ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
LÊ THỊ HOÀI AN
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM TRONG
GIÁM SÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2009
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
---------------------------
Lê Thị Hoài An
Vai trò của báo chí Việt Nam trong
giám sát quyền lực chính trị thời kỳ đổi mới
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã số
: 60 31 20
Luận văn thạc sỹ Chính trị học
Ng-ời h-ớng dẫn: GS.TS Phùng Hữu Phú
Chƣơng II: Tình hình thực hiện nhiệm vụ giám sát quyền lực chính trị
của báo chí Việt Nam thời kỳ Đổi mới .......................................................... 36
1. Tổng quan về báo chí Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới ................................ 36
1
1.1. Vài nét về tình hình phát triển của báo chí trong thời kỳ Đổi mới ............. 36
1.2. Về quản lý và phát triển báo chí trong thời kỳ đổi mới .............................. 41
1.3. Những tác động của nền kinh tế thị trƣờng đến hoạt động báo chí thời kỳ
Đổi mới............................................................................................................ 43
1.3.1. Những thuận lợi ..................................................................................... 43
1.3.2. Những tác động tiêu cực của kinh tế thị trƣờng đối với báo chí .............. 47
2. Tình hình thực hiện vai trò giám sát quyền lực chính trị của báo chí Việt
Nam trong thời kỳ Đổi mới .............................................................................. 50
2.1. Sự thể hiện vai trò giám sát quyền lực chính trị của báo chí Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới ....................................................................................... 50
2.1.1. Nhận định chung .................................................................................... 50
2.1.2. Tình hình báo chí Việt Nam tham gia giám sát quyền lực chính trị
trong thời kỳ Đổi mới ...................................................................................... 53
2.2. Những hạn chế của báo chí Việt Nam trong việc giám sát quyền lực chính
trị và nguyên nhân ........................................................................................... 75
2.2.1. Hạn chế .................................................................................................. 75
2.2.2. Nguyên nhân .......................................................................................... 82
Chƣơng III: Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cƣờng vai trò giám sát
quyền lực chính trị của báo chí ..................................................................... 86
1. Những yêu cầu cơ bản về sự phát triển của báo chí ...................................... 86
1.1. Phƣơng hƣớng của Đảng và Nhà nƣớc đặt ra đối với báo chí .................... 86
1.2. Phƣơng hƣớng phát triển của báo chí trong giai đoạn tới .......................... 88
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát quyền lực chính trị của
báo chí ............................................................................................................. 89
thiết chế, một bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị, có vai trò tham gia
giám sát quyền lực và phản biện xã hội.
Trong chế độ ta, khi Hiến pháp nƣớc CHXHVN đã trang trọng khẳng
định rằng “tất cả quyền lực Nhà nƣớc thuộc về nhân dân” (Điều 2, Hiến pháp
năm 1992) thì ngƣời dân phải thực sự có đủ năng lực và phƣơng tiện để thực
hiện quyền lực đó của mình trong thực tiễn.
Theo luật pháp hiện hành của nƣớc ta, báo chí và truyền thông có những
chức năng và vai trò rất quan trọng. Trƣớc hết, báo chí và các phƣơng tiện
truyền thông đại chúng có vai trò cung cấp thông tin mọi mặt cho công dân và
cho toàn xã hội (chức năng cung cấp thông tin). Thứ hai, báo chí và các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng có chức năng tuyên truyền chủ trƣơng,
đƣờng lối của Đảng, pháp luật và các chính sách của Nhà nƣớc. Chức năng
thứ ba của báo chí và các phƣơng tiện truyền thông khác là phản ánh mọi mặt
tình hình của đất nƣớc và phản ánh nguyện vọng của tất cả các tầng lớp nhân
4
dân (chức năng cung cấp thông tin cho đầu vào của quá trình chính trị). Và
cuối cùng, báo chí và truyền thông có chức năng giáo dục, định hƣớng dƣ
luận, hành vi của công dân, thông qua việc tôn vinh những giá trị tốt đẹp, nêu
gƣơng những ngƣời tốt, việc tốt, phê bình những hiện tƣợng, việc làm và
những hành vi không tốt, phƣơng hại tới lợi ích của xã hội, cộng đồng và của
công dân. Nhìn nhận dƣới góc độ khoa học chính trị, bốn chức năng cơ bản
của báo chí và truyền thông nói trên đều tập trung vào hai vai trò chủ đạo là xã
hội hóa chính trị và giám sát quyền lực. Hai vai trò này có quan hệ mật thiết
với nhau thống nhất trong hoạt động thực tiễn của báo chí và các phƣơng tiện
truyền thông khác.
