Phân tích thực trạng và định hướng phân bố sản xuất vùng duyên hải nam trung bộ - Pdf 31

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐHKT & QTKD THÁI NGUYÊN
KHOA: KINH TẾ
---------------o0o--------------

BÀI THẢO LUẬN NHÓM
Đề tài: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÂN BỐ SẢN
XUẤT VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Giảng viên hướng dẫn:
Nhóm 5 _ K6KTĐTB :

Tạ Thị Thanh Huyền
Nguyễn Thế Định
Nguyễn Thị Hào
Phùng Thị Loan
Nguyễn Thị Kim
Nguyễn Thị Hồng
Hoàng Thị Thùy Trang
Lưu Thị Hiền
Dương Văn Hùng

------Thái Nguyên 2012------

Chương 1: Giới thiệu về vùng duyên hải Nam Trung Bộ.


1.1 Vị trí địa lý
Duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Ninh Thuận.
Diện tích tự nhiên 44376,9 km2, chiếm gần 13,41 % diện tích cả nước


740

Nam
Quảng

1435

10438,4

137

Ngãi
Bình

1221,6

5153

237

Định
Phú

1497,3

6050,6

247


151
259,75

Yên
Khánh
Hoà
Ninh


( Nguồn: tổng cục thống kê năm 2011)

Ý nghĩa của vị trí đia lý:
Là cầu nối Bắc Nam, giữa Tây Nguyên với Biển Đông, thuận lợi cho lưu thông
và trao đổi hàng hóa.
Các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược quan trọng về kinh tế và an ninh
quốc phòng.
Phát triển tổng hợp kinh tế biển.
1.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.1. Địa hình .
Phía Bắc của vùng có những khối núi đâm thẳng ra tận bờ biển, phía Nam địa
hình có phần thoải hơn và có những đồng bằng ven biển.
Địa hình phức tạp chia cắt lớn, gồm các dải cát, cồn cát ven biển, tiếp đến là các
dải đồng bằng nhỏ hẹp.


Bờ biển khúc khuỷu nhiều vũng vịnh.
Núi và gò đồi ở phía Tây
1.2.2. Khí hậu
Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 24 0 C -270 C( thấp
nhất từ 200 C- 210 C và cao nhất là 310 C – 320 C). Lượng mưa phân bố hàng năm

các mục đích nông nhiệp.
1.3.2 Tài nguyên rừng.
Diện tích trồng rừng tập trung 21,9 nghìn ha, chiếm 10,3 diện tích cả nước, sản
lượng gỗ khai thác 792,5 nghìn m3 , chiếm 16,89% sản lượng gỗ khai thác cả
nước( số liệu thông kê năm 2011). Ngoài khai thác gỗ , rừng còn có một số đặc
sản quý như: quế, trầm hương, sâm qui, kì nam.
Hệ động vật của rừng khá phong phú với các loài đặc trưng như voi, bò rừng,
cheo cheo, sóc chân vàng…
1.3.3 Tài nguyên khoáng sản.
Chủ yếu là cao lanh, sét, cát xây dựng,cát thủy tinh và đá làm vật liệu xây dựng.
Ngoài ra còn một số khoán sản như vàng (Bồng Miêu), than đá( Nông sơn)…,
các mỏ khoáng sản quy mô nhỏ.
1.3.4 Tài nguyên biển.
Chiều dài bờ biển khoảng 800km kéo dài tự Hải Vân đến Khanh Hòa,biển vùng
này khá sâu, nhiều eo biển,cửa sông , vũng, vịnh thuận lợi cho phát triển kinh tế
biển: du lịch, giao thông biển, đánh bắt cá, phát triển các hải cảng lớn.
Ven biển có nhiều đồng muối chất lượng tốt, khả năng khai thác lớn như đồng
muối Sa Huỳnh ( Quảng Ngãi).
Vùng biển có nhiều loại cá có giá tị kinh tế cao như cá trích, mòi, thu… tạo điều
kiện thuận lợi cho đánh bắt hải sản.
1.3.5 Tài nguyên nước .
Các sông ở đây phần lớn là ngắn cà dốc, về mùa khô mực nước sông rất thấp,
dòng chảy nhỏ. Nguồn nước ngầm có trữ lượng thấp. Tài nguyên nước lợ là thế
mạnh của vùng, diện tích trên 60 nghìn ha thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản.


