Một số biện pháp phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh THPT qua dạy học thơ Tố Hữu - Pdf 31

1

Mục lục
Trang
PHầN i: Mở ĐầU

1. Lí do chọn đề tài.
1.1 Lý do khách quan.
1.2 Lý do chủ quan.
2. Lịch sử vấn đề.
3. Mục đích nghiên cứu.
4. Đối tợng nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu.
6. Phơng pháp nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn.
Phần II: nội dung
Chơng I: Cảm xúc thẩm mĩ là cội nguồn của mọi sáng tạo
nghệ thuật nói chung và là cơ sở của sự tiếp

01
01
01
01
01
03
04
04
04
04
04
05

14
14
16
18
20
24
26


2

3. Cảm xúc thẩm mĩ có vai trò quan trong tiếp nhận văn chơng
4. Thơ Tố Hữu có nhiều khả năng phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho
học sinh
4.1 Thơ là thể loại có khả năng tác động vào tình cảm, cảm xúc
nhanh nhất
4.2 Khả năng phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh của thơ Tố Hữu
4.2.1 Thơ Tố Hữu luôn đem lại những cảm xúc thẩm mỹ cho bạn đọc
nói chung, học sinh THPT nói riêng
4.2.2 Sự đa dạng về hình thức của thơ Tố Hữu đem lại cảm xúc
thẩm mỹ cho học sinh
4.2.2.1 Đa dạng về hình thức thơ
4.2.2.2 Sự đa dạng trong nhịp điệu giọng điệu trong thơ Tố Hữu đã
đem lại cảm xúc thẩm mỹ cho bạn đọc học sinh
4.2.2.3 Những hình ảnh thơ giàu cảm xúc đã mang lại cảm xúc
thẩm mỹ cho học sinh
4.2.2.4. Ngôn ngữ nghệ thuật phong phú trong thơ Tố Hữu đã
đem lại cảm xúc thẩm mỹ cho bạn đọc học sinh
4.2.2.5 Nhạc điệu ngọt ngào trong thơ Tố Hữu tác động mạnh,
mang đến cảm xúc thẩm mỹ của học sinh

60
60
60
61
64
65
65
71
81
87


3
CHƯƠNG 3:

Thiết kế thực

nghiệm bài thơ Kính gửi cụ

Nguyễn Du của Tố Hữu
1. Thuyết minh và mục đích thực nghiệm

1.1 Thuyết minh
1.2 Mục đích thực nghiệm
2. Đối tợng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
2.1 Đối tợng thực nghiệm
2.2 Địa bàn thực nghiệm
2.3 Thời gian tổ chức thực nghiệm
3. Giáo án thực nghiệm



4

PHầN i: Mở ĐầU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1 Lý do khách quan:
- Tố Hữu là một tác giả tiêu biểu, có số lợng tác phẩm lớn trong chơng
trình THPT.
- Ngày nay chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, là thế kỉ của công nghệ
thông tin cho nên trong nhà trờng hiện nay có xu hớng dạy học văn bằng phơng pháp trình chiếu, điều đó dẫn tới nguy cơ làm xơ cứng tâm hồn và cảm
xúc của học sinh. Do đó, vấn đề phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh
luôn là vấn đề bức xúc .
1.2 Lý do chủ quan :
Ngay từ khi học phổ thông tôi đã yêu thích thơ Tố Hữu nay là một giáo
viên dạy văn ở trờng THPT nên chúng tôi đã chọn đề tài này, với mong muốn
qua việc dạy thơ Tố Hữu sẽ đem lại hứng thú cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh,
nhằm phát triển con ngời toàn diện ở các em và hạn chế tình trạng trán học
văn hiện nay của học sinh.
2. Lịch sử vấn đề:

