đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa của công ty TNHH Vollex Việt nam - Pdf 30


lời mở đầu
Trong định hớng phát triển kinh tế xã hội theo chính sách mở cửa, đa nền
kinh tế nớc ta hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới, Đảng và
Nhà nớc ta đã khẳng định Chiến lợc phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn này
là hớng về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Việt nam với chính sách đa phơng hoá
và đa dạng hoá quan hệ quốc tế đã từng bớc hội nhập vào nền kinh tế thơng mại khu
vực và toàn cầu. Việt nam hiện nay đã là thành viên của ASEAN, APEC, ASEM...
đã ký hiệp định thơng mại với Mỹ và cố gắng đến năm 2005 Việt nam sẽ là thành
viên chính thức của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO).
Không thể phủ nhận rằng trong thời gian qua, nguồn vốn đầu t nớc ngoài đã
và đang góp phần quan trọng giúp cho nền kinh tế Việt Nam từng bớc chuyển mình
và hội nhập vào với nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong đó luồng vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài tại Việt Nam đã và
đang tăng lên nhanh chóng. Không chỉ tính đến nguồn lực về tài chính mà cả các
công nghệ hiện đại cũng đợc chuyển vào Việt Nam. Trong rất nhiều các doanh
nghiệp nớc ngoài đó thì công ty TNHH Volex là một điển hình. Đây là một công ty
100% vốn nớc ngoài tại Việt Nam, sản xuất xuất khẩu những hàng hoá thiết bị
truyền dẫn, là mặt hàng rất mới phục vụ cho thị trờng hàng hoá công nghệ thông tin
điện tử mà Việt Nam cha sản xuất đợc.
Theo xu hớng phát triển mạng lới công nghệ thông tin điện tử nh hiện nay thì
thị trờng Việt Nam cần phải có các mặt hàng đó để đáp ứng cho nhu cầu của thị tr-
ờng điện tử viễn thông. Chính vì vậy, vai trò của công ty TNHH Volex là vô cùng
quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Hoạt động sản xuất xuất khẩu hàng hoá
thiết bị điện của công ty trớc hết là để phục vụ cho nhu cầu thị trờng trong nớc vì
đây là sản phẩm mà các công ty trong nớc cha sản xuất đợc và tiếp sau đó là để xuất
khẩu ra thị trờng nớc ngoài. Việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu và đa ra giải pháp
để thúc đẩy hoạt động này phát triển là một vấn đề mang tính cấp thiết đối với công
ty hiện nay. Do vậy em đã quyết định chọn đề tài : Thực trạng và giải pháp
1


.1.1. Khái niệm về xuất khẩu.
Thơng mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng là một trong những hình
thức chủ yếu của hoạt động kinh doanh quốc tế. Đó là hoạt động mua bán, hoặc trao
đổi hàng hoá và dịch vụ vợt qua biên giới các quốc gia. Thơng mại quốc tế khác với
nội thơng - hoạt động trao đổi diễn ra giữa các vùng, các địa phơng, hoặc các thành
phố trong phạm vi một nớc. Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ
kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời sản xuất kinh
doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Xuất khẩu là lĩnh vực quan trọng nhằm
tạo điều kiện cho các nớc tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh
tế và làm giàu cho đất nớc.
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động thơng mại quốc tế trong đó hàng hoá
và dịch vụ đợc bán, cung cấp cho nớc ngoài nhằm thu ngoại tệ. Đây là hoạt động
kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là một hành vi buôn bán
đơn lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và
bên ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển
đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân. Mặt khác hoạt
động này dễ đem lại hiệu quả đột biến nhng có thể lại gây ra thiệt hại lớn vì nó phải
đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nớc tham
gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế đợc.
Hoạt động xuất khẩu đợc diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu t liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho
đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô
3

hình. Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia. Nó diễn
ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian, có thể diễn ra trong một
ngày hay kéo dài hàng năm, có thể diễn ra trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia hay
nhiều quốc gia khác nhau.
Nếu xét dới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình
thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bớc vào lĩnh vực kinh doanh

