BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------o0o----------
NGUYỄN BÁ PHƯỚC
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DIỆT KHUẨN IN VITRO CỦA DỊCH CHIẾT LÁ
CÂY HUYỀN DIỆP (POLYALTHIA LONGIFOLIA VAR.PENDULA HORT)
TRÊN VI KHUẨN E.COLI, SALMONELLA SPP PHÂN LẬP TỪ PHÂN CHÓ
TIÊU CHẢY VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ.
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ
: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. NGUYỄN VĂN THANH
2. TS. NGUYỄN THANH HẢI
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chưa được sử dụng công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
- Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Phước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình
vii
PHẦN I MỞ ĐẦU
1
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
2.1
Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn
4
2.2
Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới và
Việt Nam
6
2.2.1
Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới
6
2.2.2
Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam
7
2.3
2.4
Bệnh viêm ruột tiêu chảy trên chó
12
2.4.1
Định nghĩa bệnh viêm ruột tiêu chảy
13
2.4.2
Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột tiêu chảy
13
2.4.3
Một số nghiên cứu về vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy trên chó
17
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
21
3.3
Nội dung nghiên cứu
22
3.4
Phương pháp nghiên cứu
22
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
28
4.1
Kết quả kháng sinh đồ xác định tính mẫn cảm, tính kháng thuốc của vi
khuẩn thử nghiệm.
28
4.2
Hiệu suất chiết xuất lá Huyền diệp bằng các dung môi khác nhau
40
Đánh giá khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết trên vi khuẩn
E.coli và Salmonella có chứa plasmid mang gen kháng kháng sinh.
4.6
43
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá cây Huyền diệp
trong dung môi chloroform khi pha loãng.
4.7
47
Sử dụng cao dịch chiết lá Huyền diệp điều trị thử nghiệm trên chó bị
bệnh tiêu chảy.
49
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
52
5.1
Kết luận
52
DMSO
Dimethyl sulfoxide
3
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
4
LB
Luria Bertani
5
PƯ
Phản ứng
6
ET
Ethanol
7
Dtb
Đường kính vòng vô khuẩn trung bình
13
Đ/c DMSO
Đối chứng Dimethyl sulfoxide
14
MIC
Nồng độ ức chế tối thiểu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
4.3
34
Kết quả định tính xác định một số nhóm hoạt chất có trong dịch chiết
lá Huyền diệp
4.4
35
Tác dụng diệt khuẩn in vitro của các dịch chiết lá Huyền diệp đối với
vi khuẩn Salmonella spp.
4.5
39
Tác dụng diệt khuẩn in vitro của các dịch chiết lá Huyền diệp đối với
vi khuẩn E .coli.
4.6
41
Kết quả kiểm tra khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá cây Huyền
diệp đối với vi khuẩn chứa plasmid mang gen kháng kháng sinh.
4.7
9
3.1
Hệ nồng độ pha loãng cao đặc để xác định nồng độ tối thiểu tác
dụngtrên vi khuẩn thử nghiệm
26
3.2
Sơ đồ tiến hành thí nghiệm
27
4.1
Mầu sắc dịch chiết lá Huyền diệp trong 5 dung môi nghiên cứu
33
4.2
Hiệu suất chiết xuất lá Huyền diệp trong các dung môi tách chiết
34
4.3
Phản ứng định tính xác định các nhóm hoạt chất có trong dịch chiết
4.8
45
Khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá cây Huyền diệp trong
dung môi chloroform với vi khuẩn mang plasmid chứa gen kháng
kháng sinh
4.9
4.10
45
Khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá Huyền diệp trong dung
môi chloroform khi pha loãng
48
Tỷ lệ khỏi bệnh của chó theo thời gian điều trị
51
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viêm ruột tiêu chảy là một bệnh khá phổ biến trên chó, ngoài các
nguyên nhân do các bệnh truyền nhiễm như Carê, viêm ruột tiêu chảy do Parvovius
một trong những nguyên nhân gây bệnh chính là vi khuẩn E. coli và Salmonella
spp.(Nguyễn Tuyết Thu, 2008; Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Tuyết Thu, 2008).
