BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............
LÊ THỊ DUNG
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI VÙNG
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẬP TRUNG VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Ở HUYỆN ỨNG HÒA, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............
LÊ THỊ DUNG
Lời cảm ơn
Với tấm lòng chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô
hướng dẫn TS. Phan Thị Vân, người đã định hướng tôi, tận tình chỉ dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến cán bộ và thầy cô Viện nghiên cứu nuôi trồng
thủy sản I, Viện sau đại học Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tham gia giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng học tập và nghiên cứu. Tôi cũng xin cảm
ơn tới KSC. Nguyễn Hưng Dũng và các anh chị em phòng Phân tích Ứng dụng Viện
Hóa Học đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực tập tại Viện
Nhân đây tôi xin bày tỏ lời cám ơn tới những hộ dân nuôi cá đã giúp đỡ
tôi trong quá trình thu mẫu và nắm bắt hiện trạng vùng nuôi.
Sự động viện, giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ tôi rất nhiều,
tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng con xin ghi nhớ ơn dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ và sự ủng
hộ của người thân trong gia đình để con có ngày hôm nay.
Tác giả luận văn
Lê Thị Dung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... vi
Đặc điểm môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản ............................ 9
1.5.1.
pH ...................................................................................................... 10
1.5.2.
Oxy hòa tan (DO) ................................................................................ 11
1.5.3.
Tiêu hao oxy hóa học (COD)............................................................... 11
1.5.4.
Nitrite (NO2-)....................................................................................... 12
1.5.5.
Đạm nitrate (NO3-) .............................................................................. 12
1.5.6.
Nhu cầu oxy sinh hóa – BOD .............................................................. 13
1.5.7.
Hàm lượng đạm amoni (NH4+) ............................................................ 13
1.6.2.
Đặc điểm địa hình ............................................................................... 19
1.6.3.
Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Ứng Hòa, Hà Nội ........................... 20
1.6.4.
Tình hình nuôi trồng thủy sản tại khu vực nghiên cứu ......................... 20
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 24
2.1.
Đối tượng và thời gian nghiên cứu ...................................................... 24
2.2.
Nội dung nghiên cứu ........................................................................... 24
2.3.
Địa điểm nghiên cứu ........................................................................... 24
2.4.
Cách chọn mẫu và lấy mẫu .................................................................. 24
2.5.
Tình hình quản lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản tại khu vực
nghiên cứu........................................................................................... 32
3.2.
Hiện trạng chất lượng nước tại nguồn nước cấp cho vùng nuôi
trồng thủy sản tập trung của khu vực nghiên cứu ................................. 32
3.3.
Hiện trạng chất lượng nước ao nuôi công nghiệp và ao nuôi kết hợp ...........36
3.3.1.
Giá trị pH ............................................................................................ 36
3.3.2.
Oxy hòa tan ......................................................................................... 37
3.3.3.
Hàm lượng oxy tiêu hao hóa học (COD) ............................................. 39
3.3.4.
Hàm lượng oxy sinh hóa (BOD) .......................................................... 40
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 50
1.
Thực trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập
trung xã Phương Tú, Ứng Hòa, Hà Nội ........................................ 50
2.
Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước tai vùng nuôi
trồng thủy sản tập trung ....................................................................... 50
3.
Kiến nghị ........................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
TÊN BẢNG
Trang
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTC: Bán thâm canh
BOD: Nhu cầu oxy sinh hóa
COD: Nhu cầu oxy hóa học
DO: Oxy hòa tan
GTSX: Giá trị sản xuất
KTTS: Khai thác thủy sản
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
QCCT: quảng canh cải tiến
TC: thâm canh
TCCLN: tiêu chuẩn chất lượng nước
TTBQ: tăng trưởng bình quân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản Hà Nội những năm gần đây phát triển nhanh chóng,
tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống cho nhiều người lao động ở các huyện
ngoại thành. Cụ thể diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2103 đạt 20.800 ha, tăng
4,5% so với năm 2012; Sản lượng cá đạt 75.000 tấn, tăng 4,9% so với năm 2012.
Tuy nhiên sự phát triển nuôi trồng thủy sản một cách tự phát, ồ ạt đã dẫn đến
nhiều vấn đề bất cập mà đáng quan tâm nhất là vấn đề về môi trường, dịch bệnh.
