BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGÔ MINH KHANG
KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ MỘT SỐ BỆNH
THƯỜNG GẶP TRÊN CÁ CHÌNH HOA Anguilla marmorata
(QUOY & GAIMARD, 1824)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGÔ MINH KHANG
KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ MỘT SỐ BỆNH
THƯỜNG GẶP TRÊN CÁ CHÌNH HOA Anguilla marmorata
(QUOY & GAIMARD, 1824)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60620301
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thạc sỹ Hoàng Văn Duật, đã trực tiếp hướng dẫn
cho tôi nhiều chi tiết và lời khuyên bổ ích trong suốt thời gian thực hiện công trình này.
Xin chân thành cảm ơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn nuôi trồng thủy sản Vạn
Xuân đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và thiết bị và con giống để bố trí các thí
nghiệm trong quá trình triển khai đề tài.
Cuối cùng tôi muốn nói lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong quá trình thực hiện khóa
học này.
Nha Trang, tháng 10 năm 2014
Ngô Minh Khang
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ii
MỤC LỤC.................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH......................................................................................... vii
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1 Tổng quan về cá chình. ......................................................................................... 3
1.1.1 Hệ thống phân loại cá chình hoa ................................................................ 3
1.1.2 Đặc điểm về hình thái ................................................................................ 3
1.1.3 Sơ lược về phân bố cá chình trên thế giới .................................................. 4
1.1.4 Lịch sử nghề nuôi cá chình trên thế giới .................................................... 5
1.1.5 Nguồn lợi cá chình tại Việt Nam................................................................ 6
1.2 Đặc điểm sinh sản cá chình hoa ............................................................................ 8
2.3.4 Thí nghiệm phòng và điều trị các bệnh thường gặp cho cá chình ............. 26
2.4 Bố trí thí nghiệm trị một số bệnh thường gặp ...................................................... 27
2.4.1 Thí nghiệm phòng trị bệnh loét mang cho cá chình thông qua kết quả phân
tích xét nghiệm vi khuẩn tổng số gây bệnh ............................................................... 27
2.4.2 Thí nghiệm phòng trị bệnh sán lá đơn chủ Dactylogyrosis ký sinh trên cá
chình......................................................................................................................... 28
2.4.3Thí nghiệm phòng trị bệnh trùng bánh xe Trichodina sp ký sinh trên cá
chình......................................................................................................................... 30
2.5 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu: ......................................................... 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................ 33
3.1 Các loại tác nhân gây bệnh trên cá chình hoa ...................................................... 33
3.1.1 Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn................................................................ 33
3.1.2 Tác nhân gây bệnh do ký sinh trùng......................................................... 39
3.2. Kết quả thử nghiệm dùng thuốc kháng sinh điều trị một số bệnh thường gặp trên
cá chình hoa.............................................................................................................. 41
v
3.2.1. Kết quả kháng sinh đồ : .......................................................................... 41
3.2.2. Kết quả thử nghiệm dùng thuốc kháng sinh điều trị bệnh loét mang do vi
khuẩn........................................................................................................................ 42
3.2.3 Cách phòng trị bệnh sán lá đơn chủ Dactylogyrus ................................... 43
3.2.4 Cách phòng trị bệnh trùng bánh xe .......................................................... 46
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................... 49
A. Kết luận ............................................................................................................... 49
4.1 Các loại tác nhân gây bệnh trên cá chình hoa ...................................................... 49
