động.
thế các hàng rào mậu dịch, lợi thế cạnh tranh của nhiều nước đã không còn.
Trên thị trường quốc tế, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng gay gắt và quyết
liệt hơn. Các doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận cạnh tranh công bằng với các công ty
nước ngoài để tồn tại và phát triển. Vì vậy, việc nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu
hàng hóa là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu.
Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Mặt khác, có rất nhiều
doanh nghiệp cùng hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu đã dẫn đến tình trạng năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chỉ tập trung vào tìm cách giảm giá. Tình
trạng các doanh nghiệp xuất khẩu cạnh tranh với nhau, hạ giá một cách không cần
thiết, đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu đã làm giảm đáng kể khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp về tính năng, chất lượng, công dụng và mẫu mã sản
phẩm.
14
Hơn nữa, tiềm lực về tài chính đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân là
rất hạn chế, vốn đầu tư ban đầu còn thiếu. Thiếu vốn dẫn đến tình trạng các doanh
nghiệp không có điều kiện để lựa chọn các mặt hàng có chất lượng cao trong xuất
khẩu. Đầu tư vào đổi mới các trang thiết bị và công nghệ hiện đại đảm bảo cho quá
trình trước khi xuất khẩu của sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao để nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Trình độ công nghệ, trình độ của lực lượng lao động và năng lực quản lý điều
hành doanh nghiệp cũng là những nhân tố quan trọng dẫn đến năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp còn thấp. Theo thống kê, khoảng trên 45% các doanh nghiệp
đang sử dụng những công nghệ lạc hậu so với mức trung bình chung của thế giới
và các nước trong khu vực từ 15 năm đến 30 năm. Sự yếu kém của đội ngũ quản lý
cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất
khẩu. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thấy hết vai trò tối quan trọng của hoạt động
quản trị, vì thế, chưa chú trọng đến đội ngũ quản lý, chưa quan tâm đến tuyển dụng,
mục tiêu thứ hai. Mục tiêu thứ hai chỉ nên thực hiện sau khi đã hoàn thành mục tiêu
thứ nhất. Sự tập trung vào các mục tiêu này (tăng thị phần hay tăng doanh số) sẽ
tạo ra những rủi ro nội bộ nghiêm trọng đối với chiến lược của công ty.
Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là nền tảng cho việc phân tích
chiến lược cạnh tranh. Hiệu quả kinh tế của công ty có được là từ hai yếu tố: cấu
trúc ngành (đưa ra những quy tắc cạnh tranh chung) và cấu trúc vị trí của công ty
trên thị trường (nguồn gốc lợi thế cạnh tranh). Việc so sánh tỷ suất lợi nhuận từ đầu
của các công ty từ nhiều lĩnh vực khác đơn giản sẽ chẳng có ý nghĩa gì trong phân
tích cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đó.
Thứ tư, thỏa hiệp là một phần của cuộc chơi. Phần cơ bản của chiến lược là
chọn lựa đúng khi hai vị trí chiến lược không tương hợp, nghĩa là phải xác định
xem công ty nên thực hiện việc gì và không nên thực hiện việc gì.
Thứ năm, chiến lược cần phải thành công trong từng mắt xích của chuỗi tạo
dựng giá trị. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không thể được tập trung vào
một hoặc một số mắt xích của chuỗi tạo dựng giá trị mà phải đạt được sự thành
công trên tất cả các mắt xích.
Thứ sáu, chiến lược cạnh tranh phải bất biến và cố định. Sự bất biến trong chiến
lược chính là điều đảm bảo cho sự ổn định về doanh thu và lợi nhuận của công ty.