Theo những điều tra gần đây cho thấy hầu như tất cả những ao nuôi của các hộ
trồng thủy sản chính tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung;
2.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước trong ao nuôi ở vùng
nghiên cứu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Trong những năm qua, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Việt Nam đã có bước
phát triển mạnh mẽ, thu được những thành tựu to lớn, góp phần giảm nghèo, tạo
thu nhập và công ăn việc làm cho một bộ phận lực lượng lao động ở nông thôn,
đóng góp tích cực cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
NTTS được đánh giá là một trong những ngành sản xuất có tốc độ tăng
trưởng rất nhanh (bảng 1.1). Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta thực sự
khởi sắc từ năm 1990 và đến năm 2000 – 2002 thì bùng phát cả về diện tích lẫn
đối tượng nuôi [1]. Việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản được tiến hành
chủ yếu trên các vùng đất ngập nước ven biển, trong các thủy vực nước mặn ven
bờ, trên các vùng cát trũng thấp ven biển miền Trung và một phần diện tích từ
canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản.
Theo thống kê của Tổng cục thủy sản, năm 1994, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng
và khai thác nội địa mới chỉ đạt 397,168 tấn, chiếm 30.86% tổng sản lượng thủy
sản. Đến năm 2006, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1,69 triệu tấn; năm 2007
đạt 2,12 triệu tấn, chiếm trên 50% tổng sản lượng thuỷ sản. Đến năm 2011, tổng
sản lượng sản phẩm thủy sản đã đạt xấp xỉ 5.3 triệu tấn với giá trị kim ngạch xuất
khẩu của toàn ngành đạt 6.18 tỷ USD trong đó sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt
3.052 triệu tấn chiếm 58% tổng sản lượng. Hiện nay, NTTS đang đóng vai trò vô
cùng quan trọng đối với kinh tế - xã hội với kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
Page 3
Bên cạnh những thành tựu quan trọng, NTTS nước ta cũng đang phải đối
mặt với một số vấn đề tồn tại về môi trường, dịch bệnh. Biểu hiện rõ nét là tình
hình bệnh thủy sản và môi trường suy thoái có chiều hướng gia tăng. Việc tăng
diện tích và sản lượng NTTS cũng tỷ lệ thuận với việc suy giảm chất lượng môi
trường nuôi và diện tích thủy sản bị bệnh.
Hình 1.1: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới và Việt Nam
(Nguồn FishstatJ – FAO fishery and Aquaculture Global Statistics, 2013)
1.2 Tiềm năng và hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của Thành phố Hà Nội
Trong thời gian gần đây, phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) tại Hà Nội
ngày càng được chú trọng và đầu tư mạnh nhằm mục tiêu hướng tới phát triển
bền vững, mang lại hiệu quả cho nông dân. Với tổng diện tích mặt nước có khả
năng NTTS là 30.840 ha, năm 2013 diện tích NTTS của Thành phố đạt 20.800 ha
(tăng 15,8 % so với năm 2008), sản lượng đạt 75.000 tấn (tăng 23,2 % so với
năm 2009). Bên cạnh đó NTTS còn có nhiều thuận lợi về thị trường tiêu thụ sản
phẩm do hiện nay sản lượng thủy sản mới đáp ứng được 25-30 % nhu cầu tiêu
thụ của Thành phố
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Bảng 1.2. Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản thành phố Hà Nội
ĐVT: sản lượng: tấn; diện tích: ha
TT
41.484
56.735
62.131
70.488
75.000
2
Diện tích NTTS
19.519
20.554
20.668
20.707
20.800
18.045
Nguồn: Báo cáo Chi cục Thủy sản Hà Nội (2008-2013)
Việc tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản phản ánh quá trình chuyển đổi từ
một ngành sản xuất nhỏ lẻ hướng tới mở rộng quy mô phát triển sản xuất sản phẩm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
TTBQ
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
(%/năm)
Nuôi tôm
15157
7,5
9,5
12,5
20
11
11
7,5
-
Nuôi thủy sản khác
8,5
11
10,5
5
Trong giai đoạn 2005 – 2011, diện tích nuôi cá vẫn chiếm đa số diện tích
NTTS (99% diện tích nuôi), diện tích còn lại dành cho ương giống, nuôi tôm (tôm
càng xanh) và nuôi các đối tượng thủy sản khác. Trong các đối tượng cá nuôi thì các
đối tượng chủ yếu vẫn là cá truyền thống (trắm cỏ, chép, trôi, mè, rô phi,...).