2.1 Trong cảm thụ tác phẩm văn chơng, cảm xúc thẩm mỹ đã dành đợc vị
trí xứng đáng, đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo quan tâm, GS Phan
Trọng Luận trong bài Bạn đọc học sinh trong mối quan hệ thẩm mĩ với tác
phẩm văn học đã nhấn mạnh Tác động của văn học nghệ thuật là sự lay
động sâu sắc bên trong mỗi con ngòi, vì sự cảm thụ nghệ thuật gắn liền với
yêu cầu cảm xúc hoá một cách mạnh mẽ ở bản thân chủ thể cảm thụ. Cảm
thụ văn học cũng nh cảm thụ nghệ thuật thực chất là một sự chiếm lĩnh đối
tợng thẩm mĩ thông qua con đờng cảm xúc hoá. Hơn nữa tác giả còn
khẳng định: không có cảm xúc sẽ không có cảm thụ thẩm mĩ và cảm thụ
văn học nghệ thuật. Sự đồng hoá hịên thực thẩm mĩ cũng là một hoạt động

thơ Tố Hữu. Mỗi tập thơ của ông ra đời là một hiện tợng văn học lớn đã thu
hút công sức nghiên cứu của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học,nhà giáo trong mấy chục năm qua. Rất nhiều công trình nghiên cứu về
thơ Tố Hữu, nhng đáng chú ý hơn cả là các công trình nghiên cứu của các nhà


6

thơ nổi tiếng nh: Xuân Diệu, Chế Lan Viên ,Lu Trọng L; của các nhà nghiên
cứu phê bình có tên tuổi nh: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hà Minh Đức,
Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Hạnh; của các nhà giáo nh:
Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Thanh Hơng, Vũ Nho,
Nguyễn Văn Long... và một số bài viết của chính tác giả về đời thơ và đời
mình.
Các công trình nghiên cứu, các bài viết tập trung vào một số vấn đề sau:
- Về con đờng thơ Tố Hữu: gồm các bài viết về các tập thơ của ông,
khuynh hớng vận động của thơ ông.
- Về phong cách thơ Tố Hữu: các công trình nghiên cứu, các bài viết tập
trung khai thác, khám phá vẻ đẹp, những giá trị đặc sắc trong thơ Tố Hữu cả
về nội dung lẫn hình thức.
- Về cách dạy học Tố Hữu: là các bài viết của các nhà nghiên cứu, các
nhà giáo đi sâu tìm hiểu phân tích một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu.
Nhìn lại những chặng đờng đã qua, những mốc lớn trong đời thơ Tố
Hữu, ta thấy: giới phê bình, nghiên cứu đều dành nhiều trang viết về thơ Tố
Hữu trớc 1975 và đều thống nhất khẳng định thơ Tố Hữu là đỉnh cao của thơ
trữ tình chính trị Việt Nam thế kỉ 20.
Ngoài ra cũng đã có khá nhiều, luận án, luận văn thạc sỹ thuộc các
chuyên ngành đã nghiên cứu triển khai việc dạy học thơ Tố Hữu trong chơng
trình THPT. Song, dạy học thơ Tố Hữu theo hớng phát triển cảm xúc thẩm mỹ
cho học sinh lại là đề tài khá mới mẻ, vì vậy, mọi t liệu về thơ Tố Hữu đối với

Chơng I: Cảm xúc thẩm mỹ là cội nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật nói
chung và là cơ sở của sự tiếp nhận thơ Tố Hữu nói riêng.
Chơng II: Một số biện pháp phát triển cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh THPT
qua dạy học thơ Tố Hữu .
Chơng III: Thực nghiệm bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo và phụ lục.


8

Phần II: nội dung
Chơng I:
cảm xúc thẩm mĩ là cội nguồn của mọi sáng tạo
nghệ thuật nói chung và là cơ sở của sự tiếp nhận
thơ Tố Hữu nói riêng