1.3.5 Tài nguyền nhân văn.
Mật độ dân số của vùng là 260 người/km 2 . Dân số thành thị là 3156,4 nghìn
người, chiếm chiếm 35,5%, nông thôn chiếm 64,5% ; dân số nam là 4399,2
nghìn người ,chiếm 49,4 % ( số liệu thông kê năm 2011).

-Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2011 đạt 12051,4 tỷ đồng, trong đó
Bình Định chiếm nhiều nhất 23.02%, Đà Nẵng chiếm ít nhất với 1.56%

Bảng 1: giá trị của ngành công nghiệp và nông nghiệp của từng địa phương.


Đơn vị
Đà Nẵng
Quảng

Công nghiệp Tỷ lệ (%)
Nông nghiệp Tỷ lệ (%)
23943
11,51%
188,4
1,56%

Nam
Quảng

20639,5

9,92%

1766

14,65%

Ngãi
Bình

13,48%

1118,3

9,28%

Thuận
Bình

2367,1

1,14%

1006,9

8,36%

Thuận

9353,2

4,50%

2153

17,87%

Tổng

208017,3 100%

Vân, Bảo tàng điêu khắc Chăm, Khu du lịch Bà Nà với tuyến cáp treo đạt 02 kỷ
lục thế giới,...), cơ sở hạ tầng du lịch phát triển (có nhiều khu nghỉ mát đạt tiêu
chuẩn quốc tế với các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Hyatt, Marriot, Le
Meridien, Hilton, Somerset… ), môi trường trong lành, xanh, sạch và an toàn.
Không những thế, Đà Nẵng còn nằm ở trung tâm của ‘‘Con đường Di sản thế
giới’’, từ Đà Nẵng du khách có thể tiếp cận dễ dàng với bốn trong năm Di sản
thế giới ở Việt Nam được UNESCO công nhận gồm Vườn quốc gia Phong NhaKẻ Bàng, cố đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Chính vì vậy, Đà
Nẵng được xác định là một điểm đến du lịch quan trọng ở miền Trung và Việt
Nam. Hệ thống khu công nghiệp (KCN), khu công nghệ cao (KCNC): Đà Nẵng
hiện có 8 KCN và KCNC. Đó là KCN Đà Nẵng (50 ha), KCN Hòa Khánh
(395,72 ha), KCN Hòa Khánh mở rộng (212,12 ha), KCN Liên Chiểu (307,71
ha), KCN Hòa Cầm (120 ha), Khu dịch vụ thuỷ sản Đà Nẵng (57,9 ha), KCNC
Đà Nẵng (1.101 ha), KCN thông tin tập trung (131 ha).
Khánh Hòa
Khánh Hoà là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh du lịch nổi tiếng. Đặc biệt có
Vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, với các đảo lớn nhỏ nằm
dọc theo chiều dài bờ biển tạo nên một quần thể du lịch đa dạng, liên hoàn. Với
điều kiện địa lý, thiên nhiên rất thuận lợi cùng điều kiện cơ sở hạ tầng đang phát


triển mạnh mẽ, một tương lai không xa Nha Trang-Khánh Hòa sẽ trở hành một
trung tâm du lịch-hội chợ-hội nghị, hội thảo tầm cỡ khu vực và quốc tế. Cơ sở
hạ tầng giao thông của Khánh Hoà tương đối đồng bộ, thuận tiện. Về đường bộ
có quốc lộ 1A chạy suốt chiều dài của tỉnh, quốc lộ 26 nối Khánh Hoà với Đắc
Lắc. Đường sắt có tuyến Bắc-Nam chạy dọc chiều dài tỉnh khoảng 149,2 km.
Đường hàng không có sân bay Cam Ranh nằm ở phía bắc bán đảo Cam Ranh,
cách Thành phô Nha Trang khoảng 30 km. Đường thuỷ: Khánh Hoà có 3 cảng:
cảng Ba Ngòi; cảng Nha Trang; cảng Hòn Khói và trong tương lai gần sẽ có
Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng
hoá trong và ngoài nước.