4.2 Cách điều trị một số bệnh thường gặp ................................................................ 49
4.2.1 Cách phòng trị bệnh loét mang do vi khuẩn Flexibacter........................... 49
4.2.2 Các phòng và trị bệnh trùng sán lá đơn chủ.............................................. 49
4.2.3 Cách phòng trị trùng bánh xe................................................................... 49
Hình 2.2 : Sơ đồ bố trí thí nghiệm..............................................................................22
Hình 2.3: Sơ đồ phân tích vi khuẩn ............................................................................23
Hình 2.4: Kỹ thuật cấy 3 phase trên đĩa lồng và khuẩn lạc phát triển trên 3 phase cấy .........24
Hình 2.5: Làm tiêu bản kiểu giọt ép ...........................................................................25
Hình 2.6: Sơ đồ bố trí thí nghiệm phòng trị bệnh loét mang do vi khuẩn....................28
Hình 2.7: Sơ đồ bố trí thí nghiệm phòng trị bệnh Dactylogyrus sp trên cá chình ........29
Hình 2.8: Sơ đồ bố trí thí nghiệm phòng trị bệnh trùng bánh xe ký sinh trên cá chình.......31
Hình 3.1 – 3.8: Các dấu hiệu cá bị nhiễm vi khuẩn ...................................................34
Hình 3. 9: Hình ảnh khuẩn lạc và kết quả thử sinh hóa vi khuẩn Flexibarter..............35
Hình 3.10 – 3.13: Các dấu hiệu bệnh lý thứ 2 quan sát trên cá chình..........................36
Hình 3.14 : Hình ảnh khuẩn lạc, vi khuẩn và các test thử sinh vi khuẩn thuộc giống
Pseudomonas.............................................................................................................36
Hình 3.15: a – d: Hình ảnh trùng Trichodina dưới kính hiển vi ..................................40
Hình 3.16: a – d: Hình ảnh trùng Ichthyophthirius ký sinh .........................................41
Hình 3.17: Tỷ lệ sống của cá tại các nghiệm thức thí ngiệm.......................................43
Hình 3.18: Nội quan cá bệnh......................................................................................43
Hình 3.19: Sán lá đơn chủ Dactylogyrus ký sinh trên mang cá chình .........................44
Hình 3.20: Kết quả số KST trên mẫu cá nghiệm thức 3..............................................44
Hình 3.21 : Kết quả số KST trên mẫu cá nghiệm thức II ............................................45
Hình 3.22: Kết quả số KST trên mẫu cá nghiệm thức I ..............................................45
Hình 3.23: Trùng bánh xe ký sinh trên mang cá chình ...............................................46
Hình 3.24: Kết quả số KST trên mẫu cá nghiệm thức III............................................47
Hình 3.25: Kết quả số KST trên mẫu cá nghiệm thức I ..............................................47
Hình 3.26: Kết quả số KST trên mẫu cá ở nghiệm thức II ..........................................48
1
MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản nước ngọt từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
2
đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá. Trong khi đó hiện nay các tài liệu nghiên
cứu về bệnh trên cá chình ở nước ta hiện nay còn ít. Các loại thuốc phòng và trị bệnh
cho cá chình hoa còn chưa chuyên biệt, tình hình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn,
quy mô và phạm vi nuôi còn nhỏ lẽ.
Trước nhu cầu thực tiễn của sản xuất, để làm cơ sở cho việc phát triển nghề nuôi
cá chình, với mong muốn giải quyết tốt nguồn cá chình giống đóng góp cho sự phát
triển nghề nuôi cá chình nước ta, được sự đồng ý của Viện Nuôi Trồng thủy sản,
Trường Đại Học Nha Trang và sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Minh Hoàng, tôi đã
chọn đề tài: “Kỹ thuật phòng và trị một số bệnh thường gặp trên cá chình hoa
(Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824)”
1. Nội dung nghiên cứu
- Các loại tác nhân gây bệnh trên cá chình.
- Cách phòng và trị một số bệnh thường gặp.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học: xác định tác nhân gây bệnh chủ yếu của một số loại bệnh
thường gặp trên cá chình để làm cở sở cho việc nghiên cứu phòng trị bệnh.
+ Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra biện pháp phòng trị bệnh cho cá chình góp phần
nâng cao tỷ lệ sống của cá.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 . Tổng quan về cá chình.
1.1.1 . Hệ thống phân loại cá chình hoa
Ngành: Chordata
Actinopterygii
chình sống trong nước ngọt. Tuy nhiên, chỉ có một số ít loài trong giống Anguilla có
đời sống một phần ở nước ngọt và một phần ở biển [21].
Giống Anguillla có một phần đời sống diễn ra ở biển và một phần ở nước ngọt.