1. Phân biệt cảm xúc và cảm xúc thẩm mỹ:
1.1 Cảm xúc:
Cảm xúc: là trạng thái của con ngời trớc những sự vật xung quanh,
chẳng hạn, khi quan sát mặt trời mọc, khi ngắm một nhành hoa, khi nghe
nhạccon ngời biểu lộ thái độ của mình bằng sự vui, buồn, hài lòng hay chán
nản. Đó là cảm xúc, niềm vui, nỗi buồn, sự khiếp sợ là những trạng thái cảm
xúc khác nhau của con ngời.
Theo Mác: Con ngời khẳng định mình trong thế giới vật thể không chỉ
bằng t duy mà còn bằng tất cả cảm xúc . Đã là ngời thì ai cũng phải có cảm
xúc, trừ những ngời bị bệnh lãnh cảm, trơ lì cảm xúc.
Song song với việc nhận thức và phản ánh thế giới, con ngời bao giờ
cũng nảy sinh tình cảm, cảm xúc của mình với thế giới khách quan ấy. Đó là
sự tự khẳng định mình trong mối quan hệ với thế giới khách quan. Cảm xúc
thờng tồn tại dới hai dạng: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực.

tác phẩm nghệ thuật, cùng tham dự với tác giả những nỗi vui, buồn, căm giận,
thù ghét. Hêghen cho rằng mục đích của nghệ thuật là nhằm vào việc giúp cho
con ngời tìm thấy đợc chính mình ở ngoại cảnh. Chính nhờ cảm xúc thẩm mỹ
mà ngời đọc có thể đem lại linh hồn, đem lại cuộc sống cho tác phẩm văn chơng. Có mấy loại cảm xúc thẩm mỹ nh sau:
- Loại khách quan: là loại cảm xúc do tác động bên ngoài tạo nên.
Chẳng hạn có những ngời chỉ thích đọc một loaị tác phẩm văn chơng nhất
định. Hoặc có nhiều học sinh chỉ thích đọc những truyện trinh thám hoặc
những truyện hành động, nhiều em học sinh nữ tuổi mới lớn lại thích đọc tiểu
thuyết hoặc thơ tình, còn những ngời đã trởng thành lại thích đọc tiểu thuyết
tâm lí xã hội tuỳ theo sở thích mỗi ng ời mà họ thiên về đọc một loại tác
phẩm văn chơng nhất định.
- Loại liên tởng: là loại độc giả khi đọc một tác phẩm có thể liên tởng
tới nhiều vấn đề khác nhau. Tính chất của những liên tởng ở họ là do vẻ đẹp


10

tiềm ẩn của tác phẩm văn chơng đã đem lại cho họ những cảm xúc mãnh liệt,
làm sống lại những hng phấn của thần kinh, cung cấp chất liệu cho hoạt động
liên tởng và tởng tợng. Chẳng hạn khi đọc bài thơ Việt Bắc, các em học sinh
miền núi Cao Bằng, Bắc Cạn mới ý thức hết vẻ đẹp nên thơ và quyến rũ của
khung cảnh núi rừng Tây Bắc.
- Loại tính cách: là loại độc giả luôn mang trong mình một tính cách
đặc biệt khi đọc tác phẩm, loại này thờng đem ấn tợng chủ quan của mình để
đánh giá tác phẩm, do đó, có khi họ bị cảm giác đánh lừa do sự ngộ nhận, có
khi là do không hiểu hoặc võ đoán. Ví dụ nh trờng hợp đánh giá về Truyện
Kiều của Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh.
Cảm xúc thẩm mĩ là sản phẩm của mối quan hệ giữa con ngời và thế
giới. Song không phải mọi cảm xúc của con ngời với thế giới đều đợc coi là
cảm xúc thẩm mĩ. Bởi bên cạnh cảm xúc thẩm mĩ còn có một loại cảm xúc