Theo phân tích của Anthony Downs thì một trong những yếu tố căn bản
nhất để đảm bảo ngƣời dân trong xã hội hiện đại có năng lực và điều kiện
tham gia/tham dự vào quá trình chính trị chính là sự phát triển của truyền
và đơn vị công tác là Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội. Đồng thời đƣa ra
những giải pháp nhằm giúp các cơ quan báo chí, các nhà báo có sự chủ động,
tích cực nâng cao vai trò trách nhiệm của mình trong việc tham gia vào quá
trình chính trị mà quan trọng hơn hết là giám sát chính trị, góp phần xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về báo chí và đặc biệt là báo chí cách mạng là một trong
những đề tài lớn mà các nhà nghiên cứu về lịch sử cũng nhƣ lý luận báo chí đã
dành nhiều công sức để tổng kết và đánh giá trong rất nhiều công trình khoa
học khác nhau từ trƣớc đến nay. Dƣới góc độ báo chí học đã có những công
trình tiếp cận vấn đề dƣới góc độ lịch sử báo chí, ví dụ các công trình của
Nguyễn Thành (Báo chí cách mạng Việt Nam (1925 - 1945), do Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội xuất bản năm 1984).
Một công trình khác nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam nhƣng ở
giai đoạn trƣớc cách mạng, đó là cuốn “Lịch Sử Báo Chí Việt Nam” của
Huỳnh Văn Tòng, giới thiệu quá trình ra đời và phát triển của báo chí Việt
Nam từ tờ báo đầu tiên cho đến năm 1930, đƣợc Trí Đăng xuất bản năm 1973.
6
Công trình “Lịch sử báo chí Việt Nam (1865 – 1945)” do Đỗ Quang
Hƣng chủ biên, đƣợc Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm
2000, trình bày về lƣợc đồ báo chí Việt Nam giai đoạn thuộc địa, chủ yếu đề
cập đến các dòng báo, các khuynh hƣớng báo chí, mối quan hệ của sự phát
triển báo chí với cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp; sự đụng độ và tiếp xúc văn
hóa Đông Tây trên địa hạt báo chí; những giá trị xã hội, chính trị và văn hóa
của báo chí giai đoạn này.
Cùng với đó là một số cuốn giáo trình lịch sử báo chí của Đỗ Quang
Hƣng và Phạm Đình Lân - Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, và
của báo chí, trong đó có cả vai trò xã hội hóa chính trị và giám sát quyền lực
chính trị của báo chí. Nhƣng chủ yếu nhấn mạnh phƣơng diện xã hội hóa chứ
chƣa có công trình nào trực tiếp bàn về vai trò của báo chí dƣới góc độ giám
sát quyền lực chính trị
Dƣới góc độ nghiên cứu lịch sử Đảng, đáng chú ý là một số nghiên cứu
tổng kết những thành tựu của Đảng sau 20 năm đổi mới, nghiên cứu vai trò
lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn hóa tƣ tƣởng nói chung và báo chí, văn
học nghệ thuật nói riêng, trong đó có “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo
chí trong thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Vũ Tiến (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia năm 2005). Ở góc độ khoa học chính trị và luật pháp thì gần đây có những
bài đăng trên báo hàng ngày phản ánh việc báo chí đƣa tin không chính xác,
hiện tƣợng một số nhà báo vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp
luật.v.v… đã góp phần hâm nóng bầu không khí công luận quan tâm đến vai
trò chính trị của báo chí. Tất cả những công trình trên dù trực tiếp hay gián
tiếp liên quan đến đề tài này ở góc độ khác nhau đều có giá trị tham khảo đối
với nghiên cứu này. Nhƣng qua góc nhìn một cách hệ thống nhƣ trên có thể
thấy chƣa có một đề tài nào trực tiếp đề cập đến đề tài này, và có thể khẳng
định luận văn này không trùng lặp với bất cứ đề tài nào trƣớc đó.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích của Luận văn là bƣớc đầu làm rõ vai trò chính trị của báo chí
Việt Nam trên các phƣơng diện chính:
8
+ Vai trò góp phần giám sát quyền lực chính trị, trong đó chủ yếu là phản
ánh, phê bình các hiện tựơng tiêu cực, lạm quyền của các cơ quan công quyền,
các thiết chế chính trị-xã hội hoặc cá nhân hoặc tình trạng chồng chéo trong
cơ chế, tệ quan liêu hoặc những bất cập mang tính hệ thống của cơ chế chính
trị, hành chính.
pháp lịch sử, logic, phỏng vấn, khảo tả, so sánh, thống kê, tổng hợp, hệ
thống… trong hƣớng tiếp cận căn bản là nghiên cứu văn hóa chính trị.