Theo nhiều tác giả thì hiện nay nhiều chủng vi khuẩn E. coli và Salmonella spp. gây
bệnh tiêu chảy đã kháng lại nhiều loại kháng sinh thường dùng trong thú y
(Normand et. al., 2000; Frech et al., 2003; Cù Hữu Phú và cộng sự, 2004; Trương
Quang và cộng sự, 2005; Nguyễn Thanh Hải, Bùi Thị Tho, 2013).
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng
diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia
var.pendula Hort.) trên vi khuẩn E. coli, Salmonella spp. phân lập từ phân chó
tiêu chảy và thử nghiệm điều trị”.
1.2. Mục đích của đề tài
Đánh giá hiệu suất chiết xuất lá Huyền diệp sử dụng các dung môi khác
nhau, xác định định tính các nhóm hoạt chất có trong dịch chiết lá cây Huyền diệp.
Lựa chọn dung môi tốt nhất để thu dịch chiết lá cây Huyền diệp có tác dụng
diệt khuẩn in vitro đối với E. coli và Salmonella spp., ngoài ra còn nghiên cứu khả
năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết đối với E. coli Top 10 có chứa plasmid
kháng đơn thuốc (ampicillin và kanamycin).
Dựa trên kết quả nghiên cứu khả năng diệt khuẩn in vitro tiến hành sử dụng
dịch chiết cây Huyền diệp trong điều trị chó bị mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Chứng minh một cách khoa học về khả năng diệt khuẩn của lá cây Huyền
diệp. Sơ bộ định tính được các nhóm chức có khả năng diệt khuẩn (kháng sinh thực
vật) có trong lá cây. Góp phần bổ sung cơ sở lý luận về tác dụng dược lý và ứng
dụng trong dân gian của dược liệu lá cây Huyền diệp.
qua, việc sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị các bệnh truyền nhiễm cho vật
nuôi chưa được quan tâm đúng mức, hiện tượng sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan,
dùng kháng sinh trộn vào thức ăn để phòng bệnh, không theo quy định, không đúng
nguyên tắc... đã gây ra hiện tượng kháng thuốc của vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt
gây ra hiện tượng đa kháng thuốc ở vi sinh vật gây bệnh, làm giảm hiệu lực của
kháng sinh, nguy hiểm hơn là làm mất tác dụng của kháng sinh. Hiện tượng kháng
thuốc của vi khuẩn và tác dụng phụ của kháng sinh trong điều trị đang là những
thách thức trong y học. Theo Trợ lý Tổng Giám đốc WHO, Keiji Fukuda, nếu
không phối hợp hành động tức thời, thế giới sẽ đối mặt với một kỷ nguyên “hậu
thuốc kháng sinh”, khi đó các bệnh truyền nhiễm thông thường hoặc những vết
thương nhỏ trước đó có thể chữa trị được thì nay có thể gây chết động vật và người
do kháng thuốc kháng sinh (WHO, 2014).
Chúng ta không thể hoàn toàn loại bỏ được hiện tượng đề kháng của kháng
sinh một khi chúng xuất hiện. Ngoài sự linh hoạt do đặc tính sinh học, vi khuẩn còn
có khả năng bảo tồn sự đề kháng một khi gen kháng thuốc nằm trên nhiễm sắc thể
của nó. Ngược lại, khi yếu tố di truyền liên quan đến đề kháng nằm trên plasmid
nhất là plasmid tiếp hợp, vi khuẩn sẽ có khả năng truyền sự đề kháng này cho vi
khuẩn khác cùng hay khác loài. Từ đó sự kháng kháng sinh gia tăng dần lên trong
quần thể vi khuẩn.
Tại Vương Quốc Anh, nhiều tài liệu khoa học đã cho thấy hiện tượng kháng
thuốc của vi khuẩn gây bệnh tăng dần theo thơi gian từ năm 1980 đến năm 2000,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
đặc biệt với vi khuẩn E.coli và Salmonella gây bệnh cho chó với kháng sinh
penicillin amoxiclav và streptomycin (Lloyd et. al., 1996; Normand et. al., 2000).
Tại Thụy Sỹ cũng đã thấy xuất hiện vi khuẩn S. Intermedius gây bệnh cho
sinh có nguồn gốc thực vật, vì nó ít tác dụng phụ và có khả năng điều trị tốt
(Sumitra Chanda et al., 2013).