giai điệu, khúc hát ca dao với những ca từ ngọt ngào, giản dị của đồng quê,
chúng ta nh đợc đắm mình trong không gian quê hơng dịu dàng với cây đa
bến nớc, với lời ru ngọt ngào tha thiết của bà, của mẹ, khiến chúng ta say mê,
cảm thấy thanh thản, trìu mến nh đang đợc trở về với không gian thực của
quê hơng. Đọc những tác phẩm viết về cuộc chiến anh dũng của dân tộc, trớc
tinh thần quả cảm, nguyện hy sinh tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho s nghiệp
giải phóng đất nớc, bỗng xuất hiện trong chúng ta không klhí hừng hực của
ngày hội cứu nớc nh mình cũng đang đợc tham gia và nếm trải.
Tác phẩm nghệ thuật góp phần đem lại cảm xúc thẩm mỹ cho con ngời
phong phú nhất. Bởi nghệ thuật tạo ra một thế giới mà trong đó con ngời
không vớng vào những mâu thuẫn xã hội và những óc muốn chính trị. Tác
phẩm nghệ thuật là một hoạt động tự do của tâm hồn, của tởng tợng, của cảm
xúc và tình cảm. Nó gắn với lợi ích khoái cảm thẩm mĩ, với tinh thần con ngời. (Dẫn theo 29,15)
Cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc vô t trong sáng không vụ lợi, hoàn toàn
thoát khỏi mọi sự ham muốn và mục đích cá nhân hẹp hòi ích kỉ. cảm xúc
thẩm mĩ chỉ đợc cảm thụ thực sự khi nó không liên quan đến sự cần thiết của
con ngời. Cảm xúc thẩm mỹ nảy sinh, thăng hoa khi con ngời trong trạng thái
cân bằng với hạnh phúc thực tại. Cảm xúc thẩm mỹ do đó là cảm xúc tinh thần


12

cao thợng nhất của con ngời.(29,15) cảm xúc thẩm mỹ là kết quả của hoạt
động thẩm mĩ không nhằm theo đuổi một lợi ích thực dụng vật chất nào
,không bị một áp lực nào cỡng chế, ép buộc. Cảm xúc thẩm mĩ đợc nảy sinh
trên tinh thần tự nguyện, chân thành và tự nhiên, bởi nó là cảm xúc tinh thần
thuần tuý mà cái gì của tinh thần cũng đều cao hơn bất kì một sản phẩm của
tự nhiên(7,95). Chẳng hạn, khi đọc những trang văn viết về số phận bi đát
cùng đờng của những ngời nông dân dới chế độ xã hội phong kiến, chúng ta
bỗng nh cảm thấy đợc nỗi thống khổ của con ngời, muốn cứu giúp họ, khát

nghệ thuật đòi hỏi phải hiểu và cảm đợc cái hay, cái đẹp trong tác phẩm ấy
.Họ phải vận dụng toàn bộ t duy hình tợng và t duy lôgícđể nhận thức cái đẹp.
Họ lĩnh hội thông qua các giác quan nh thị giác, thính giác cho nên cần
thiết phải có cảm xúc thẩm mỹ.Tác phẩm văn chơng tác động vào cảm xúc,
hình thành nên cảm xúc thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ là con đờng đa ngời đọc
đi vào thế giới của văn học, nghệ thuật và khi những sợi dây tình cảm đợc
ngân lên trong lòng ngời đọc, lúc đó sự lĩnh hội cái hay, cái đẹp ở ngời đọc đã
bắt đầu. Do vậy, cảm xúc là yếu tố quyết định trong quá trình tiếp nhận văn
chơng và phát triển nhân cách học sinh. Ngời giáo viên văn học có vai trò rất
quan trọng trong việc bồi dỡg cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh, vì thông qua
tác phẩm văn chơng, giáo viên sẽ hớng dẫn cho học sinh tìm hiểu cái hay, cái
đẹp trong hình tợng nghệ thuật, trong ngôn ngữ, hình ảnh, tạo cơ sở cho các
em hình thành những cảm xúc thẩm mỹ.
Cảm xúc thẩm mĩ đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc phát triển
năng lực t duy thẩm mĩ cho học sinh, tạo hng phấn và động cơ sáng tạo
trong tiếp nhận văn học. Bởi sự tác động của một tác phẩm nghệ thuật đối
với ngời thởng thức là ở chỗ nó khơi dậy sự trăn trở, một sự trăn trở khác với
sự trăn trở không liên quan đến nghệ thuật. Muốn hiểu sâu sắc, chân thực tác
phẩm nghê thuật, chúng ta phải có cảm xúc thẩm mĩ thật sự mãnh liệt, phải
đặt mình vào tác phẩm, phải rèn luyện vốn văn hoá, trình độ học vấn cũng
nh thị hiếu thẩm mĩ của mình ngang tầm với tác phẩm. Có cảm xúc thẩm mỹ