nhô ra sát biển tạo nên nhiều đầm, vịnh với cảnh sắc nên thơ như: đầm Cù
Mông, vịnh Xuân Đài, Vũng Lắm (huyện Sông Cầu); đầm Ô Loan, Gành Đá
Đĩa (huyện Tuy An); Vũng Rô (huyện Tuy Hoà)… Dọc theo bờ biển có nhiều
bãi tắm sạch đẹp như: Bãi Tiên, Bãi Môn, Bãi Xép, Bãi Nồm, Bãi Bàng, Bãi Từ
Nham, Long Thuỷ; nhiều gành đá nổi tiếng như: Gành Đá Đĩa, Gành Đỏ, Gành
Dưa, Gành Yến.
Ninh Thuận
Về cơ cấu kinh tế của tinh: nông- lâm ngư nghiệp là chủ yếu với 42,6% , dịch vụ
là 35,2%.
Ninh Thuận có 60.113 ha nông nghiệp, 159.895 ha đất lâm nghiệp. Với bờ biển
dài 105 km, ngư trường của tỉnh nằm trong vùng nước trồi có nguồn lợi hải sản
phong phú và đa dạng với trên 500 loài hải sản các loại.
Tài nguyên du lịch: Ninh Thuận là một bức tranh hài hoà giữa đồng bằng, đồi
núi và biển cả với những thắng cảnh tuyệt đẹp như bãi biển Ninh Chữ, Cà Ná,
đèo Ngoạn Mục, vịnh Vĩnh Hy... Bên cạnh là những tháp Chàm cùng vô số các
di tích lịch sử văn hóa và nhiều hiện vật quý giá như: tháp Pôklông Garai, tháp
Pôrômê, tháp Hoà Lai... hầu như còn nguyên vẹn.
Quảng Ngãi


Quảng Ngãi có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong những năm gần đây:
năm 2009 là 21%,năm 2010 là 34%. Cơ cấu kinh tê: công nghiệp- xây dựng
chiếm 58,95%, dịch vụ là 22,65%, nông –lâm ngư nghiệp là 18,4%.
Hệ thống khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT): Quảng Ngãi hiện có 3
KCN là KCN Tịnh Phong (diện tích 350 ha), KCN Quảng Phú (diện tích 120,41
ha), KCN Phố Phong (diện tích 303,7 ha); và 1 KKT là KKT Dung Quất với
tổng diện tích 10.300 ha, được quy hoạch tại xã Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình
Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải và một phần diện tích đất của các xã
Bình Phước, Bình Hoà và Bình Phú của huyện Bình Sơn.
2.2 Đánh giá tiềm năng và thế mạnh của vùng.

c) Lâm nghiệp.
Phát triển vốn rừng và bảo vệ rừng được chú trọng. Toàn vùng trồng được
157.600 ha rừng bằng 15% diện tích rừng trồng của cả nước. Tuy nhiên diện
tích này còn rất nhỏ so với diện tích đất trống đồi trọc, rừng đầu nguồn chưa
được chú trọng quản lý, Rừng đặc sản, nguyên liệu chưa được khai thác để phát
triển kinh tế của vùng.
d ) Phát triển tổng hợp kinh tế biển.
Về nghề cá
- Biển nhiều tôm, cá và các hải sản khác. Tỉnh nào cũng có bãi tôm, bãi cá, lớn
nhất là các tỉnh cực Nam Trung Bộ
- Sản lượng khai thác thủy sản của vùng năm 2011đạt 710538 tấn , bằng
28,4% sản lượng cả nước.Trong đó có nhiều loại cá quý như cá thu, ngừ, trích,
nục, hồng, phèn, nhiều loại tôm, mực...
- Bờ biển có nhiều vụng, đầm phá thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản.
- Hoạt động chế biến hải sản ngày càng đa dạng, phong phú.
Về du lịch biển
- Có nhiều bãi biển nổi tiếng: Mỹ Khê (Đà Nẵng), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Quy
Nhơn (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hoà), Cà Ná (Ninh Thuận), Mũi Né
(Bình

Thuận)...


- Việc phát triển du lịch biển gắn liền với du lịch đảo và hàng loạt hoạt động du
lịch nghỉ dưỡng, thể thao khác nhau
Về dịch vụ hàng hải
- Có nhiều địa điểm để xây dựng cảng nước sâu
- Hiện tại có một số cảng tổng hợp lớn do Trung ương quản lí: Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Nha Trang. Đang xây dựng cảng nước sâu Dung Quất.
Về khai thác khoáng sản ở thềm lục địa và sản xuất muối