Có hàng ngàn loài cá chình trên thế giới mà toàn bộ vòng đời trải qua ở biển và hàng
trăm loài khác chỉ sống trong nước ngọt. Nhưng do sự sắp đặt của thiên nhiên, chỉ
những loài cá chình thuộc giống Anguilla mới có nửa vòng đời ở biển và nửa vòng đời
ở trong môi trường nước ngọt. Những tập tính kỳ lạ của giống Anguilla làm cho con
người hoang mang trong nhiều thế kỷ. Không ai phát hiện được trứng chín của chúng.
Tất cả những loài cá nước ngọt khác đều có trứng chín vào một vài mùa, nhưng điều
này chưa bao giờ bắt gặp ở cá chình [21].
Giống Anguilla được các nhà nghiên cứu dự đoán có từ 10 – 25 loài (Mednikov,
1974), trong đó Isao Matsui (1979) và Atsuishi Usui (1991) đã ghi nhận được 19 loài
[18]. Song ở các khu vực khác nhau thường phân bố những loài khác nhau, liên quan
đến những đặc tính thích nghi sinh lý – sinh thái của mỗi loài. Loài cá chình châu Âu
(A. anguilla) gặp phổ biến ở các sông, hồ châu Âu, từ Iceland và Na-uy đến tận bờ
biển châu Phi (25º độ vĩ Bắc); chúng đi sâu vào Địa Trung Hải, Biển Đen và biển
Azov[18][21].
Hình 1.2 Phân bố của cá chình hoa (A. marmorata) trên thế giới
(chú thích: màu đỏ là khu vực phân bố cá chình hoa)(Nguồn GBIF OBIS)
5
1.1.4 . Lịch sử nghề nuôi cá chình trên thế giới
Nghề nuôi chình (A. japonica) đã bắt đầu ở Nhật từ những năm cuối thế kỷ 19,
sau đó phát triển thành một ngành công nghiệp lớn vào thời kỳ 1980-1994, mỗi năm
cung cấp khoảng trên 35.000 tấn cá chình thương phẩm [18]. Một số nước châu Âu
như Đức, Đan Mạch, Hà Lan đã có nghề nuôi chình phát triển vào những năm 70 của
thế kỷ 20 với việc sử dụng dòng chảy ấm hoặc nước ngầm nuôi trong ao đất hoặc ao
bê-tông (theo kinh nghiệm người Nhật) để ương nuôi cá chình từ giai đoạn cá Chình
là chình Nhật (A. Japonica), chình Ấn (A. Bengalensis), chình hoa (A. Marmorata), chình
nhọn (A. Borneensis) và chình mun (A. Bicolor pacifica)[2],[6],[25].
Chevey và Lemasson (1937) trong sách về những loài cá nước ngọt ở Bắc Bộ đã ghi
chép cá chình Nhật (Anguilla japonica) bắt gặp tại huyện Thanh Trì trên sông Hồng (Hà
Nội). Nhưng từ đó đến nay không ai còn bắt gặp nữa. Rõ ràng là cá chình Nhật (Anguilla
japonica) chỉ có tên trong danh sách nhưng thực tế có thể không tồn tại .
Vì vậy có thể cho rằng nước ta hiện nay chỉ có 4 loài cá chình phân bố đó là: A.
Marmorata, A. Bicolor pacifca, A. Bengalensis, A. Borneensis. Những loài này hiện
phân bố từ Nghệ An đến các tỉnh Nam Trung bộ. Vùng tập trung nhiều nhất là từ
Quảng Nam đến Khánh Hoà[6].
Đầm Trà Ổ và các suối lân cận tại huyện Phù Mỹ (Bình Định) là nơi khai thác cá
chình giống nhiều hơn cả, chủ yếu là chình mun và chình hoa. Chình mun trước những
năm 1965 – 1970 sản lượng lên 100 cá thể/trộ sáo/đêm, có cá thể nặng đến 3 – 5 kg.
Đầu những năm 1990, sản lượng cá chình còn khoảng 30 – 40 cá thể/trộ sáo/đêm với
kích thước trung bình 0,3 – 0,5 kg/con [5].
Sản lượng khai thác cá chình bằng nghề sáo nói chung hay chình mun nói riêng
trong đầm đã suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức và do đập chắn trên sông
Châu Trúc (xây năm 1978), ngăn chặn một phần đường di cư của cá trong mùa sinh
sản [6].