14

học sinh sẽ có một thái độ tự nguyện đến với tác phẩm văn chơng .Từ đó
nâng cao hiệu quả tiếp nhận và làm cơ sở cho hoạt động sáng tạo lại tác
phẩm nghệ thuật.
Nhìn chung, cảm xúc thẩm mĩ có vai trò rất quan trọng trong nhiều lĩnh
vực nh: Nhận thức, giáo dục, sáng tạo và tiếp nhận văn học nghệ thuật. Đối

Cảm xúc nói chung và cảm xúc thẩm mỹ có cùng một cơ sở tâm lí là
nhu cầu. Sự khác biệt giữa cảm xúc và cảm xúc thẩm mỹ, qui định tính phù
hợp mục đích của nhu cầu. Nhu cầu ngoài thẩm mĩ luôn hớng đến chiếm lĩnh
đối tợng, còn nhu cầu thẫm mĩ hớng tới sự thụ cảm nội tâm, sự thởng ngoạn
đánh giá.(8;54)
Tóm lại, cả hai cảm xúc và cảm xúc thẩm mỹ đều có cơ sở là những
trạng thái tình cảm, cảm xúc khác nhau trớc thế giới, song cảm xúc thẩm mỹ ở
trình độ cao hơn cảm xúc. Cảm xúc thẩm mĩ là trạng thái tình cảm của chủ
thể thẩm mĩ trớc ấn tợng thẩm mĩ, khi chủ thể thẩm mĩ tri giác đợc bằng thị
giác và thính giác các khách thể thẩm mĩ trong cuộc sống và trong nghệ thuật.
Còn cảm xúc là trạng thái tình cảm, cảm xúc của con ngời trớc hiện thực đã
trải qua.
1.3.2 Cảm xúc thẩm mỹ là cội nguồn của mọi sáng tao nghệ thuật.
Trong sáng tạo nghệ thuật, cảm xúc thẩm mĩ đóng vai trò nh một suối
nguồn vô tận khơi nguồn sáng tạo cho ngời nghệ sỹ cảm xúc thấm mĩ là con
đờng đa ngời đọc vào thế giới văn học nghệ thuật khiến cho những sợi dây
tình cảm trong lòng ngời đoc ngân lên những âm thanh, nhịp điệu khác của
tâm hồn trớc mỗi hình tợng nghệ thuật, lúc đó sự lĩnh hội cái hay cái đẹp của
tác phẩm bắt đầu và cũng đồng thời là quá trình sáng tạo(12;4).
Nhận thức cái đẹp trong nghệ thuật khác với nhận thức khoa học ở
chỗ .Muốn nhận thức cái đẹp trong nghệ thuật phải cảm đợc cái hay, cái đẹp
trong tác phẩm với toàn bộ năng lực tinh thần của ngời đọc nh thị giác, thính
giác, phải đem tình cảm gửi vào tác phẩm nghệ thuật để cùng vui, buồn với tác
giả.
Còn nhận thức khoa học phải tuân thủ theo các quy luật của t duy khoa
học và t duy logíc.
Nh đã trình bày ở trên cảm xúc thẩm mỹ là cảm xúc tinh thần vô t, trong