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới
và Việt Nam
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới
Thuốc phòng trị bệnh cho người và thú nuôi hầu hết được bào chế từ hai
nguồn dược liệu và hóa chất. Riêng thảo dược theo thống kê của tổ chức Y tế thế
giới đạt tới 20.000 loài. Việc sử dụng thảo dược hiện không chỉ các nước Á Đông
mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng khá lớn. Ở các nước có nền công
nghiệp phát triển có tới 1/4 số thuốc có kê trong đơn đều chứa hoạt chất từ thảo
dược. Riêng ở Mỹ năm 1980 con số thuốc này đã có giá trị 8 tỷ USA (Viện dược
liệu, 2005). Trong những năm gần đây xu hướng thế giới dùng thuốc thảo dược tự
nhiên (không tách hoạt chất) ngày càng nhiều. Hiện có rất nhiều biệt dược, đông
dược của Trung Quốc được tiêu thụ mạnh ở các nước châu Âu.
Ngày nay dược liệu có vai trò sau:
+ Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số
hóa dược: Từ chất diosgenin của củ mài để bán tổng hợp lên thuốc steroid được sử
dụng nhiều trong lâm sàng.
+ Nhiều hoạt chất quan trọng: quinin, emetin, strychnin, morphin, ajmalin,
vincaleucoblastin,… đều phải chiết ra từ dược liệu vì chưa tổng hợp được.
+ Dược liệu mở đường cho ngành công nghiệp hóa dược phát triển:
- Biết được công thức của ephedrin hoá dược đã ngưng tụ L-1-phenuy-1acetyl carbinol với methylamin để có ephedrin tổng hợp.
- Dựa vào công thức của quinin trong vỏ canh-ki-na để tổng hợp rất nhiều
dẫn chất trị ký sinh trùng sốt rét.
- Dựa vào artemisinin của cây thanh hao hoa vàng, các dẫn chất artesunat,
arteether, artemether được bán tổng hợp cũng để trị ký sinh trùng sốt rét (Hoàng Thị
Tuyết Nhung, 2012).
Từ 1950-1980 thế giới đã thử tác dụng chống ung thư như: taxol (paclitaxe)
xuất từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu như: Berberin, palmatin, artemisinin
(Nguyễn Thượng Dong, 2001). Nhân y sử dụng dược liệu với nhiều mục đích khác
nhau: thức ăn thay thế, phòng trị các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội khoa,
ngoại khoa, sản khoa, ung thư… với rất nhiều dạng thuốc khác nhau: Thuốc sắc,
thuốc cao, viên hoàn, viên nén…
Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế tác
dụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh. Xu hướng chung hiện nay là kết hợp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Đông y và Tây y với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của
cha ông ta bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng tác dụng của cây
thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 1999).
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực Đông dược, Y dược cổ truyền bên
nhân y đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam và
trên thế giới. Các nhà khoa học nước ta đã chú ý đến việc sử dụng các loại thảo
dược trong phòng và trị bệnh truyền nhiễm; bệnh ký sinh trùng; bệnh nội khoa;
bệnh ngoại khoa; bệnh sản khoa… Riêng lĩnh vực thú y, nghiên cứu về cây thuốc
trong phòng trị bệnh cho vật nuôi còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai thác,
áp dụng các bài thuốc cổ truyền.
Về lĩnh vực thú y, các nghiên cứu sử dụng các kháng sinh thực vật trong nuôi
dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao
(Bùi Thị Tho, 1996). Theo Trần Quang Hùng (1995) trong thuốc lá, thuốc lào có
chứa alkaloid thực vật – nicotin và nornicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và côn
trùng hại rau, cây công nghiệp. Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999) cây Astiso (Cynara
Scolymus L) chứa hoạt chất có tác dụng chống viêm, lợi tiểu, thông mật, bổ gan.
Nghiên cứu tác dụng phòng trị bệnh lợn con phân trắng của các cây tỏi, tô
mộc, hành, hẹ và hoàng đằng. Đặc biệt, tác giả còn cho thấy vi khuẩn E.coli kháng
Hình 2.1. Cây và các bộ phận của cây Huyền diệp
Ra hoa từ tháng hai đến tháng tư. Hoa đơn, hoa hình ngôi sao, màu vàng
chanh, cuống ngắn và mảnh. Nhị đực nhiều. Bầu có nhiều lá noãn.