Các loài cá chình nước ta có thể đều có bãi đẻ ở ngoài khơi Biển Đông hoặc vùng
biển ven bờ Sumatra, Tây Thái Bình Dương. Theo Vũ Trung Tạng (2000), cá chình
thường di cư từ các sông suối, đầm, hồ như Trà Ổ, Bầu Sen để ra biển sinh sản. Hiện
7
tượng di cư diễn ra vào các tháng 9, 10 hàng năm, trùng với thời kỳ mưa của vùng.
Đồng thời trước hoặc sau tết âm lịch, trong Đầm đã có thể gặp cá chình con trong các
đăng sáo [6].
Trà Ổ cũng là địa bàn khai thác chình mun lớn nhất ở khu vực miền Trung. Theo
Vũ Trung Tạng (2000) cơ sở tư nhân thu mua ở thôn Dương Liễu cho biết, sản lượng
được cắt nhỏ để cho ăn. Đối tượng nuôi là cá chình hoa (Anguilla marmorata). Kết
quả điều tra cho thấy, với có giống là 30 – 50 g/con và sau 12 tháng nuôi, cá chình có
thể đạt tới 500-700 g/con, tỷ lệ sống đạt 40 – 50% [1].
1.2 . Đặc điểm sinh sản cá chình hoa
Đặc điểm cá chình là loại cá đẻ trứng một lần, Sau khi cá chình đẻ trứng ở ngoài
khơi, cá chình mẹ chết, mùa vụ đẻ trứng chưa được rõ ràng lắm, có người cho rằng
mùa vụ sinh sản là đầu xuân đến giữa hè, có người thì cho rằng cá đẻ vào mùa thu.
Nhìn chung sau khi cá chình đẻ trứng, trứng nở ra ở vùng có độ sâu 400-500 mét.
Nhiệt độ trung bình 16-170C, độ mặn 35‰. Số lượng trứng có thể là 7-13 triệu/cá thể.
Trứng thuộc loại bán trôi nổi kích thước đường kính 1mm, thời gian nở khoảng 10
ngày, sau khi trứng nở thành cá bột thường có hình trụ dài, trong suốt nên gọi là cá
trắng kích thước khoảng 6mm. Khi cá phát triển đến 7-15mm cá sẽ phân bố ở độ sâu
100-300 mét khi cơ thể và trọng lượng lớn dần thì cá phân bố ở vùng nước sâu 30 mét
và bắt đầu có hiện tượng di chuyển, khi cá đạt tới 6cm cá đi vào bờ và tới cửa sông,
thời gian này từ tháng 10 cho tới tháng 5 năm sau, cao điểm là tháng 2 và tháng 3. Đến
tháng 2 cơ thể đã đạt 15 cm. Màu sắc cá chuyển sang đen gọi là cá đen, hình dạng đã
giống cá trưởng thành [16].
1.2.1 . Thức ăn của cá chình
Cá chình là loài cá ăn thịt nên Thức ăn gồm các loại cá, tôm, cua, ốc, động vật
thân mềm, luân trùng, côn trùng nhỏ và ăn xác chết động vật. Khi cá đói và thiếu thức
ăn chúng có thể ăn thịt đồng loại [16].
Cơ quan khứu giác của cá rất phát triển, ban đêm cá có khả năng tìm mồi dựa vào
khứu giác. Tính ăn của cá chình phân chia thành nhiều giai đoạn, cá trắng thức ăn chủ
yếu là luân trùng, bọ gạo, trùn đất, ấu trùng của côn trùng, xác của động vật thân mềm,
hợp chất hữu cơ vụn nát. Khi trọng lượng cá lên 5g thì cá có khả năng truy đuổi cá
con, khi lên tới 100g thì chủ động bắt mồi tôm cá nhỏ, biên độ bắt mồi của cá chình
không lớn và có mối quan hệ mật thiết với điều kiện nhiệt độ môi trường[17].
1.2.2 . Ảnh hưởng của ánh sáng đối với đời sống cá chình
Cá chình thích sống trong điều kiện bóng tối, không thích ánh sáng mạnh. Tính
hướng quang của cá chình ở ánh sáng yếu lớn hơn ánh sáng mạnh. Khi ánh sáng càng
chình ra khỏi môi trường nước thì cá chình vẫn có thể hô hấp bằng da. Ngoài ra các cơ
quan như bong bóng, xoang miệng, ruột hoặc vây cũng có thể hỗ trợ cho cá khi hô hấp.