16



17

ngời sẽ muốn lu giữ lại bằng dấu ấn tinh thần bằng niềm khao khát sáng tạo qua
tác phẩm nghệ thuật. Đây là một nhu cầu mang bản chất ngời. Sáng tạo nghệ
thuật lúc này trở nên một nhu cầu mãnh liệt, là phơng tiện mạnh mẽ để giải thoát
những cảm xúc bị dồn nén. (29,58)
Bởi việc bộc lộ cảm xúc và nhận thức thuộc về bản chất sâu xa của con ngời.
Khi có cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt con ngời sẽ có nhu cầu giải thoát ra ngoài thông
qua sáng tạo nghệ thuật. Chính khát vọng này là động cơ vô tận cho sáng tạo nghệ
thuật. Ngời nghệ sĩ với phẩm chất giàu tình cảm, nhạy bén, dễ rung động trớc mọi
biến cố, sự kiện của cuộc sống sẽ là điều kiện tốt để sáng tạo nghệ thuật.
Theo Vigỗtki con ngời có hai cách để giải thoát cảm xúc: Thể xác và
tinh thần. Tởng tợng là một công cụ của tinh thần trong việc bộc lộ cảm xúc t
tởng sang hình tợng nghệ thuật. Nhờ có tởng tợng mà cảm xúc thẩm mĩ biến
thành lời thơ, khúc nhạc, bức tranh, con ngời Nhờ có tởng tợng mà sáng tạo
không bị lập lại, buồn tẻ.
Tóm lại, cảm xúc thẩm mĩ quy định vai trò tích cực trong sáng tạo nghệ
thuật, khơi gợi ở chúng ta khát khao sáng tạo không cùng theo quy luật của
cái đẹp, cái hữu ích.
Khát khao đó buộc phải tìm đến các hình thức nghệ thuật để thể hiện.
Đó là trạng thái sáng tác, một trạng thái tinh thần rung động đến tột cùng, chỉ
biết đi theo sự dẫn dắt của cảm hứng, của cái đẹp, của nghệ thuật(29,64)
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển cảm xúc thẩm
mỹ cho học sinh:

2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1 Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật chỉ ra vai trò quan trọng của cảm
xúc thẩm mỹ:

xúc trong nghệ thuật chỉ có thể thông qua tởng tợng. Cảm xúc đợc chuyển đổi
thành ngôn ngữ, cảm xúc biến thành lời ca, khúc nhạc, bức tranh, cảm xúc qua
tởng tợng mã hoá thành các hình ảnh, mầu sắc, hình khối, âm thanh, con ngời
mang tính biểu tợng. Hình ảnh
Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung
Gió sóng biển tung trắng bờ
trong thơ Tố Hữu vừa là bức chân dung mẹ Suốt vừa là tấm lòng ngợi ca của
nhà thơ về t thế hiên ngang bất khuất của các bà mẹ Việt Nam, con ngời Viẹt


19

Nam thời chống Mĩ. Cảm xúc đóng vai trò to lớn trong sáng tạo nghệ thuật,
nếu không có cảm xúc thì nghệ sĩ sẽ không có nhu cầu sáng tác để giải thoát
cảm xúc của bản thân. Cảm xúc tạo ra hng phấn và động cơ sáng tạo của ngời
nghệ sĩ. Từ đó chung ta nhận thấy tâm lí học sáng tạo nghệ thuật đã chỉ ra
rằng cảm xúc thẩm mỹ đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật mà
sự rung động đợc xem là mục đích của nghệ thuật.
Khi sáng tạo, ngời nghệ sĩ bắt buộc phải có cảm xúc thì mới dẫn tới
nhu cầu bộc lộ, giải thoát cảm xúc bằng một khách thể thẩm mĩ bên ngoài,
thế nên khi cảm thụ nghệ thuật, hình tợng cũng nh nghệ thuật trữ tình mà
không có cảm xúc thì sẽ không thể tìm hiểu nghệ thuật, không thể hiểu đợc
những điều mà ngời nghệ sĩ gủi gắm trong tác phảm, bởi sự hiểu biét về tác
phẩm nghệ thuật luôn gắn với quá trình cảm xúc và tình cảm của mỗi ngời.
Cảm xúc tạo ra hng phấn và động cơ cho sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ
thuật. Cảm xúc là yếu tố quyết định chất lợng của nhận thức thẩm mĩ ở con
ngời.Tóm lại, cả ngời sáng tác và ngời tiếp nhận đều phải có cảm xúc và cảm
xúc thẩm mỹ. Ngời sáng tạo lấy yếu tố cảm xúc thẩm mỹ là động cơ sáng tạo
thẩm mĩ, còn ngời tiếp nhận lấy yếu tố cảm xúc thẩm mỹ làm động cơ kích
thích quá trình tìm hiểu tác phẩm.

