ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN CHẤN LƢƠNG LÁCH TẠI
BỆNH VIỆN TRUNG ƢƠNG HUẾ GIAI ĐOẠN 2006-2010
Phan Đình Tuấn Dũng*, Hoàng Trọng Nhật Phương*, Lê Quốc Phong*,
Hoàng Trọng Nhật Phương*, Hoàng Ngọc Thông*, Nguyễn Đình Đạt*, Dương
Mạnh Hùng*, Lê Mạnh Hà*, Lê Lộc*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Chấn thương lách là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp do chấn
thương bụng kín với tần suất thường gặp 20-30%. Điều trị bảo tồn đã trở thành
một phương pháp điều trị chuẩn trong chấn thương lách. Nghiên cứu nhằm đánh
giá chỉ định và kết quả của điều trị bảo tồn trong chấn thương lách.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu. Gồm 52 bệnh
nhân chấn thương lách vào điều trị tại Khoa Ngoại Tiêu Hoá - Bệnh viện Trung
Ương Huế từ 1/2006 đến 6/2010. Các đặc điểm nghiên cứu bao gồm: đặc điểm
chung, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bảo tồn trong chấn thương lách.
Kết quả: Tuổi trung bình 27,78 ± 9,8 tuổi (14 tuổi - 70 tuổi). Lứa tuổi 20-40
tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,6%. Tỷ lệ nam/nữ = 3.7. Có 61,5 % trường hợp do
tai nạn lưu thông. Chấn thương lách độ I và độ II chiếm đa số với 88,5%, độ III
chiếm 11,5%. Tổn thương tự máu dưới bao chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm
nghiên cứu với 55,8%. Tổn thương cực dưới lách thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 75%.
Ngày điều trị trung bình: 7,3 ± 3,4 (4 ngày - 15 ngày).
Kết luận: Điều trị bảo tồn trong chấn thương lách nên được xem làm một
phương pháp điều trị chuẩn được chỉ định cho những trường hợp chấn thương
lách độ I, II, III cùng với tình trạng huyết động ổn định
Từ khóa: Chấn thương lách, điều trị bảo tồn
ABSTRACT
MANAGEMENT BY OBSERVATION OF SPLENIC INJURIES
IN HUE CENTRAL HOSPITAL FROM 1/2006-6/2010
Phan Dinh Tuan Dung, Ho Van Linh, Hoang Trong Nhat Phuong, Le Manh Ha, Le
Results: Patients with splenic injury were young (median age 27,78 ± 9,8 years)
and male (78,8%). Almost of cases were spleenic injury grade I and II with 88,5%.
The mean hospital stay of the patients was 7,3 ± 3,4 days.
Conclusion: The majority of splenic injuries are managed by observation with
acceptable outcomes. That method should be the gold standard technique in
treatment for the spleenic injuries indicated for splenic injury grade I, II, III with
hemodynamic stability, not another injuries required laparotomy.
Keywords: splenic injury, observation
MỞ ĐẦU
Chấn thương lách là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp do chấn thương bụng
kín với tần suất thường gặp 20-30%. Tỷ lệ chấn thương lách 1,7/1000 trường hợp
mỗi năm tại Ontario(3). Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội,
chấn thương bụng kín ngày càng được gặp nhiều trong lâm sàng ngoại khoa, trong
đó lách là tạng thường hay tổn thương nhất.
Việc chẩn đoán chấn thương lách trên lâm sàng thường không khó dựa vào các
triệu chứng lâm sàng thường tương đối điển hình cùng với sự kết hợp các xét
nghiệm hình ảnh cận lâm sàng. Cùng với sự ra đời và phát triển của các các
phương tiện chẩn đoán hình ảnh (CT Scan), các vật liệu cầm máu nhân tạo thì các
phương pháp điều trị chấn thương lách cũng được đa dạng hoá và hiệu quả tốt hơn.
Tuỳ vào mức độ tổn thương của lách mà có những phương pháp điều trị khác nhau
như phẫu thuật cắt lách toàn phần hay bán phần hoặc điều trị bảo tồn. Trong đó,
điều trị bảo tồn luôn chiếm một tỷ lệ lớn với hiệu quả điều trị thành công tương đối
cao.
Tại BVTW Huế, chúng tôi đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị chấn thương
lách bằng phẫu thuật hay bảo tồn với kết quả tốt, trong đó điều trị bảo tồn chiếm
một tỷ lệ tương đối cao (59,5%)(1). Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh
giá một cách đầy đủ về chỉ định và đánh giá kết quả điều trị bảo tồn trong chấn
thương lách. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá
+ Kiểm tra công thức máu và siêu âm bụng trong quá trình điều trị và trước khi
ra viện.
+ Giới hạn hoạt động thể lực sau ra viện 1-3 tháng.
- Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn không mổ trước ra viện: lâm sàng, cận lâm
sàng, số ngày nằm viện.
Xử lý số liệu
Các số liệu được ghi nhận và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 10.0, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
Số lượng hồng cầu trung bình là 3.7± 0,48 x 1012/l, số lượng hồng cầu nhỏ nhất
3.0 x 1012/l, lớn nhất 4.7 x 1012/l.