Không nên chạy theo sở thích của người tiêu dùng mà làm sai lệch chiến lược cạnh
tranh của công ty. Điều này đã được công ty Apple của Mỹ sử dụng một cách rất
thành công. Tất cả các sản phẩm của Apple đều đi trước xu hướng dẫn dắt người
tiêu dùng chứ không bao giờ chạy theo sở thích của người tiêu dùng. Việc thường
xuyên tăng cường sự quan tâm tới đòi hỏi và cả sự than phiền của người tiêu dùng
chính là mối đe dọa nghiêm trọng đối với quá trình và trình tự chiếc lược mà doanh
nghiệp đã lựa chọn từ ban đầu.
Thứ bảy, phân khúc thị trường là phần quan trọng trong việc tạo dựng chiến
lược. Doanh nghiệp có thể lựa chọn bất cứ phân khúc người tiêu dùng nào, sản
phẩm nào hay tạo động cơ mua sản phẩm hay dịch vụ. Điều cơ bản để có được
phân khúc lựa chọn được rõ ràng và không xảy ra sự xói mòn hay trùng lặp thì tất
cả các mắt xích của chuỗi tạo dựng giá trị cần phải phù hợp với những phân khúc
trọng hơn đến giá trị trên mỗi đơn vị xuất khẩu. Ví dụ như xuất khẩu gạo của Thái
Lan luôn hơn Việt Nam về chất lượng vì thế doanh thu họ thu về trên một đơn vị
gạo xuất khẩu cũng lớn hơn nhiều so với Việt Nam.
17
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG
HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ
PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN ĐẦU TƯ – THƯƠNG MẠI
VÀ PHÁT TRIỂN
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty trách nhiệm hữu
hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển
* Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đầu tư - Thương mại và Phát triển
* Thành lập ngày 28/4/2005 theo quyết định số 3505/QĐ/KHĐT
* Trụ sở chính: Số 24 Hoà Mã - Phường Phạm Đình Hồ - Quận Hai Bà Trưng –
Hà Nội
* Điện thoại: +84 – 043972 1571
* Fax: +84 - 4 3978 4572
* Vốn điều lệ ban đầu: 85.000.000.000 VNĐ
* Email:
Tài khoản tiền Việt Nam số: 600565198104 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam – BIDV.
Tài khoản ngoại tệ số: 305900535004 tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam – BIDV.
Công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT là một công ty chuyên kinh doanh xuất nhập
khẩu, và đầu tư, thương mại. Công ty đã mở rộng hoạt động với hơn 20 nước trên
GIÁM ĐỐC
PHÒNG
XNK
P. TÀI
CHÍNH
KẾ TOÁN
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
BAN
KHÁC
PHÒNG
TỔ CHỨC
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT
Với số lượng ban đầu chỉ là 15 người, trải qua 7 năm hình thành và phát triển,
hiện này số lượng cán bộ nhân viên của công ty lên tới 50 người. Từ chỗ chưa có
cơ cấu tổ chức bộ máy rõ ràng, đến nay, công ty đã có các phòng ban riêng thực
hiện những nhiệm vụ khác nhau.
Giám đốc: là người có quyền quyết định thực thi kế hoạch, chiến lược phát
triển của công ty. Thông qua sự cố vấn tham mưu của các phòng ban khác để đưa
ra những quyết định cuối cùng liên quan đến các hoạt động của công ty.
Nhiệm vụ chủ yếu của giám đốc là:
- Giám sát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Ký kết các hợp đồng.
HẠN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN
Từ năm 2007-2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế trên
toàn cầu đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty nhưng toàn thể cán bộ,
nhân viên của Công ty đã không ngừng cố gắng, nỗ lực hết sức mình, sử dụng triệt
để mọi các phương thức kinh doanh: xuất nhập khẩu gián tiếp, xuất nhập khẩu trực
tiếp, xuất nhập khẩu ủy thác và tự doanh. Vì thế, Công ty dần dần khẳng định được
vị thế của mình trong kinh doanh.
Hiện nay, công ty TNHH ĐT-TM VÀ PT đã có thị trường rộng lớn từ trong
khu vực lẫn quốc tế, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng qua từng năm và mang
lại lợi nhuận hàng năm rất lớn cho công ty.
20