trong nghệ thuật, tâm hồn các em đã biết ngân lên, rung động và đồng cảm.
ở lứa tuổi này, óc liên tởng, tởng tợng của các em cũng đã phát triển
,khả năng phân tích, tổng hợp, phán đoán, rút ra kết luận của học sinh đã có
logic, đúng đắn.
Nhìn chung, học sinh ở lứa tuổi này đã có sự phát triển về t duy logic và t duy
hình tợng. Cái đẹp trong nghệ thuật, nhất là cái đẹp trong văn học vốn nằm
sâu trong lớp ngôn ngữ đòi hỏi ngời đọc phải huy động các năng lực nh: tri
giác và cảm giác mới có thể cảm và hiểu đợc. Tuy còn cha sâu sắc và còn gặp
nhiều khó khăn, song các em đã có những rung cảm tinh tế. Điều đó chứng tỏ
t duy thẩm mĩ , t duy hình tợng của các em đã phát triển. Từ cái đẹp trong
cuộc sống, trong văn học, các em đã biết vơn tới những lí tởng cao đẹp, trong
xã hội. Chính sự phát triển về t duy logic và t duy hình tợng này sẽ tạo nền
tảng cho những tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ của học sinh THPT để các em đến


21

với tác phẩm văn học nghệ thuật đợc sâu sắc hơn, vì thế các em hoàn toàn có
khả năng tiếp nhận tác phẩm văn học, với toàn bộ thế giới tinh thần nhạy cảm,
tinh tế của mình.
2.1.3 Mĩ học chỉ ra vai trò của cảm xúc thẩm mỹ:
Khác với các khoa học khác Khoa học mĩ học chỉ tập trung nghiên cứu
các quan hệ thẩm mĩ của con ngời nới hiện thực. Mọi hiện tợng đẹp, xấu, cao
cả ,thấp hèn, bi ai tồn tại trong đời sống đều là nguồn gốc của tình cảm thẩm
mĩ của con ngời. Đó là những cảm xúc, niềm vui sớng, tự hào, xót xa, của con
ngời trong lao động, trong sáng tạo và trong học tập.
Vì vậy cảm xúc của con ngời là đối tợng nghiên cứu của mĩ học. Mĩ
học định hớng cho con ngời trong hoạt động tiếp nhận, hởng thụ, đánh giá và
sáng tạo trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Mĩ học cũng đồng thời chỉ ra
vai trò của cảm xúc thẩm mỹ trong thởng thức, đánh giá và sáng tạo nghệ

thuật là sản phẩm đặc biệt và là đỉnh cao của sự sáng tạo thẩm mĩ ,nghệ thuật
bao giờ cũng lấy chất liệu từ cuộc sống, là nơi hội tụ của cái đẹp trong cuộc
sống.
Trong đánh giá thẩm mĩ bắt buộc phải có cảm xúc thẩm mỹ trong
đánh giá thẩm mĩ, cảm xúc thẩm mỹ phát sinh do tác động của đời sống thẩm
mĩ tạo nên là không thể thiếu đợc. Tuy nhiên, những cảm xúc ấy chỉ có thê
làm xuất phát điểm hỗ trợ cho sự đánh giá. (8,46)
Đã là đánh giá tất nhiên cũng phải căn cứ vào những tiêu chuẩn nhất
định, có cơ sở khoa học, đó là sự kết hợp giữa phơng pháp phân tích khoa học
và những năng lực cảm thụ trực tiếp, giữa tình cảm và lí trí, giữa kinh nghiệm
cá nhân và các chuẩn mực xã hội. Trong đánh giá thẩm mĩ con ngời phải huy
động toàn bộ năng lực của thế giới tinh thần nh kinh nghiệm, tình cảm, thị
hiếu, tri thức, lí tởng thẩm mĩ trong đó cảm xúc thẩm mỹ đóng vai trò tích
cực, hỗ trợ cho sự đánh giá vì con ngời khẳng định mình trong thế giới vật
thể không chỉ bằng t duy mà còn bằng tất cả cảm xúc thiếu tình cảm con
ngời không thể có những tìm tòi về chân lí(dẫn theo 29,42). Dù không nên
tuyệt đối hoá vai trò của cảm xúc thẩm mỹ trong đánh giá thẩm mĩ, nhng phải
thừa nhận rằng cảm xúc thẩm mỹ là động lực thúc đẩy hoạt động đánh giá
thẩm mĩ. Nếu không có cảm xúc thẩm mỹ thì làm sao tiếp nhận đợc tác phẩm