Do đối tƣợng nghiên cứu ở đây có tính đặc thù rất cao là báo chí và các
loại hình báo chí cho nên bên cạnh những phƣơng pháp nói trên thì tác giả rất
quan tâm đến phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù áp dụng cho báo chí đó là
nghiên cứu so sánh; nghĩa là luôn luôn xem xét vai trò của báo chí trong góc
độ so sánh với mối tƣơng quan gắn bó với những thiết chế chính trị khác.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về phƣơng diện học thuật, trƣớc hết luận văn này hy vọng đƣa lại
những đóng góp ở mức độ nhất định trong việc làm sáng tỏ những khái niệm
công cụ và những nguyên tắc của việc báo chí tham gia giám sát quyền lực
chính trị thông qua vai trò tác nghiệp và hoạt động chuyên môn của mình. Thứ
hai, luận văn bƣớc đầu khôi phục diện mạo và làm sáng tỏ vấn đề: Báo chí
Việt Nam thông qua việc thực hiện tốt cũng nhƣ chƣa tốt chức năng nhiệm vụ
của mình đã tham gia giám sát quyền lực chính trị nhƣ thế nào trong thực tiễn
công cuộc Đổi mới ở Việt Nam hơn 20 năm qua. Thông qua đó phân tích, làm
rõ sự đóng góp của báo chí Việt Nam trong thắng lợi chung mang tính chất
lịch sử của công cuộc đổi mới dƣới sự lãnh đạo của Đảng.
- Về phƣơng diện thực tiễn: Thông qua kết quả nghiên cứu bƣớc đầu
của luận văn này, tác giả mong muốn trƣớc hết thu hoạch đƣợc những kiến
thức cũng nhƣ kinh nghiệm thực tiễn cho hoạt động nghiệp vụ của báo chí nói
chung, cũng nhƣ của bản thân tác giả với tƣ cách là một ngƣời hoạt động trên
lĩnh vực báo chí. Thứ hai, thông qua việc nghiên cứu, công trình này hy vọng
cung cấp một nguồn tƣ liệu nhất định cho công tác quản lý báo chí cũng nhƣ
công tác nghiên cứu, đào tạo về vai trò chính trị của báo chí trong thời kỳ đổi
mới.
10
7. CẤU TRÖC CỦA LUẬN VĂN
trong vòng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị, phù hợp với lợi ích của giai cấp
thống trị. Để thực hiện đƣợc mục tiêu này, giai cấp thống trị đã lập ra bộ máy
bạo lực và sử dụng nó cho việc tổ chức lại xã hội trong một khuôn khổ, theo
một trật tự có lợi cho bản thân họ. Xã hội đƣợc tổ chức lại theo cách thức tổ
chức nhƣ thế đƣợc gọi là Nhà nƣớc.
Vì vậy, nói đến chính trị không thể không nói đến nhà nƣớc. Theo Lênin,
chính trị là sự tham gia vào những công việc nhà nƣớc, là việc vạch hƣớng đi
cho nhà nƣớc, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung cho hoạt
động của nhà nƣớc.
12
Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các
giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ
và thực thi quyền lực nhà nước” [58, 8].
Tuy nhiên, nói đến chính trị nếu chỉ nói đến giai cấp và nhà nƣớc là chƣa
đủ, mặc dù vấn đề giai cấp và vấn đề nhà nƣớc là hai vấn đề cơ bản nhất của
chính trị, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà hoà bình, độc lập, dân tộc,
dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh sống của nhân loại.
Gần đây, sự phát triển của khoa học chính trị phƣơng Tây đã bổ sung và
làm cho khái niệm về chính trị trở nên phong phú hơn. Theo đó, chính trị
đƣợc hiểu là “tất cả các hoạt động của con người nhằm xác lập những chế
định bắt buộc chung đối với nhóm hoặc giữa các nhóm người” [56, 58].
Chúng tôi xem đây là một cách hiểu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu
này.