xuất khẩu so với lợng vàng phải thanh toán cho nhập khẩu. Thâm hụt thơng mại là
tình huống ngợc lại và xảy ra khi giá trị nhập khẩu của một quốc gia lớn hơn giá trị
xuất khẩu của quốc gia đó. Theo quan điểm trọng thơng thì quốc gia cần phải tránh
tình trạng thâm hụt thơng mại bằng mọi giá.
Các Chính phủ phải tích cực can thiệp vào thơng mại quốc tế để duy trì mức
thặng d thơng mại. Quá trình tích luỹ của cải phụ thuộc vào việc gia tăng mức thặng
d thơng mại, chứ không nhất thiết phải dựa vào việc mở rộng quy mô hoặc gia tăng
giá trị thơng mại. Chính phủ có thể đạt đợc điều này bằng cách cấm nhập khẩu một
số mặt hàng, hoặc áp đặt các công cụ hạn chế nhập khẩu nh thuế quan và hạn ngạch.
Đồng thời, các ngành công nghiệp trong nớc đợc trợ cấp để có thể đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu. Chính phủ cũng thờng áp dụng biện pháp cấm chuyển vàng bạc tới
các nớc khác.
Các quốc gia theo quan điểm của trờng phái trọng thơng tìm cách biến các
vùng lãnh thổ kém phát triển (các thuộc địa) thành nơi cung cấp nguồn nguyên vật
liệu thô rẻ tiền, và đồng thời thành nơi tiêu thụ các thành phẩm với giá cao.
Mặc dầu chính sách trọng thơng mang lại nhiều lợi ích cho những quốc gia
theo đuổi nó, nhng chính sách này có rất nhiều mặt hạn chế. Hạn chế chủ yếu của
chủ nghĩa trọng thơng là ở chỗ nếu tất cả các quốc gia đều tìm cách ngăn cản nhập
khẩu từ nớc ngoài vào thị trờng của mình và đẩy mạnh xuất khẩu sang các nớc khác
thì thơng mại quốc tế sẽ bị thu hẹp một cách ghê gớm. Ngoài ra, việc nhập khẩu từ
5

các thuộc địa với giá rẻ trong khi xuất khẩu sang các nớc đó với giá cao đã ngăn cản
sự phát triển kinh tế ở những nớc thuộc địa, từ đó làm giảm sức tiêu thụ hàng hoá ở
những nớc này. Các quốc gia này còn cho rằng của cải của thế giới là có hạn cho
nên sự giàu có của một quốc gia chỉ có thể diễn ra khi ít nhất có một quốc gia khác
nghèo đi. Thơng mại quốc tế vì vậy đợc coi là một trò chơi có tổng lợi ích bằng 0.
Nhng thực tế cho thấy rằng các quốc gia khi tham gia vào thơng mại quốc tế đều có
thể thu đợc lợi ích cho mình, nghĩa là sự giàu có của các quốc gia không chỉ dựa vào
lợng vàng đợc tích trữ ở quốc gia đó mà còn dựa trên nhiều nhân tố kinh tế xã hội

lại, các quốc gia cần mở cửa và trao đổi thơng mại để ngời dân của mình có thể mua
đợc nhiều hàng hoá hơn và với giá rẻ hơn.
Mặc dầu cho thấy thơng mại là có lợi cho các bên tham gia, nhng lý thuyết
lợi thế tuyệt đối không trả lời đợc câu hỏi : điều gì xảy ra nếu một nớc không có đợc
lợi thế tuyệt đối về bất kì mặt hàng nào ? Liệu thơng mại có mang lại lợi ích hay
không, hay thậm chí thơng mại có thể diễn ra đợc hay không ? Trên thực tế, thơng
mại quốc tế có thể diễn ra mà không nhất thiết đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có lợi
thế tuyệt đối so với các đối thủ cạnh tranh nớc ngoài. Để trả lời những câu hỏi này
cần xem xét một khái niệm rộng hơn, cụ thể là khái niệm về lợi thế so sánh nh sau :
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo :
Theo lý thuyết này, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc
gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham
gia vào thơng mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho quốc gia mình. Nói cách khác trong
điểm bất lợi vẫn có những điểm thuận lợi để khai thác khi tham gia vào hoạt động
xuất khẩu, những quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra các loại hàng hoá
sẽ có thể chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc
gia khác và nhập về những hàng hoá mà việc sản xuất ra nó gặp rất nhiều khó khăn
và bất lợi. Từ đó tiết kiệm đợc nguồn lực của mình và thúc đẩy sản xuất trong nớc.
Để thấy đợc vai trò của lý thuyết lợi thế so sánh trong việc giải thích thơng
mại quốc tế, ta có thể xem xét ví dụ sau :
7