23

nghệ thuật và hoạt động đánh giá thẩm mĩ cũng sẽ không xảy ra. Chẳng hạn,
khi ta xem một bộ phim mà không hề có cảm xúc, không có sự khoan khoái,
niềm vui hay sự trăn trở, thì trong ta không xuất hiện những cảm xúc thẩm
mỹ. Từ đó cũng sẽ không dẫn tới nhu cầu đánh giá về bộ phim đó.
Ngoài ra, mĩ học cũng chỉ ra vai trò của cảm xúc thẩm mỹ trong hoạt
động lao động và sáng tạo nghệ thuật. Những xúc động, niềm vui sớng hay sự
phẫn nộ của con ngời trớc các sự vật, hiện tợng trong cuộc sống và trong nghệ

Nh vậy ,để có tác phẩm văn học không chỉ cần đến văn bản với đầy đủ các
đặc trng mà còn phụ thuộc vào ngời đọc nó nữa. (5,31)
Ngời đọc tiếp nhận là một khâu quan trọng trong quá trình sáng tạo
nghệ thuật, bởi ngay khi tác phẩm cha đến tay công chúng thì đã có một bạn
đọc rất tỉ mỉ, đó là tác giả -ngời đọc đi đọc lại sản phẩm sáng tạo của mình và
ngay cả khi mới nảy ra ý đồ sáng tạo thì cũng đã xuất hiện hình bóng ngời đọc
trong đầu nhà văn. Bởi họ đã phải xác định : Viết cho ai ?
Viết cái gì ?
Viết nh thế nào ?
Tác phẩm văn học không phải là sản phẩm của riêng nhà văn mà nó phải có sự
tiếp nhận của ngời đọc mới trở nên hoàn chỉnh. Nhà văn là ngời thể hiện ý đồ,
bạn đọc là ngời tiếp nhận trực tiếp ý đồ đó.
Một sáng tác văn học đợc gọi là tác phẩm văn học với điều kiện nó có
giá trị văn học. Nhng giá trị văn học (nếu có) chỉ hình thành trong quá trình
đọc và sau khi đọc mà thôi(5;24)
Tham gia vào quá trình tiếp nhận văn bản, bạn đọc đang có sự gặp gỡ
với nhà văn thông qua tác phẩm, họ trao đổi với nhà văn, thực hiện quá trình
đồng sáng tạo, để biến tác phẩm thành yếu tố của đời sống ý thức xã hội. Bởi
tác phẩm mà không có bạn đọc tiếp nhận sẽ không thể phát huy đợc giá trị
tinh thần của nó, nh một bức th không có địa chỉ, nh một vật báu mãi mãi cất
giấu.
Đề cao vai trò quan trọng của bạn đọc trong tiếp nhận, nhng chúng ta
cũng không nên quá cực đoan rằng nếu không có bạn đọc thì tác phẩm văn
chơng chỉ nh những vệt đen trên nền giấy trắng.
Bởi lấy sáng tác làm tiền đề, trớc khi có sự tiếp nhận của bạn đọc thì


25

tác giả đã phải có tác phẩm và ngợc lại, khi có sự tiếp nhận của bạn đọc quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status