- Phân độ chấn thƣơng lách
STT
Độ chấn thƣơng lách
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
1
Độ I
26
50
2
Độ II
20
38.5
3
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
1
Tụ máu dưới bao
29
55.8
2
Rách bao và nhu mô
21
40.1
3
Tụ máu trong nhu mô
7
4.1
Tổng cộng
39
75
3
Rốn lách
3
5.8
Tổng cộng
52
100
Ghi chú
Tổn thương cực dưới lách thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 75%, có 3 trường hợp
máu tụ dưới bao vùng rốn lách chiếm tỷ lệ 5.8%.
- Theo dõi điều trị: 100% các trường hợp đều có huyết động ổn định duy trì
trong suốt quá trình nằm viện, công thức máu đều nằm trong giới hạn thường, siêu
âm kiểm tra không thấy hình ảnh tăng thể tích dịch trong ổ phúc mạc.
- Ngày điều trị trung bình: 7,3 ± 3,4 (ngắn nhất 4 ngày - dài nhất 15 ngày)
BÀN LUẬN
Clancy lại cho thấy rằng phẫu thuật cắt lách chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các phương
pháp điều trị tại các trung tâm ở Bắc Carolina(2) Tuy nhiên, không có sự khác biệt
về tỷ lệ tử vong hay thời gian nằm viện điều trị với các nhóm bệnh nhân điều trị
bảo tồn và điều trị phẫu thuật trong cả 2 nghiên cứu. Do vậy, các tác giả kết luận
điều trị bảo tồn theo dõi là phương pháp an toàn trong hầu hết các bệnh nhân được
lựa chọn với chỉ định phù hợp. Chúng tôi cũng nhất trí với ý kiến này.
Tổn thương phối hợp: theo một số các tác giả, tình trạng các tổn thương phối
hợp sẽ làm cho tổn thương có nguy cơ nặng lên đưa đến nguy cơ chuyển mổ cao
hơn và thời gian điều trị kéo dài hơn. Theo nghiên cứu của Bryan trong 2147
trường hợp chấn thương lách thì những trường hợp có tổn thương phối hợp (bao
gồm: lồng ngực chiếm 77% và đầu chiếm 59% (2147cases) với thời gian nằm viện
trung bình là 14 ngày. ngược lại những trường hợp chấn thương lách đơn thuần thì
thời gian nằm viện trung bình là 8 ngày(3).Trong nghiên cứu của chúng tôi, thương
tổn kèm theo bao gồm 1 trường hợp CTSN (máu tụ dưới màng cứng) (1,9%), 4
trường hợp gãy xương các chi (7,7%), 2 trường hợp chấn thương thận trái (3,8%).
Tuy nhiên không có trường hợp nào cần phải can thiệp phẫu thuật.
Chẩn đoán hình ảnh có ý nghĩa góp phần trong việc phân loại bệnh nhân để lựa
chọn điều trị(1) Dựa vào hình ảnh siêu âm và CT Scan theo phân độ chấn thương
lách theo Hiệp hội phẫu thuật chấn thương Hoa Kỳ (AAST: the Association
American for the Surgery of Trauma) chúng tôi thấy rằng tổn thương lách độ I và
độ II chiếm đa số với 88,5%, độ III chiếm 11,5%, không có trường hợp độ IV hay
độ V được điều trị bảo tồn. Trong đó, tổn thương tự máu dưới bao chiếm tỷ lệ cao
nhất trong nhóm nghiên cứu với 55,8%. Tụ máu trong nhu mô chiếm tỷ lệ 4,1%.
Có nhiều hơn một loại thương tổn giải phẫu bệnh trên cùng một lách.
Về vấn đề theo dõi trong quá trình nằm viện: Một số tác giả cho rằng trong quá
trình theo dõi dấu hiệu chuyển mổ nhanh là các dấu hiệu mạch nhanh, đau bụng
gia tăng, kích thích phúc mạc tăng và hồng cầu giảm liên tục (...). Theo chúng tôi,
yếu tố quyết định có phẫu thuật hay không là tình trạng huyết động và tình trạng
1.
Alonso M., Brathwaite C. et al (2000), Practice management guidelines
for the non operative management of blunt injury to the liver and spleen, EAST
Practice Management Guidelines Work Group 2000.
2.
Clancy T.V., Ramshaw D.G. (1997), Management outcomes in splenic
injury: a statewide trauma centre review, Ann Surg, 226 (1), 17-24
3.
Garber B.G. (2000), Management of adult splenic injuries in Ontario: A
population-based study, CJS, Vol 43, No. 4, 283-288.
4.
Garber, Yelle J.D. (1996), Management of splenic injuries in a Canadian
trauma Centre, Can J Surg, 9 (6), 474-480
5.
Lê Lộc, Lƣơng Ngọc Trung (2006), “Chấn thương lách: Chỉ định điều trị
và kết quả”, Tạp chí Y học thực hành, 532, 142-149.
6.
Pachter H.L., Spencer F.C. (1990), Experience with selective and
nonoperative treatment of splenic injuries in 193 patients, Ann Surg, 211 (5),