Hình thành quả vào tháng bảy, quả có hình trứng hoặc bầu dục dài 2 cm màu
đen. Quả mọc thành chùm, mỗi chùm từ 10 – 20 quả. Ban đầu xanh, sau chuyển
màu tím hoặc đen khi chín.
2.3.3. Thành phần hóa học
Từ dịch chiết methanol của cây Huyền diệp đã phân lập được một haliman
diterpen mới, 3β,5β,16α - trihydroxyhalima - 13(14) - en - 15,16 - olit, và
oxoprotoberberine alkaloid, (-) - 8 - oxopolyathiain trong đó có một số hợp chất có
hoạt tính kháng một số dòng ung thư.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Dịch chiết n-hexan của vỏ cây Huyền diệp đã phân lập được 9 hợp chất
clerodan và ent - haliman diterpen mới là: 16 - hydroxycleroda - 4(18), 13 - dien 16,15 - olit; axit 16 - oxocleroda - 4(18), 13E - dien - 15 - oic; cleroda - 4(18), - 13 dien - 16,15 - olit; 16 - hydroxyl - ent - Halima - 5(10),13 - dien - 16,15 - olit; axit
16 - oxo - ent - Halima - 5(10), 13E - dien - 15 - oic; ent - Halima - 1(10),13E - dien
- 16,15 - olit; axit 16 - oxo - ent - halima - 5(10),13E - dien - 15 - oic; ent - Halima 5(10),13 - dien - 16,15 - olit và ent - Halima - 5(10),13E - dien - 16,15 - olit cùng
với 5 clerodan diterpen đã biết.
Từ cây Huyền diệp, Chen C. Y và cộng sự (2000) đã phân lập được 1 hợp
chất A haliman diterpen mới 3β, 5β, 16α - trihydroxyhaliman - 13(14) - en - 15,16 olide, và oxoprotoberberin alkaloid, (-) - 8 - oxopolyalthiain, cùng với 20 hợp chất
đã biết, 16α - hydroxycleroda - 3,13 - dien - 15,16 - olit; axit 16 - hydroxycleroda 3,13 - dien - 15 - oic; axit cleroda - 3,13E - dien - 15 - oic; axit 3,12E - lolavadien 15 - oic - 16 - al; (4→2)- abeo - 16 (R và S)- 2,13Z - kolavadien - 15,16 - olit - 3 al; axit labd - 13E - en - 8 - ol - 15 - oic; (-)- stepholidin, 1 - aza - 4 - methyl - 2 oxo - 1,2 - dihydro - 9,10 - anthracenedion; 5 - hydroxyl - 6 - methoxyonychin; 6 hydroxyl - 7 - methoxyonychin; liriodenin; oxoxylopin; (-) - anonain; (-) asimilobin; (-) - norboldin; (+) - norboldin; (-) - norpallidin; axit ρ hydroxybenzoic; β - sitosterol và stigmasterol.
Một clerodan diterpenoit là 16 - hydroxycleroda - 13 - en - 15,16 – olit - 3 on được phân lập từ vỏ cây Huyền diệp cùng với 23 hợp chất đã biết và các hợp
chất phytosteroit.
Balasore của bang Orissa. Vỏ thân cây được nghiền thành bột và trộn với bơ để điều
trị bệnh lậu vùng Genitalial Ấn Độ. Vỏ cây còn được sử dụng để điều trị bệnh viêm
tử cung (Rosakutty, 2000). Nước sắc của lá và vỏ cây được sử dụng như trị cảm
lạnh và ho khan. Chất chiết xuất từ vỏ thân cây Huyền diệp còn được sử dụng để
chữa bệnh loét miệng (Raghunathan, Mitra, 2002). Nghiên cứu gần đây còn cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
thấy trên cuống lá, rễ, vỏ rễ đã cho thấy tiềm năng kháng khuẩn cao và hoạt động hạ
huyết áp đáng kể của cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia) (Faizi et al, 2005).