Mùa vụ nuôi:
Mùa vụ nuôi thường căn cứ vào đặc điểm thời tiết và đặc điểm sinh học
của các đối tượng nuôi. Nhìn chung mùa vụ nuôi thủy sản nước ngọt thường
được bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4 và kéo dài đến hết năm. Thời điểm thu
hoạch cá vào các tháng 12 hay tháng 1 hoặc tháng 2 (năm sau). Tuy nhiên, để
tránh việc thu hoạch cá vào một thời điểm dẫn đến giảm giá thành sản phẩm vì
vậy nhiều vùng nuôi áp dụng phương pháp đánh tỉa, thả bù nên thực tế thu hoạch
cá được diễn ra quanh năm. Nhiều hộ nuôi sử dụng cỡ giống lớn hoặc sử dụng
một số ao ương, khi cá đạt cỡ giống lớn sẽ chuyển sang ao nuôi thương phẩm
như vậy một năm có thể thu hoạch 3 – 4 lần. Nhiều trang trại và hộ nuôi cá theo
mô hình nuôi kết hợp nên mùa vụ nuôi thực tế không rõ ràng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
1.3. Tình hình ô nhiễm nguồn nước bề mặt dùng trong nuôi trồng thủy sản
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa
học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật và làm giảm tính đa dạng
sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm
nước đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất [17].
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hóa chất độc hại, các loại vi
khuẩn gây bệnh, virut, ký sinh trùng từ các nguồn chất thải khác nhau như chất
thải từ các nhà máy sản xuất công nghiệp, các loại chất thải bệnh viện, rác thải từ
m3/ngày, hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25%
lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải, lượng rác
thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200 m3/ngày đang xả vào các khu đất
ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hòa tan, NH4+, NO2-,
NO3- ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép [17].
Các số liệu thống kê cho thấy các nguồn thải ở Hà Nội rất đa dạng và số
lượng chất thải không ngừng tăng lên theo tốc độ phát triển công, nông nghiệp
cũng như tốc độ tăng dân số. Theo số liệu thống kê, Hà Nội có 178 nguồn thải.
Mật độ nguồn thải ở Hà Nội là 0,195 nguồn/km, gấp 20 lần mức trung bình toàn
quốc [10.1]. Khảo sát của Cục Bảo vệ môi trường cho thấy: Nguồn nước mặt ở
các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là các con sông thoát nước
thải như sông Nhuệ và sông Tô Lịch. Hàm lượng amonia tại các điểm đo được
trên các sông nội thành vượt trên 20mg/l, hàm lượng NO2- đo được từ 0,7 – 1,5
mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép 15 – 30 lần, mật độ coliform cao gấp hàng
chục lần.
Bên cạnh nước thải y tế, nước thải sinh hoạt cũng là nguồn ô nhiễm cho
môi trường nước. Trong sinh hoạt hàng ngày, con người cũng thải vào môi
trường một lượng chất thải đáng kể và đấy cũng là một trong những nguy cơ gây
ô nhiemx nguồn nước bè mặt. Tập quán sử dụng phân chuồng trong nuôi cá vẫn
còn phổ biến ở nhiều nơi cũng là nguồn ô nhiễm môi trường nước.
1.4. Hiện trạng nguồn nước cấp cho các vùng nuôi trồng thủy sản trên địa
bàn Hà Nội
Hiện nay, nguồn nước cấp để sử dụng trong NTTS trên địa bàn Hà Nội chủ
yếu được lấy từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ; tại một số vùng NTTS, được
lấy từ sông Đà và các hồ chứa lớn.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
được sống lâu, cá và các sinh vật khác sống dưới nước cần có nước chất lượng
tốt để sống khỏe mạnh. Đã từ lâu, người ta đều biết rằng chất lượng nước, mầm
bệnh và sức khỏe của các loại thủy sản có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi
nước có chất lượng tốt, các tác nhân gây bệnh không có điều kiện thuận lợi để
phát triển và gây bệnh cho vật nuôi. Ngược lại, khi nguồn nước bị ô nhiễm sẽ tạo
điều kiện cho các mầm bệnh phát triển mạnh, gây bệnh cho các loại thủy sản làm
cho chúng dễ bị mắc bệnh và chết [5].