Cường độ hô hấp của cá chình phụ thuộc vào bắt mồi, môi trường và nhiệt độ. Nhưng
trong đó nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng nhất đến sinh trưởng của cá chình. Khi nhiệt độ
cao thì cường độ hô hấp càng lớn và tần số hô hấp tăng lên, ngược lại khi nhiệt độ thấp
thì tần số hô hấp giảm đi. Khi nhiệt độ tăng 100C thì tần số hô hấp tăng lên 2-3 lần [16].
Cá chình có một số đặc điểm hô hấp đặc biệt:
10
Nửa ngủ đông: khi nhiệt độ xuống dưới 170C, hàm lượng oxy trong nước đầy đủ
cá chình sẽ ở trạng thái nghỉ ngơi, thành thói quen nửa ngủ đông, hô hấp một lần kéo
thời gian rất dài [16].
Hô hấp nửa mang: khi nhiệt độ thấp cá chình hô hấp thở sâu và khả năng lọc
nước rất mạnh khi đó chỉ hô hấp một bên mang còn một bên mang thì khép lại. Trong
nuôi trồng cần chú ý hiện tượng hô hấp này, tức là tránh sự ô nhiễm và cảm nhiễm
bệnh ở mang làm mang tiết nhiều dịch và không thể mở ra được, hay cảm nhiễm một
bên mang do vậy cả hai mang đóng mở khác nhau đây là một triệu chứng bệnh thường
phát hiện ở nhiệt độ nước cao.
Hô hấp bằng da: trong môi trường ẩm khi cá đã ra ngoài nước không thể hô hấp
bằng mang, nhờ hấp thụ một lượng lớn khí oxy và thải ra CO2 từ da. Khi nhiệt độ dưới
150C cá chình chỉ sử dụng loại phương thức hô hấp này để duy trì cuộc sống. Yêu cầu
về hàm lượng oxy hòa tan:
Lượng oxy hòa tan giới hạn cho cá chình sinh trưởng là phụ thuộc vào nhiệt độ
khi nhiệt độ nâng cao thì giới hạn này cao. Trong phạm vi thích hợp thì yêu cầu về
hàm lượng oxy hòa tan cũng phụ thuộc vào sự tăng lên của nhiệt độ. Khi nhiệt độ từ
20-280C thì hàm lượng oxy hòa tan là 4 mg/l mới đảm bảo nhu cầu. trong điều kiện
vận chuyển yêu cầu hàm lượng oxy hòa tan so với khi cá trong điều kiện bình thường
thì cao hơn 21%. Nhưng do cá có khả năng hô hấp bằng da cho nên khi vận chuyển khô trong
phạm vi 24 tiếng vẫn đảm bảo an toàn. Quan hệ giữa oxy, kích cỡ và tình trạng cơ thể: kích
150
120
76
55
45
Nếu cá trong trạng thái hoạt động, hàm lượng oxy tăng cao 2-5 lần so với trạng
thái bình thường, sau khi cá ăn lượng tiêu hao oxy cũng tăng 1 lần so với bình thường.
Quan hệ giữa lượng tiêu hao oxy và nhiệt độ: khi nhiệt độ dưới 300C thì lượng
tiêu hao oxy của cá cũng tăng lên. Khi nhiệt độ giảm thì lượng tiêu hao oxy cũng
giảm. Khi nhiệt độ trên 300C thì lượng tiêu hao oxy sẽ giảm đi khi nhiệt độ tăng. Đây
11
có thể là do khi cá ăn ít cho nên lượng tiêu hao oxy thấp. Khi nhiệt độ càng tăng cao
hàm lượng oxy sẽ giảm cho tới khi không còn cách nào để đạt được mức tối thiểu.
Trong khi nuôi phải đề phòng hiện tượng oxy không đạt được mức tối thiểu cá sẽ chết
gây tổn thất.