Theo nghiên cứu của Thenmozhi và Sivaraj (2010) trên vi khuẩn gây bệnh,
dịch chiết lá cây Huyền diệp trong dung môi chloroform có tác dụng diệt khuẩn in
vitro tốt, đạt độ mẫn cảm cao theo tiêu chuẩn CLSI, đường kính vòng vô khuẩn ≥
20 mm. Đường kính vòng vô khuẩn lần lượt đối với E. coli là 24 mm, đối với vi
khuẩn Salmonella spp. là 21mm.
Kết quả nghiên cứu của Anzana et al. (2013) đối với E. coli, dịch chiết của lá
cây Huyền diệp ở nồng độ 125 mg/ml trong 03 loại dung môi methanol, chloroform
và hexane đều có khả năng diệt khuẩn in vitro tốt, đều đạt độ mẫn cảm cao theo tiêu
chuẩn của CLSI với đường kính vòng vô khuẩn ≥ 20 mm. Đường kính vòng vô
khuẩn của dịch chiết đối với vi khuẩn E. coli biến đổi không nhiều từ 24,16mm
(dung môi chloroform) đến 27,6mm (với dung môi là hexane).
Theo nghiên cứu của Tripta và Kanika (2011) dịch chiết cây Huyền diệp
trong 06 loại dung môi có tác dụng diệt khuẩn in vitro đối với vi khuẩn nhưng
đường kính vòng vô khuẩn biến đổi mạnh. Khi sử dụng dung môi là chloroform
đường kính vòng vô khuẩn đạt 23,0 mm với Salmonella spp. và chỉ đạt 20 mm đối
với E. coli nhưng vẫn đạt độ mẫn cảm cao.
Theo những kết quả nghiên cứu trên, khả năng ứng dụng kháng sinh thảo
cao (60-70%). Đặc trưng của chó mắc bệnh trong tuần đầu tiên là tỷ lệ chết rất cao.
Chó thường bị suy sụp nhanh, yếu, giảm nhiệt độ, mất nước và chất điện giải gây
triệu chứng thần kinh rồi chết. E. coli cũng có thể qua hàng rào biểu mô ruột từ 48 72 giờ sau khi sinh. Ngay sau đó, các tế bào biểu mô ruột cũng ngừng hấp thu
Glubulin miễn dịch (Fairbrother JM, 1992).
2.4.2. Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột tiêu chảy
Nguyên nhân của ỉa chảy rất phức tạp, đã có rất nhiều tác giả dày công
nghiên cứu nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy. Tuy nhiên tiêu chảy là một hiện
tượng bệnh lý, có liên quan đến rất nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân tiên phát,
có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Vì vậy, việc xác định đâu là nguyên nhân gây
tiêu chảy chỉ mang tính chất tương đối. Song dù bất cứ nguyên nhân nào gây tiêu
chảy cũng dẫn đến hậu quả là gây viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá
và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1964), Vũ Văn Ngữ (1979), do một tác nhân nào đó,
trạng thái cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một
loài nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng loạn khuẩn. Nguyễn Vĩnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Phước và cộng sự (1970) cho biết: khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, vi khuẩn
gây thối là nguồn gây bệnh đường ruột.
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiêu chảy ở chó bao gồm nguyên nhân do
vi khuẩn, nguyên nhân do virus, do ký sinh trùng hay đơn giản do thời tiết khí hậu,
chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. Chiocco D và cộng sự (1990), Đoàn Băng Tâm
(1987), cho biết: mầm bệnh trong tự nhiên xâm nhập vào cơ thể động vật chủ yếu
thông qua thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn.
Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh: Điều kiện khí hậu thay đổi đột ngột,
chúng đều là sản phẩm của sự chuyển hoá thứ cấp trong quá trình phát triển của một
loài, mỗi chủng nấm mốc nhất định (Butler E., Crisan E.V. 1977). Bản chất của độc tố
nấm mốc là polypeptide, các hợp chất quinol, các hợp chất có nhân piron. Trong các
loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhiều nhất hiện nay.
Nấm mốc và độc tố do chúng sản sinh ra đã gây thiệt hại đáng kể cho chăn
nuôi và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, những độc tố nấm mốc có hại cho
con người và gia súc là Aflatoxin, Ochratoxin, Sterigmato cystin gây độc và gây ung
thư gan, nhóm gây độc đường tiêu hoá là các độc tố Trichothecens, T2toxin
Diacetocyscirpenol, Nivalenol.