Môi trường nước trong ao nuôi bao gồm tổng thể các mối quan hệ của các
yếu tố vật lý, hóa học và sinh học. Các yếu tố này tác động và có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Sự biến động của yếu tố này sẽ kéo theo sự biến động của các
yếu tố khác. Arnold et al (1992) đã phân loại đặc điểm môi trường ao nuôi ra
thành nhiều nhóm. Trong đó đặc tính vật lý và kết hợp của vật chất bao gồm các
yếu tố độ trong, độ đục, vật chất lơ lửng và hòa tan; thành phần vô cơ phi kim
loại như là CO2, TAN, NO2-, PO43-, …; thành phần hữu cơ kết hợp bao gồm
COD, BOD, tannin …; và các thông số đánh giá sinh học như vi khuẩn,
chlorophyll-a, phytoplankton, zooplankton …
Tuy nhiên, dù các thông số trên được phân chia thế nào thì chất lượng môi
trường ao nuôi cũng đều do các yếu tố trên quyết định, từ đó sẽ có những ảnh
hưởng ít nhiều đến đời sống của đối tượng nuôi. Mỗi đối tượng đòi hỏi một điều
kiện môi trường có chất lượng khác nhau để thích nghi. Các yếu tố này luôn luôn
biến đổi và chịu sự chi phối bởi sự tác động bên ngoài.
1.5.1. pH
Theo Lê Văn Cát và ctv. (2006), Boyd (1990) thì khoảng tối ưu cho tôm
cá nước ngọt phát triển và sinh sản là từ 6,5 – 9,0. Điểm chết đối với chúng là pH
cơ trong thủy vực. COD quan hệ tỷ lệ thuận với các hợp chất hữu cơ, các hợp
chất hydrocarbon trong nước. Các hợp chất này có thể bị oxy hóa 95 – 100% và
khả năng oxy hóa phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng ion Cl- trong nước. Khi hàm
lượng ion Cl- hiện diện cao thì hầu như quá trình oxy hóa này ít được xảy ra
(Aronol et al., 1992).
Theo Lê Như Xuân và ctv. (1994) thì COD thích hợp cho các ao nuôi cá là
15 – 30 ppm, giới hạn cho phép là 15 – 40 ppm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
1.5.4. Nitrite (NO2-)
Nitrite là dạng đạm độc, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của cá
khi nồng độ trong nước cao. Độ độc nitrite phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ oxy
hòa tan, pH, mức độ nhiễm bẩn, … (Nguyễn Đình Trung, 2004). Nitrite (NO2-)
trong nước có thể do các nguồn ô nhiễm xâm nhập vào hoặc là hợp chất trung
gian của quá trình phân hủy sinh ra từ ammoniac thành nitrat. Nó cũng là tác
nhân gây độc đối với động vật thủy sinh (Lê Văn Cát và ctv., 2006).
Hàm lượng nitrite (NO2-) thích hợp cho ao nuôi cá < 0,3 mg/l và nirat
(NO3-) là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc
hại đối với thủy sinh vật là 0,2 – 10 mg/l (Boyd, 1998). Theo Boy, 1998 thì trong
ao nuôi cá nheo có thay nước hàm lượng nito tổng và COD tăng theo thời gian
nuôi, trong đó nito ở dạng nitrite và nitrate không vượt quá 0,05 mg/l và
ammonia tổng không vượt quá 0,75 mg/l. Trong thủy vực tự nhiên độc tính của
nitrite trong ao sẽ giảm xuống nếu có mặt ion Cloride (Boy, 1998).
Hàm lượng Nitrite (NO2-) được hình thành chủ yếu bởi quá trình nitrite hóa
từ tổng đạm amôn (TAN). NO2- sinh ra từ quá trình oxy hóa NH4+ dưới tác động của
vi khuẩn Nitrosomonas, như vậy NO2- chỉ tăng lên khi có NH4+ và vi khuẩn nitrite
phân vô cơ và hữu cơ trong nước. Tất cả các chất này đều phải trải qua quá trình
amôn hóa để chuyển thành NH3 và NH4+ nhờ nhiều vi sinh vật hiếu khí và kỵ
khí. NH3 có độc tính cao hơn NH4+ từ 300 – 400 lần. Nồng độ gây chết đối với cá
của NH3 là 0,5 – 1,0 mg/l (Nguyễn Đình Trung, 2004).