Giả sử rằng quốc gia A có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất cả hai mặt
hàng gạo và chè so với quốc gia B. Bảng dới đây cho thấy số lợng lao động mà mỗi
nớc sử dụng để sản xuất gạo và chè. Quốc gia A chỉ cần 1 lao động để sản xuất 1 tấn
gạo, cần 2 lao động để sản xuất 1 tấn chè. Quốc gia B cần 6 lao động để sản xuất 1
tấn gạo và 3 lao động để sản xuất 1 tấn chè.
Hiệu quả sản xuất gạo và chè của mỗi quốc gia có thể đợc biểu thị lại nh sau :
Quốc gia A : 1 lao động = 1 tấn gạo hoặc 1/2 tấn chè.
Quốc gia B : 1 lao động = 1/6 tấn gạo hoặc 1/3 tấn chè.

nên áp dụng các biện pháp ép buộc cứng nhắc cho hoạt động này. Các quốc gia chỉ
nên tìm cách đề ra các biện pháp hợp lý để sử dụng tối u nhất các nguồn lực của
mình sao cho khi đem trao đổi thì đợc lợi nhất, đó chính là nội dung cơ bản của lý
thuyết lợi thế so sánh. Cho đến nay, hoạt động chuyên môn hoá các mặt hàng mà
mình có lợi thế đã đợc các quốc gia trên thế giới áp dụng một cách triệt để và đã thu
đợc những kết quả tốt. Kết quả là thơng mại quốc tế hiện nay đã phát triển rất nhanh
và đã đạt đợc những thành tựu to lớn, đó là sự hình thành các khu mậu dịch tự do về
thơng mại để khuyến khích trao đổi thơng mại, các liên minh về thơng mại của khu
vực và thế giới.
.1.3. Các hình thức xuất khẩu.
1.1.3.1. Xuất khẩu trực tiếp :
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất khác, sau đó xuất khẩu
những sản phẩm đó cho các khách hàng nớc ngoài với danh nghĩa là hàng của mình.
Hình thức này có u điểm là lợi nhuận thu đợc của các đơn vị kinh doanh th-
ờng cao hơn các hình thức khác. Với hình thức này doanh nghiệp đứng ở thế chủ
động trong hoạt động kinh doanh, mọi lợi nhuận doanh nghiệp đợc hởng hết. Với
vai trò là ngời bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình
thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá, tiếp cận thị trờng và nắm bắt đợc nhu
cầu thị hiếu của khách hàng.
9

Tuy vậy hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trớc một lợng vốn khá
lớn để sản xuất, thu mua hoặc có thể gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro nh : không xuất
đợc hàng hoá, không thu mua đợc hàng hoá, bị thanh toán chậm, thay đổi tỷ giá hối
đoái, lạm phát...
Chính vì vậy mà để có thể thực hiện nghiệp vụ này thành công thì doanh
nghiệp cần phải có nghiệp vụ ngoại thơng cao và có kinh nghiệm xuất khẩu tốt. Khi
doanh nghiệp đã có đủ khả năng và kinh nghiệm để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh
này thành công thì nguồn lợi mà doanh nghiệp thu về là rất lớn.

quy mô nhỏ hẹp vì nó chỉ thực hiện đợc ở những thị trờng thiếu hàng hóa hoặc
không thể sản xuất đợc hàng hoá đó, thông thờng hình thức này diễn ra đối với hàng
hoá là nguyên vật liệu.
Doanh nghiệp có thể kết hợp hình thức kinh doanh này với các hình thức khác
để tăng thêm lợi nhuận.
1.1.3.4. Xuất khẩu gia công :
* Xuất khẩu gia công uỷ thác : Theo hình thức này, các doanh nghiệp kinh
doanh hàng xuất khẩu đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các
doanh nghiệp khác gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất lại cho bên nớc
ngoài. Doanh nghiệp sẽ đợc hởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các doanh nghiệp
trực tiếp chế biến.
Các bớc tiến hành của hình thức này nh sau :
+ Ký kết hợp đồng gia công với bên nhận gia công.
+ Ký kết hợp đồng gia công với bên đặt gia công và nhập nguyên liệu từ bên
đặt ra công về.
+ Giao nguyên vật liệu đó cho bên nhận gia công (theo hợp đồng đã thoả
thuận).
+ Nhập lại thành phẩm từ bên gia công và xuất lại cho bên dặt gia công hàng
hoá đó.
11

+ Thanh toán chi phí gia công cho đơn vị gia công (do bên đặt gia công trả)
và đợc hởng phí ủy thác gia công.
Hình thức này có u điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh những vẫn thu
đợc lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán đợc bảo đảm vì đầu ra chắc chắn. Song hình
thức này lại đòi hỏi rất nhiều thủ tục xuất và nhập do phải xuất và nhập nhiều lần.
Do đó để thực hiện tốt hình thức này các doanh nghiệp cần phải có những cán bộ
kinh doanh kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Hình thức xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nớc ngoài cũng tơng tự nh hình
thức này, chỉ khác là đơn vị sản xuất phải tự tìm lấy nguồn nguyên liệu để sản xuất

hạn chế khả năng của doanh nghiệp. Hầu hết các doánh nghiệp sẽ lựa chọn hình
thức xuất khẩu trực tiếp, nhng trong một số hoàn cảnh cụ thể thì doanh nghiệp có
thể sử dụng hình thức xuất khẩu uỷ thác để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu của
mình khi vào một thị trờng mới.
1.1.3.6. Buôn bán đối l u :
Buôn bán đối lu là phơng thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt
chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua, lợng hàng trao đổi có giá trị t-
ơng đơng với giá trị lô hàng đã xuất. Mục đích xuất khẩu không phải là thu lợi
nhuận mà nhằm thu về một lợng hàng tơng đơng với giá trị của lô hàng đã xuất.
Ngoài ra còn là nhằm tránh các rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị tr-
ờng ngoại hối.
Có rất nhiều loại hình buôn bán đối lu nh sau :
+ Hình thức hàng đổi hàng là việc hai bên trao đổi trực tiếp với nhau những
hàng hoá có giá trị tơng đơng, việc giao hàng diễn ra hầu nh đồng thời. Trong
nghiệp vụ hàng đổi hàng hiện đại nh ngày nay thì ngời ta có sử dụng tiền để thanh
toán một phần tiền hàng, hơn nữa lại có thể thu hút tới 3 - 4 bên tham gia. Ưu điểm
cảu hình thức này là các bên không cần phải thông qua các giai đoạn trung gian bán
hàng- nhận tiền- mua hàng mà có thể đổi hàng lấy hàng mà mình cần thiết luôn.
Tuy nhiên, hình thức này thờng chỉ áp dụng khi các bên tham gia trao đổi đã có sự
13

tin tởng lẫn nhau hoặc đã tạo đợc uy tín cho nhau về sản phẩm đem trao đổi, chính
vì vậy mà hình thức này còn có nhiều hạn chế.
+ Hình thức bù trừ là hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị giá
hàng giao và hàng nhận, đến cuối kỳ hạn hai bên mới đối chiếu sổ sách, so sánh
giữa giá trị hàng giao với giá trị hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng nh thế mà
còn số d thì số tiền đó đợc giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về những
khoản chi tiêu của bên chủ nợ tại nớc bị nợ.
Đây là hình thức phát triển nhanh nhất của buôn bán đối lu. Hợp đồng bù trừ
thờng đợc ký kết cho thời gian dài ( có khi tới 10 hoặc 20 năm).

.1.4. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
* Đối với nền kinh tế quốc dân :
Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
từng quốc gia. Các lý thuyết về tăng trởng và phát triển đều chỉ ra rằng, để tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế, mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài
nguyên, vốn và khoa học công nghệ. Song không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ
những điều kiện đó. Hiện nay, các nớc đang phát triển đang thiếu vốn và kỹ thuật
công nghệ nhng lao động và nguồn tài nguyên lại rất dồi dào. Các nớc phát triển thì
lại dồi dào về vốn và khoa học công nghệ nhng lại thiếu lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Để giải quyết tình trạng này, họ buộc phải nhập từ bên ngoài những yếu
tố sản xuất trong nớc cha sản xuất hoặc gặp khó khăn trong sản xuất, có nghĩa là
cần phải có một nguồn ngoại tệ chính là khoản ngoại tệ thu về từ xuất khẩu. Xuất
khẩu là hoạt động chính tạo ra tiền đề cho nhập khẩu, tạo điều kiện cho quy mô và
tốc độ tăng trởng của nhập khẩu.
Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện qua một số khía
cạnh sau :
+ Xuất khẩu đảm bảo cho khả năng phát triển kinh tế : ở những nớc đang phát
triển, một trong những vật cản chính của quá trình tăng trởng kinh tế là sự thiếu vốn.
Nguồn vốn huy động từ nớc ngoài đợc coi là chủ yếu nhng mọi cơ hội tiếp nhận đầu
15

t vay nợ nớc ngoài chỉ tăng lên khi chủ đầu t hay ngời cho vay nợ nhận thấy khả
năng xuất khẩu của nớc đó vì đây là nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ.
+ Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Thực tế cho thấy rằng xuất khẩu góp phần làm dịch chuyển nền kinh tế
của các quốc gia đang phát triển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có điều kiện và cơ hội phát triển.
Chẳng hạn nh là khi ngành điện tử viễn thông phát triển, các ngành liên quan nh linh
kiện điện tử, sản phẩm truyền dẫn... cũng phát triển theo.
Xuất khẩu mở rộng thị trờng sản phẩm, tạo lợi thế nhờ quy mô. Xuất khẩu là

Hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trờng, mở
rộng quan hệ với nhiều bạn hàng cả trong và ngoài nớc. Từ đó doanh nghiệp tăng
doanh thu và lợi nhuận cũng tăng lên, các rủi ro đợc chia sẻ, uy tín của doanh
nghiệp cũng đợc nâng cao. Trên cơ sở đó doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động
sản xuất xuất khẩu của mình ở nhiều thị trờng khác nhau, thành lập các chi nhánh
hoạt động ở nhiều nơi, mở rộng hơn nữa sự phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế nh hiện nay thì hoạt động xuất khẩu thực sự
có nhiều thuận lợi và sẽ ngày càng phát triển hơn, do đó các doanh nghiệp sẽ có
thêm nhiều cơ hội mới thông qua hoạt động kinh doanh xuất khẩu của mình.
.2. Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu là một quy trình kinh doanh bao gồm nhiều công đoạn
khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trng riêng. Vì vậy, hoạt động xuất
khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thơng mại trong nớc.
.2.1. Nghiên cứu tiếp cận thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng là việc quan trọng trong chu kì sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Đối với các đơn vị ngoại thơng thì việc nghiên cứu thị trờng quốc tế
lại càng có ý nghĩa hơn bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc tiến hành giao dịch,
thâm nhập thị trờng nớc ngoài của các doanh nghiệp.
17

Thị trờng là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phơng thức hoạt
động sao cho phù hợp khi xâm nhập vào từng thị trờng khác nhau.
Hoạt động nghiên cứu thị trờng có thể đợc chia thành nh sau :
* Nghiên cứu môi trờng : Nghiên cứu môi trờng kinh tế, văn hoá xã hội, môi
trờng chính trị luật pháp và môi trờng công nghệ.
* Nghiên cứu giá cả hàng hoá : do xu hớng giá cả trên thị trờng là rất phức
tạp và luôn biến động vì phải chịu sự chi phối cuả những nhân tố lạm phát, chu kì,
cạnh tranh về giá cả.
* Nghiên cứu về sự cạnh tranh nh là ai là đối thủ cạnh tranh của công ty ? Họ