Lấy ví dụ cá có kích thước 20-30 gam thì hàm lượng tiêu hao oxy ở trong các
nhiệt độ khác nhau như trong bảng 4.[16]
Bảng 1.2.Hàm lượng tiêu hao oxy của cá chình ở các nhiệt độ khác nhau [16]
Nhiệt độ (0C)
4,7
Lượng tiêu hao oxy ( ml/kg/giờ)
1,25
Nhiệt độ (0C)
Thời gian
13,4
20,0 – 24,0
72 giờ
Bình thường
2,5
25,0
20,5 – 23,5
46 giờ
Bình thường
3,5
33,6
20,2 – 22,0
Microcystis, Gymnodinium gây độc cho cá. Do thiếu các chất cơ thể cần: Trong quá
trình sống cơ thể và môi trường có sự liên hệ mật thiết, có tác dụng qua lại, các chất cơ
thể cần không có hoặc không đủ làm cho cơ thể biến đổi thậm chí có thể chết như bệnh
thiếu dinh dưỡng [7].
- Điều kiện để phát sinh bệnh: Cơ thể cá phát sinh ra bệnh không những chỉ do
nguyên nhân nhất định mà cần có điều kiện thích hợp. Do điều kiện khác nhau mà
nguyên nhân gây bệnh có làm cho cơ thể sinh vật phát sinh ra bệnh hay không. Điều
kiện gây bệnh bao gồm bản thân cơ thể sinh vật và điều kiện môi trường. Cơ thể sinh
vật như tuổi, tình trạng sức khoẻ, đực cái. Điều kiện môi trường như khí hậu, chất
nước tình hình nuôi dưỡng khu hệ sinh vật ảnh hưởng đến nguyên nhân gây bệnh.
Phần lớn các bệnh vi sinh vật phát triển mạnh trong điều kiện môi trường nuôi cá bị ô
nhiễm, các bệnh do nguyên sinh động vật gây ra thường ở ao ương nuôi cá mật độ quá
dày, thức ăn không đầy đủ, mực nước quá thấp. Nguyên nhân quyết định quá trình phát
sinh và đặc tính cơ bản của bệnh còn điều kiện chỉ có tác dụng làm tăng lên hay cản trở
cho quá trình phát sinh phát triển của bệnh, điều kiện ảnh hưởng đến nguyên nhân [7].
1.3.2 Các loại bệnh:
a. Bệnh do sinh vật gây ra
- Bệnh ký sinh: Chỉ những bệnh do sinh vật ký sinh gây ra:
+ Bệnh vi sinh vật do virus, vi khuẩn, nấm, tảo đơn bào gây ra.
+ Bệnh ký sinh trùng do nguyên sinh động vật, giun sán, đỉa cá, nhuyễn thể, giáp
xác gây ra.
- Bệnh phi ký sinh: cá, tôm bị bệnh do sinh vật gây ra nhưng không phải dưới
hình thức ký sinh, thường do tảo loại gây độc cho cá, tôm, thực vật, động vật hại cá.
b. Bệnh do phi sinh vật
Bệnh gây ra cho cá không phải do sinh vật tác động.
- Do các yếu tố cơ học, hoá học, vật lý tác động.
- Do sự tác động bởi thiếu các chất và điều kiện mà cơ thể cá cần như các chất
dinh dưỡng không đủ, số lượng thức ăn thiếu...
nhiều yếu tố ảnh hưởng và trong quá trình tiến triển của bệnh thay đổi phức tạp.
Thời kỳ phát triển của bệnh do tác động của nhiều yếu tố như: nguyên nhân và
điều kiện gây ra bệnh, sức đề kháng của cá, tôm và con người áp dụng các biện pháp
phòng trị [7]
14
1.3.4 Quá trình cơ bản của bệnh lý
Khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây rối loạn sự hoạt động bình
thường của các cơ quan, hiện tượng rối loạn ấy gọi là hiện tượng bệnh lý, nhiều bệnh
có cùng 1 quá trình bệnh lý thì gọi là quá trình cơ bản của bệnh lý. Các quá trình cơ
bản như: Gây rối loạn sự hoạt động một phần phần của hệ thống tuần hoàn, tụ máu,
Thiếu máu, Chảy máu (xuất huyết), Đông máu, Sự thay đổi thành phần của máu, Hoại
tử cục bộ, Phù và tích nước, Trao đổi chất bị rối loạn, làm cho tổ chức teo nhỏ lại,
Biến đổi về số lượng và chất tế bào, tổ chức cơ thể sinh vật bị viêm [7].