+ Hệ thống chính trị, hiểu theo cách chung nhất theo quan niệm chính trị
học phƣơng Tây hiện đại là “một tiểu hệ thống của xã hội đảm nhiệm chức
năng tạo ra các chế định bắt buộc cho xã hội đó. Về nguyên tắc hệ thống
chính trị bao gồm hệ thống chính quyền, nghị viện, các Đảng phái, các nhóm
phản kháng của ngƣời khác.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì đó là quyền lực của một giai cấp hay liên
minh giai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức
năng công quyền, cơ bản bằng quyền lực nhà nước, là năng lực áp đặt và
thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảm
bảo mức độ nhất định sự công bằng xã hội [58, 219]. Trên thực tế quyền lực
chính trị hiểu một cách cụ thể nhất, đƣợc thể hiện ở ba loại quyền gắn với
những bộ phận cốt lõi của hệ thống chính trị đó là quyền lập pháp, tƣ pháp và
hành pháp. Trong các hệ thống chính trị phƣơng Tây, báo chí đƣợc coi là
quyền lực thứ tƣ - quyền giám sát ba quyền trên. Trong điều kiện Việt Nam,
ba quyền đó không phân biệt rạch ròi mà đƣợc tích hợp vào nhau dƣới một sự
lãnh đạo cao nhất đó là vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Do vậy
quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị Việt Nam phải đƣợc hiểu là quyền
lực của nhân dân, nói nhƣ Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi quyền lực thuộc về
14
nhân dân”. Quyền lực chính trị của nhân dân đƣợc thể chế hóa thông qua vai
trò lãnh đạo của Đảng, các cơ quan dân cử, hệ thống chính quyền và các bộ
phận khác của hệ thống chính trị.
Trong hệ thống chính trị nƣớc ta, các quan hệ chính trị đƣợc xác lập do
một cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo): Đảng lãnh đạo, nhân dân
làm chủ, Nhà nƣớc quản lý.
Đảng lãnh đạo bằng các cƣơng lĩnh, đƣờng lối, chủ trƣơng, thông qua các
nghị quyết của các tổ chức Đảng, từ nghị quyết đại hội Đảng đến nghị quyết
chi bộ cơ sở. Đƣờng lối cƣơng lĩnh của Đảng đƣợc thể chế hóa trong hiến
pháp và pháp luật, trong hệ thống văn bản pháp quy của nhà nƣớc. Lãnh đạo
bằng giáo dục, tuyên truyền, vận động, nêu gƣơng, bằng công tác tổ chức và
cán bộ, bằng công tác kiểm tra.
Nhân dân làm chủ, trƣớc hết đƣợc xác định ở địa vị chủ thể quyền lực
chế định bắt buộc bao gồm các quy ƣớc, quy định, tiêu chí ứng xử chính trị,
đƣờng lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nƣớc.v.v… đƣợc ngƣời dân,
xã hội nhận thức, hiểu đúng và làm theo. Thực ra đó là quá trình tuyên truyền,
phổ biến nhận thức của hệ thống chính trị đối với xã hội, giải thích vì sao
ngƣời ta phải tuân theo cái này mà không tuân theo cái kia. Do vậy cái cốt lõi
của xã hội hóa chính trị hiện đại chính là quá trình tuyên truyền, cổ động hay
vận động và cƣỡng chế xã hội… đó là chiều xuôi từ phía hệ thống chính trị.