đàm phán. Nói tới năng lực đàm phán, ngời ta thờng kể tới : t chất, chức vụ của ngời
đàm phán, các quan hệ xã hội, uy tín cá nhân, sự hiểu biết, lòng tự tin, khả năng
thuyết phục, tính kiên nhẫn và có chiến thuật đàm phán thích hợp. Tựu chung lại,
nhà đàm phán ít nhất phải có đợc ba loại năng lực cơ bản đó là năng lực chuyên
môn, năng lực về am hiểu pháp lý và năng lực mạo hiểm.
.2.4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi kí kết thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng doanh nghiệp xuất
khẩu với t cách là một bên kí kết, phải thực hiện hợp đồng đó. Việc này đòi hỏi phải
có sự tuân thủ của luật quốc gia và luật quốc tế, cũng nh các tập quán quốc tế. Đồng
thời phải đảm bảo đợc quyền lợi của quốc gia cũng nh quyền lợi và uy tín của doanh
nghiệp.
.2.4.1. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá :
Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiến hành các khâu khác
trong quá trình xuất khẩu hàng hoá. Với xu hớng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
nh hiện nay thì Nhà nớc luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh
doanh hàng xuất khẩu.
Việc xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá bao gồm :
+ Đơn xin phép.
19

+ Phiếu hạn ngạch (nếu hàng hoá thuộc đối tợng có hạn ngạch).
+ Bản sao hợp đồng đã kí với bên nớc ngoài.
.2.4.2. Chuẩn bị hàng xuất khẩu :
Thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng hoặc chuẩn bị đủ lợng hàng để thực
hiện xuất khẩu hàng hoá đúng nh thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng.
Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu để đảm bảo chất lợng hàng hoá khi vận
chuyển, tạo điều kiện nhận biết và phân loại hàng hoá, có thể gây đợc ấn tợng tốt
cho ngời mua. Có nhiều loại bao bì khác nhau nh là hòm, hộp, kiện, túi nilon...
.2.4.3. Kiểm tra chất l ợng hàng hoá xuất khẩu :
Đây là khâu vô cùng cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu cũng nh là

trong kinh doanh nên thủ tục này thờng rất phức tạp. Có nhiều phơng thức thanh
toán nhng trong xuất khẩu ngời ta sử dụng các phơng thức thanh toán có ít rủi ro cho
mình nhất.
Một số phơng thức thanh toán nh là :
+ Thanh toán bằng hình thức chuyển tiền : thông qua ngân hàng, ngời mua sẽ
chuyển tiền cho ngời bán.
+ Thanh toán bằng th tín dụng (L/C) : đây là hình thức mà ngân hàng cam
kết và bảo đảm chắc chắn về việc trả tiền cho ngời bán ngay sau khi bên mua nhận
đợc hàng hoá hoặc các chứng từ hợp lệ để nhận hàng. Đây là hình thức đợc sử dụng
phổ biến, hạn chế rủi ro cho cả hai bên.
+ Thanh toán bằng phơng thức nhờ thu. Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định
thanh toán bằng phơng thức này sau khi giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thành
việc lập chứng từ cho ngân hàng để uỷ thác.
.2.4.6. Giải quyết tranh chấp :
Trong trờng hợp có tranh chấp xảy ra, hai bên nên tìm cách hoà giải để duy
trì quan hệ tốt với nhau. Trong trờng hợp không thể hoà giải đợc thì các bên phải
giải quyết tranh chấp của mình thông qua trọng tài quốc tế.
21

1.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu.
1.3.1. Các nhân tố xuất phát từ bản thân doanh nghiệp :
1.3.1.1. Nhân tố con ng ời :
Vấn đề con ngời trong hoạt động sản xuất kinh doanh là rất cần thiết. Để có
hiệu quả kinh tế cao phải nói đến sự đóng góp của từng cán bộ công nhân viên và
điều đó đợc thể hiện qua trình độ sáng tạo, kinh nghiệm, sự năng động linh hoạt của
mỗi ngời trong công việc của mình. Trong đó việc bố trí cán bộ phù hợp với năng
lực, trình độ là rất quan trọng vì mỗi cán bộ có năng lực đặc biệt về chuyên môn
hoặc chuyên ngành của mình, từ đó nếu đợc xếp vào đúng vị trí thì sẽ làm việc có
hiệu quả nhất.
Trong phơng pháp tổ chức con ngời thì lãnh đạo quản lý cần có những kỷ luật