Nha Trang, Cam Ranh (Khánh Hoà)… cùng hàng ngàn km đường bộ, đường
sắt. Về đường biển, vùng có nhiều cảng biển quan trọng như cảng Đà Nẵng,
Tiên Sa, Liên Chiểu (Đà Nẵng), Kỳ Hà (Quảng Nam)… tạo nên hệ thống cảng
biển phục vụ cho phát triển kinh tế vùng và tạo thành con đường huyết mạch
trên biển thông thương với khu vực và thế giới. Vùng có nhiều khu kinh tế mở
như Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định)
với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện.
2.3 Những tồn tại và yếu kém.
- Các tiềm năng kinh tế của vùng chưa được khai thác đúng mức
- Thu nhập bình quân đầu người trong vùng có sự chênh lệch giữa các tỉnh, một
số tỉnh có thu nhập bình quân đầu người còn thấp như Ninh Thuận, Bình Thuận.
- Các sản phẩm du lịch biển, đảo của vùng còn đơn điệu, tạo sự hấp dẫn đối với
du khách chưa lớn; tính chuyên nghiệp của hoạt động du lịch của đội ngũ trong
ngành còn hạn chế, ý thức của người dân trong việc gìn giữ, bảo vệ cảnh quan
du lịch cũng như tham gia phát triển kinh tế du lịch còn khá hạn chế.
2.4 Nguyên nhân.
- Phát triển kinh tế biển còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết. Các
tàu đánh bánh có trọng tải nhỏ, phương tiện đánh bắt còn hạn chế, vì vậy sản
lượng đánh bắt chưa cao.
- Trên phạm vi vùng cũng như từng địa phương chưa có một chiến lược phát
triển kinh tế du lịch có cơ sở khoa học vững chắc, bảo đảm cho ngành kinh tế
này phát triển bền vững, đạt hiệu quả cao.
- Một điều đáng quan tâm khác là sự phát triển du lịch chưa đồng đều giữa các
tỉnh vùng duyên hải Nam Trung bộ. Các điểm du lịch tại Đà Nẵng, Hội An, Mỹ
Sơn (Quảng Nam), Nha Trang (Khánh Hòa), Bình Thuận đã được khai thác từ


sớm, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, được quan tâm đầu tư đúng mức tạo nên
thương hiệu du lịch uy tín, hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong
khi đó, dù có tiềm năng lớn nhưng khai thác du lịch tại Phú Yên, Bình Định,

cảnh quan và môi trường sinh thái.
- Đi đôi với phát triển kinh tế, chú ý phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở
xã hội, bảo vệ sức khoẻ, chống ô nhiễm môi trường, nhất là tại những vùng
trọng điểm phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ; cải thiện điều kiện sống..
Phát triển Kinh tế - Xã hội phải gắn với củng cố quốc phòng, an ninh quốc gia.

3.2 Giải pháp phát triển vùng kinh tế duyên hải Nam Trung Bộ.
Để tạo nên các sản phẩm du lịch đặc sắc dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có nhằm
phát triển hiệu quả và bền vững du lịch biển đảo vùng duyên hải Nam Trung bộ,


cần có sự kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan, ban, ngành, địa phương và cả
những người kinh doanh du lịch trong việc thực hiện các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các loại hình du lịch
biển đảo như nghỉ dưỡng biển, vui chơi giải trí, tham quan, thể thao mạo hiểm,
khám phá đáy biển và các đảo ven bờ, du lịch tàu biển… kết hợp với phát triển
các loại hình du lịch bổ trợ như du lịch sinh thái núi (nghỉ mát, thể thao leo
núi..), du lịch văn hóa (tham quan lễ hội, các di tích lịch sử văn hóa…), du lịch
MICE… Mỗi tỉnh không chỉ có kế hoạch xây dựng, phát triển các sản phẩm du
lịch độc đáo dựa trên thế mạnh của riêng mình mà cần phải liên kết chặt chẽ với
địa phương khác để tạo nên những sản phẩm du lịch liên kết vùng và tránh sự
trùng lắp.
Thứ hai, đầu tư xây dựng mới, nâng cấp hệ thống các cơ sở lưu trú, kết cấu hạ
tầng du lịch, phát triển các công trình vui chơi giải trí, tạo ra những loại hình vui
chơi giải trí độc đáo, cao cấp và hiện đại cũng như các loại hình vui chơi giải trí
mạo hiểm gắn với tài nguyên biển và núi.
Thứ ba, đầu tư bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch như sửa chữa, nâng cấp hệ
thống tài nguyên du lịch đặc biệt đối với các di tích văn hóa – lịch sử, các lễ hội
truyền thống phục vụ du lịch, cải tạo môi trường tự nhiên khu vực hoạt động du
lịch. Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đồng thời là biện pháp bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status