Còn ở chiều ngƣợc, ngƣời dân có nhu cầu nắm đƣợc thông tin, sau đó
bày tỏ ý nguyện để xã hội biết họ muốn gì ở hệ thống chính trị, tìm cách tác
động vào quá trình chính trị để ý nguyện cuả họ đƣợc thể hiện ở đầu ra của
quá trình chính trị. Trên thực tế, từ khi có xã hội loài ngƣời đƣợc tổ chức
thành nhà nƣớc dƣới bất kỳ hình thức nào thì đã xuất hiện xã hội hóa chính
trị. Quá trình này đƣợc thể hiện một cách giản đơn ở trong xã hội nguyên
thủy. Ví dụ thời vua Hùng, truyền thuyết cho thấy mỗi khi có giặc đến vua sai
sứ giả đi loan truyền trong khắp thiên hạ để tìm ngƣời giúp nƣớc. Hoặc trong
mỗi bộ lạc đều định ra một số quy ƣớc nhất định nào đó mà những ngƣời
trong bộ lạc bắt buộc phải tuân theo. Phƣơng pháp xã hội hóa chính trị ấy có
16
thể xem là thô sơ, đơn giản nhất, chủ yếu thông qua hình thức truyền miệng,
truyền tín hiệu.v.v…
Khi xã hội phát triển, nhu cầu của con ngƣời về thông tin ngày càng
tăng, lƣợng thông tin cũng ngày càng phong phú và đồ sộ hơn. Ngƣời ta
không thể trông đợi vào những hình thức thông tin thô sơ đơn giản nhƣ trƣớc
nữa, mà cần đƣợc cung cấp thông tin nhanh nhạy, đầy đủ, kịp thời hơn. Do
vậy, phải có báo chí và truyền thông. Trong xã hội hiện đại, phƣơng tiện
truyền thông đại chúng lại trở thành công cụ của hệ thống chính trị và của
ngƣời dân. Trƣớc hết là ở chiều xuôi, báo chí truyền thông đƣợc hệ thống
Một cách giản dị hơn, quá trình chính trị là quá trình mà hệ thống chính
trị thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Là quá trình các cơ quan lập
pháp, hành pháp, tƣ pháp thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình trên cơ
sở vừa độc lập tƣơng đối vừa có quan hệ biện chứng với nhau …Hoặc có thể
nói “Qúa trình chính trị là tất cả những quá trình hành động, được dẫn dắt
hay thúc đẩy bởi bất kỳ động cơ hay lợi ích nào, để thông qua đó xác lập nên
những chế định bắt buộc cho xã hội”.[56, 81-82]
Trong mỗi chế độ chính trị và với mỗi hệ thống chính trị, các quá trình
này diễn ra theo những phƣơng thức khác nhau. Điều này không những phụ
thuộc vào bản chất của chế độ và hệ thống chính trị mà còn phụ thuộc vào cấu
trúc của hệ thống chính trị. Ví dụ trong chế độ chuyên chế, độc tài thì hệ
thống chính trị tự cho rằng nó có quyền áp đặt các chế định bắt buộc cho xã
hội. Do đó, thủ lĩnh độc tài và hệ thống chính trị hoàn toàn chế ngự quá trình
hình thành ý chí chính trị, và ngƣời dân bị gạt ra khỏi quá trình đó, ý nguyện
của họ không đƣợc hệ thống chính trị đếm xỉa tới nên kết quả là thậm chí
ngƣời dân trở nên thờ ơ với chính trị.
Còn trong chế độ dân chủ, các quá trình hình thành ý chí chính trị đƣợc
diễn ra theo những quy trình pháp định. Tại đó, việc trƣng cầu dân ý, thu thập
ý nguyện dân chúng cho các quyết sách đƣợc luật pháp quy định chặt chẽ và
buộc tất cả các đảng phái cầm quyền phải tuân theo. Ngoài các quy trình pháp
định đó, còn có nhiều quy trình và các “kênh” để ngƣời dân có thể tham dự
trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình hình thành ý chí chính trị. Họ có thể trực
18
tiếp bày tỏ quan điểm của mình bằng cách sử dụng những quyền hợp pháp
nhƣ quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, biểu tình… hoặc tìm cách chuyển
tải ý nguyện của mình tới các thiết chế đầu vào thông qua truyền thông đại
chúng…
+Văn hóa chính trị chính là cái “hồn” của toàn bộ môi trƣờng chính trị.
điều kiện để ngƣời dân hiểu rõ về chủ trƣơng đó. Và không chỉ là cung cấp
thông tin mà qua đó, báo chí còn giúp ngƣời dân giám sát việc thực thi chủ
trƣơng đƣờng lối lãnh đạo của hệ thống chính trị. Chẳng hạn một Đảng chính
trị lên cầm quyền, nếu không thực hiện đúng những lời hứa với dân trƣớc đó
hoặc làm sai với cƣơng lĩnh mà Đảng đó đặt ra thì sẽ bị mất uy tín chính trị.
Chính báo chí truyền thông sẽ giúp cho ngƣời dân nắm đƣợc những thông tin
mà họ quan tâm. Báo chí cung cấp cho ngƣời dân công cụ quan trọng nhất để
họ thể hiện quyền tự do dân chủ của mình, đó chính là quyền đƣợc nắm thông
tin. Nếu không có thông tin họ sẽ không thể biết đƣợc hệ thống chính trị thực
thi đƣờng lối đúng hay sai, cũng nhƣ bản thân họ có nắm đƣợc và thực hiện
đúng pháp luật và các chế định bắt buộc của xã hội đó hay không.