1.3.5 Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh cho thuỷ sản
Động vật thuỷ sản nói chung và cá chình nói riêng đối với môi trường sống là
một thể thống nhất, khi chúng mắc bệnh là kết quả tác động qua lại giữa cơ thể và môi
trường sống. Khi động vật thuỷ sản bị bệnh phải có 3 nhân tố.
- Môi trường sống.
- Tác nhân gây bệnh.
- Vật chủ- động vật thủy sản.
a. Môi trường sống
Các yếu tố môi trường đều là các mối nguy trong nuôi trồng thủy sản, bởi vì tỷ lệ
sống, sinh sản và sinh trưởng của các loài động vật thủy sản phụ thuộc vào môi trường
thích hợp. Có nhiều yếu tố môi trường có khả năng ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy
sản, nhưng chỉ một số ít có vai trò quyết định. Nhiệt độ và độ mặn là giới hạn quan
trọng của cá chình nuôi ở một địa điểm nhất định. Muối dinh dưỡng, độ kiềm tổng số
và độ cứng tổng số cũng là những yếu tố quan trọng. Những yếu tố môi trường khác
ảnh hưởng cho nuôi cá chình là pH, oxy hòa tan- DO, carbonic- CO2, ammoniac- NH3,
động vật thuỷ sản chống được bệnh hoặc dễ mắc bệnh.
Mối quan hệ của các nhân tố gây bệnh khi đủ ba nhân tố 1,2,3 thì cá mới có thể
mắc bệnh (hình 1.5): nếu thiếu 1 trong 3 nhân tố thì động vật thuỷ sản không bị mắc
bệnh. Giữ môi trường nuôi tốt sẽ tăng sức đề kháng với mầm bệnh cho cá, tuy cá có
mang mầm bệnh thì bệnh không thể phát sinh được. Để ngăn cản những nhân tố trên
không thay đổi xấu cho cá thì con người, kỹ thuật nuôi phải tác động vào 3 yếu tố như:
cải tạo ao tốt, tẩy trùng ao hồ diệt mầm bệnh, thả giống tốt, cung cấp thức ăn đầy đủ về
chất và lượng thì bệnh rất khó xuất hiện. Khi nắm được 3 nhân tố trên có mối quan hệ
mật thiết, do đó xem xét nguyên nhân gây bệnh cho cá không nên kiểm tra một yếu tố
đơn độc nào mà phải xét cả 3 yếu tố: môi trường, mầm bệnh, vật chủ. Đồng thời khi
đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh cũng phải quan tâm đến 3 nhân tố trên, nhân tố nào
dễ làm chúng ta xử lý trước. Ví dụ thay đổi môi trường tốt cho động vật thuỷ sản là
một biện pháp phòng bệnh. Tiêu diệt mầm bệnh bằng hoá chất, thuốc sẽ ngăn chặn
được bệnh không phát triển nặng. Cuối cùng chọn những giống cá có sức đề kháng với
những bệnh thường gặp gây nguy hiểm cho cá [7].
16
Hình 1.4. Mối quan hệ giữa các nhân tố gây bệnh: Vùng xuất hiện bệnh
(màu đỏ) có đủ ba yếu tố gây bệnh 1+2+3; Vùng 1+2 bệnh không xảy ra; Vùng
2+3 bệnh không xảy ra; Vùng 1+3
1.3.6 Phân loại một số bệnh
a. Các bệnh truyền nhiễm
Quá trình truyền nhiễm là hiện tượng tổng hợp xảy ra trong cơ thể sinh vật khi có
tác nhân gây bệnh xâm nhập, tác nhân gây bệnh là vi sinh vật: virus, vi khuẩn, nấm,
tảo đơn bào.
Nhân tố để phát sinh ra bệnh truyền nhiễm:
- Có tác nhân gây ra bệnh truyền nhiễm như: virus, vi khuẩn, nấm, tảo đơn bào...
- Sinh vật có mang các tác nhân gây bệnh.