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với
biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội, mà thường người ta
không nghĩ đến nguyên nhân này, nên mọi phác đồ điều trị bằng kháng sinh đều
không hiệu quả. Ngoài việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc
trực tiếp cho người từ thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ độc tố tồn dư
trong thực phẩm.
Nguyên nhân do virus: Theo Trần Thanh Phong (1996) gây tiêu chảy ở chó
thường gặp ở các bệnh do virus như bệnh Carré do virus Carré thuộc họ
Paramyxoviridae, giống Morbilivirus. Bệnh xảy ra chủ yếu ở chó từ 2 đến 4 tháng
tuổi, đặc biệt nhiều nhất ở chó 3 đến 4 tháng tuổi. Bệnh viêm ruột ở chó do
Coronavirus. Hai loại virus này gây tiêu chảy cấp tính, phân nhiều nước, chó sốt cao
nhanh chết. Bệnh Parvo do virus thuộc họ Parvoviridae, giống Parvovirus; bệnh gây
chết nhiều ở chó non; chó lớn tỷ lệ chết thấp nhưng là nguồn trữ virus gây bệnh với
đặc trưng của bệnh là sốt nhẹ kéo dài, tiêu chảy có máu hồng và cả máu tươi.
Nguyên nhân do vi khuẩn: Một trong số những bệnh phổ biến và gây nhiều
thiệt hại cho chăn nuôi chó là viêm ruột tiêu chảy do vi khuẩn; Bệnh xảy ra ở mọi
lứa tuổi, tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết khá cao (David Mc. Clugage, D.V.A.,C.V.A. 2005).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
(Manager, Janos mocsy dẫn theo Đào Trọng Đạt, 1997; Nguyễn Tuyết Thu, 2008;
Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Tuyết Thu, 2008).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
2.4.3. Một số nghiên cứu về vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy trên chó
Cơ chế gây bệnh viêm ruột tiêu chảy do vi khuẩn
Các vi sinh vật gây bệnh không giống hệ vi khuẩn cư trú thường xuyên
trong đường ruột, thường do một nguyên nhân nào đó các vi khuẩn phát triển
nhanh chóng cả về số lượng và độc lực. Một số loại vi khuẩn có khả năng xâm
nhập vào lớp tế bào biểu mô, ở đây chúng phát triển nhanh về số lượng kích
thích các tế bào gây viêm, dịch rỉ viêm tiết ra đi vào khoang ruột làm tăng áp lực
kích thích gây tiêu chảy. Phần lớn là do các vi khuẩn độc lực tăng lên mạnh,
chúng tiết ra các loại độc tố. Khi các độc tố được tiết ra, nó gây kích thích các
AMP vòng nội bào, chất này làm tăng tiết Cl- và giảm hấp thu Na+, áp lực thẩm
thấu thu hút nước vào trong xoang ruột tạo ra áp lực lớn trong ống tiêu hoá kích
thích gây tiêu chảy. Hậu quả là một lượng nước lớn cùng với các chất điện giải
mất đi theo phân (Craige E Green, 1984).
Vi khuẩn E. Coli, đây là nhóm vi khuẩn rất phong phú sống hoại sinh ở khu
vực ruột già trong đường tiêu hoá của chó và tất cả những động vật máu nóng.
Trong đó, nhiều chủng gây dung huyết và gây bệnh đường tiêu hoá. Bệnh ở chó
thường do những E.coli có kháng nguyên O và K chiếm ưu thế. Các chủng E.coli
sản sinh độc tố Shiga-toxin, loại độc tố này thường phân lập được ở lợn mắc bệnh
phù đầu (Beutin, 1999 - trích dẫn theo David Mc. Clugage, D.V.A.,C.V.A. 2005).
Theo Galton và cộng sự. (1952), ở chó đã tìm thấy các chủng Salmonella
enteritidis; S. paratyphy A, B; S. typhimuriusm. Nhóm vi khuẩn này có nhiều
serotype khác nhau. Chúng là tác nhân gây bệnh cho hầu hết các loài động vật có vú
kể cả con người. Chó có thể nhiễm khuẩn do uống phải nước bẩn hoặc thức ăn bị