Hơn nữa, trong xã hội hiện đại ngày nay, khi nhu cầu thông tin ngày càng
phát triển, vai trò làm chủ của ngƣời dân trong xã hội đƣợc đề cao, báo chí
còn là diễn đàn ngôn luận của ngƣời dân, để họ có thể nói lên tiếng nói và
nguyện vọng của mình đối với hệ thống chính trị. Thông qua việc đấu tranh
chống tiêu cực, tham nhũng, chống những thói hƣ tật xấu trong xã hội, báo chí
đã thể hiện vai trò giám sát quyền lực của mình, phản ánh tiếng nói và nguyện
vọng của ngƣời dân để góp phần lên án những cái xấu, cái bất cập còn tồn tại
trong hệ thống chính trị. Không phải cứ phê phán những biểu hiện lạm quyền,
tiêu cực của hệ thống chính trị hay một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính
trị đó mới là thể hiện sự giám sát quyền lực, ngay cả việc thông tin những vấn
đề thoạt nhìn tƣởng không liên quan đến chính trị mà liên quan đến các vấn đề
xã hội, ví dụ nhƣ những biểu hiện sa đọa của thế hệ trẻ, của học sinh sinh viên
trong xã hội… cũng là thể hiện vai trò giám sát quyền lực chính trị. Qua hiện
tƣợng bề nổi đơn thuần ấy, báo chí sẽ đề cập và phân tích ở góc độ xã hội
quản lý thế hệ trẻ nhƣ thế nào, nhà trƣờng và gia đình có trách nhiệm với con
20
em mình ra sao, các quy định của luật pháp đối với việc giáo dục thanh thiếu
chính trị nào đó, hoặc góp phần làm thay đổi diện mạo đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội của quốc gia, hay vùng lãnh thổ, khu vực…
Với đặc điểm chính trị “đa nguyên, đa đảng”, ở các nƣớc phƣơng Tây,
báo chí ngày càng theo xu thế độc quyền. Ví dụ ở Anh, một trong những quốc
gia có truyền thống báo chí vào loại lâu đời nhất ở Châu Âu, có tới 4 công ty
độc quyền thông tin đại chúng kiểm soát 80% toàn bộ thông tin báo chí nƣớc
Anh. Và tình trạng này cũng diễn ra ở một số nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Pháp,
Italia.v.v…Ở các nƣớc này, tuyệt đại bộ phận thông tin, báo chí nằm trong tay
những công ty độc quyền có quan hệ chặt chẽ hoặc bị chi phối bởi thế lực tƣ
bản tài chính - thế lực cầm quyền thực tế dƣới danh nghĩa của các đảng phái
chính trị. Và theo quy luật của chủ nghĩa tƣ bản, ai nắm tiền và nắm quyền, kẻ
ấy sẽ chi phối báo chí. Chính bởi vậy, các ông chủ tƣ bản đỡ đầu cho những
đảng chính trị đều muốn bỏ tiền ra mua những tờ báo, đài phát thanh truyền
hình lớn để uy tín chính trị của họ đƣợc củng cố, ảnh hƣởng lớn hơn đến các
tầng lớp nhân dân. Báo chí của các đảng này có quyền tự do dân chủ, tuyên
truyền phản ánh những gì có lợi cho đƣờng lối chính sách mà đảng đó đại
diện. Các giai cấp, các chính đảng ở các nƣớc này luôn tìm cách nắm báo chí
để thực hiện đƣờng lối chính trị của mình. Quyền lực của báo chí đƣợc các
Đảng chính trị “đỡ đầu”, do vậy nó có ảnh hƣởng rất lớn đến nền chính trị xã
hội của quốc gia và có thể phần nào đó can thiệp trực tiếp đến đƣờng lối chính
trị, kinh tế, xã hội của Đảng cầm quyền.
Khác với Phƣơng Tây, chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ một Đảng
cầm quyền. Do vậy quyền lãnh đạo báo chí đƣơng nhiên thuộc về Đảng Cộng
sản Việt Nam. Tất nhiên ở Việt Nam báo chí không phải không có những
quyền nhất định. Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí
đƣợc Quốc hội nƣớc CHXH chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 5
Quốc hội khóa X nêu rõ: “Báo chí có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với
lợi ích của đất nước và của nhân dân;
xây dựng nền văn hóa và con ngƣời Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất
nƣớc, rút ra những ƣu và nhƣợc điểm của văn hóa và con ngƣời Việt Nam,
23