ngày càng đa dạng và phong phú. Dịch vụ xuất hiện ở mỗi giai đoạn của hoạt động
xuất khẩu, nó hỗ trợ trớc, trong và sau khi bán hàng hoá. Dịch vụ trớc khi bán hàng
nhằm chuẩn bị tiêu thụ, khuếch trơng gây sự chú ý cho khách hàng. Còn dịch vụ sau
khi bán hàng nhằm tái tạo nhu cầu của khách hàng.
Thông thờng khi thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu, các doanh
nghiệp thờng có các dịch vụ kèm theo hoạt động xuất khẩu hàng hoá để nhằm thoả
mãn nhu cầu của các khách hàng ngày càng cao. Các dịch vụ này càng phát triển,
càng đợc nâng cao và hoàn thiện bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ càng thu hút thêm đ-
ợc nhiều khách hàng bấy nhiêu, tạo khả năng cạnh tranh mạnh mẽ với các doanh
nghiệp khác.
1.3.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp :
1.3.2.1. Xu thế tự do hoá th ơng mại - khu vực hoá và toàn cầu hoá :
Tự do hoá thơng mại là những thay đổi về chính sách trong buôn bán để dỡ
bỏ hàng rào phi thuế quan, hạn chế và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan và không
thực hiện những cấm đoán của Nhà nớc, để hàng hoá đợc tự do lu thông giữa các n-
ớc.
23

Toàn cầu hoá và khu vực hóa kinh tế là một quá trình hội nhập toàn cầu và
khu vực về thơng mại, đầu t, dịch vụ và hợp tác khoa học công nghệ. Đó là sự đan
xen và kết hợp các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia với khu vực và toàn thế giới.
Tự do hoá thơng mại giống nh một luồng sinh khí mới thổi vào hợp tác kinh
tế thơng mại giữa các nớc. Do vậy mà với môi trờng quốc tế nh hiện nay thì Việt
nam cũng đang tiến hành xúc tiến nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
mình, cụ thể là dự tính đến năm 2005 thì Việt nam sẽ gia nhập vào tổ chức Thơng
mại thế giơí (WTO). Kết quả của Tự do hoá thơng mại là tạo điều kiện mở cửa thị
trờng nội địa để hàng hoá, công nghệ nớc ngoài cũng nh những dịch vụ hoạt động
quốc tế đợc xâm nhập dễ dàng vào thị trờng nội địa đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nớc ngoài. Điều đó có nghĩa là cần phải
đạt tới một sự hài hoà giữa tăng cờng xuất khẩu với nới lỏng nhập khẩu. Nh vậy có

1.3.2.3. Các nhân tố từ chính sách và quản lý của nhà n ớc :
Tính ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốc gia nói riêng, của
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nói chung, có tác động trực tiếp đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng nớc ngoài. Tính ổn định về kinh tế,
trớc hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm
phát. Đây là điều doanh nghiệp rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên trờng quốc tế.
Cán cân thanh toán và chính sách tài chính là nhân tố quyết định phơng án
kinh doanh mặt hàng và quy mô của doanh nghiệp xuất khẩu. Sự thay đổi của những
nhân tố này sẽ gây xáo trộn lớn trong tỷ trọng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Các nhân tố về quản lý nhà nớc : Mặc dù thơng mại quốc tế đem lại nhiều lợi
ích to lớn nhng vì nhiều lý do khác nhau nên hầu hết các Chính phủ đều đa ra các
chính sách thơng mại quốc tế riêng để đạt đợc lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, những
biện pháp này thờng nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
trong nớc và đôi khi gây ra nhiều hạn chế cho các công ty nớc ngoài hoạt động trong
thị trờng nội địa.
25

Trích đoạn Phơng thức thanh toán và hình thức xuất khẩu hàng hoá Những nguyên nhân gây ra những tồn tại trong hoạt động xuất khẩu Nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status