Theo Colt và Amstrong (1979) thì tác động độc hại của NH3 đối với vật
nuôi là: Khi NH3 trong nước quá cao làm cho NH3 trong dịch máu khó tiết ra môi
trường ngoài, làm lượng NH3 trong máu và các mô gia tăng, dẫn đến làm tăng pH
máu. Từ đó, làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu của màng tế bào,
phá hủy lớp nhớt ở mang, giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin.
Thông thường thì NH4+ sẽ được tảo sử dụng, khi ao có ít tảo ammonia sẽ
được tích lũy lại. Nồng độ NH4+ cao là đặc trưng cho những ao có lượng chất
hữu cơ lớn, mật độ thả cao và tảo hoạt động không bình thường (Nguyễn Đình
Trung, 2004).
1.5.8. Tổng đạm amôn (TAN)
Tổng đạm amôn bao gồm NH3 và NH4+ trong đó NH4+ là dạng phân đạm
cần thiết cho sự phát triển của thực vật, nó thúc đẩy sự phát triển mạnh của tảo
trong các ao nuôi. Khi cơ thể động vật đồng hóa protein trong thức ăn thì một
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
phần chuyển thành ammoniac và được bài tiết vào trong nước. Nồng độ NH3
trong ao nuôi tỷ lệ thuận với lượng thức ăn sử dụng (Lê Văn Cát và ctv., 2006).
Đạm amôn còn được sinh ra trong nước do quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ
có chứa nito.
1.5.9. Photpho tổng số hòa tan
Photpho là nguyên tố giới hạn cho sự phát triển phiêu sinh thực vật trong
hệ thống ao nuôi thủy sản (Boyd, 1990) và nếu trong thủy vực tự nhiên có nhiều
trong đời sống, chẳng hạn các loại pin thủy ngân, nhiệt kế, bình thủy, đèn neon
(dạng hơi), thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, … Nguồn gây ô nhiễm Hg ra môi
trường đến từ các nhà máy điện đốt than; các lò đốt rác thải; những nơi khai thác
thủy ngân, vàng, đồng, kẽm, bạc; các hoạt động luyện kim; thải bỏ các nhiệt kế
và từ đốt rác thải y tế. Riêng chất thải từ các thiết bị y tế có thể giải phóng
khoảng 5% tổng lượng thủy ngân được thải ra trong nước thải [36].
Trong môi trường nước biển, các loài vi khuẩn ưa mặn sẽ biến đổi thủy
ngân vô cơ (ít độc) thành thủy ngân hữu cơ (methyl mercury) có độc tính cao.
Các loài thủy sinh có thể hấp thu thủy ngân hữu cơ và tích tụ trong cơ thịt của
chúng với nồng độ lớn hơn hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong môi trường nước
chúng đang sống [8]. Hơn 95% hàm lượng thủy ngân trong cơ thịt thủy sản ở
dạng methyl thủy ngân. Con người là chuỗi mắt xích cuối cùng nhiễm thủy ngân,
sau khi ăn các loài cá nhiễm chất này.
Khi xâm nhập vào cơ thể, thủy ngân có thể liên kết với những phân tử như
nucleic acid, protein … làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế
bào. Sự nhiễm độc thủy ngân gây nên những thương tổn trung tâm thần kinh với
triệu chứng run rẩy, khó khăn trong diễn đạt, giảm sút trí nhớ … và nặng hơn nữa
có thể gây tê liệt, nghễnh ngãng, nói lắp. Nếu nhiễm độc thủy ngân qua đường ăn
uống với liều cao, một thời gian sau (có thể từ 10 – 20 năm) sẽ gây tử vong. Liều
gây chết của Hg là 1 gram, liều gây ngộ độc cấp tính, thường dẫn đến tử vong là
150 – 200 mg, gây ngộ độc mãn tính sau vài tuần là 0,4 – 0,5 mg/24 giờ và liều
có thể gây nhiễm độc mãn tính là 0,007mg/24 giờ [8].
1.5.11. Chì (Pb)
Chì ở dạng muối như axetat chì, cacbonat chì … rất nguy hiểm bởi độc tính
của chúng rất cao. Chất thải công nghiệp sản xuất chì đã làm ô nhiễm đất, nước và
không khí, rồi gây nhiễm độc cho người qua dây truyền lương thực và thực phẩm.
Chì có mặt trong tất cả các đại dương trên thế giới với hàm lượng cao, do hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp