BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THANH XUÂN
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DIỆT KHUẨN IN VITRO CỦA DỊCH
CHIẾT CÂY MÒ HOA TRẮNG (Clerodendrum Fragrans Vent.)
ĐỐI VỚI VI KHUẨN E. coli và Salmonella spp. PHÂN LẬP TỪ PHÂN
LỢN CON THEO MẸ BỊ TIÊU CHẢY VÀ THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. NGUYỄN THANH HẢI
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THANH
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn Phạm Thanh Xuân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
Danh mục các từ viết tắt vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản
phẩm chăn nuôi 4
1.1.1 Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 4
1.1.2 Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi 5
3.4.1 Tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng đối
với vi khuẩn E. coli và Salmonella spp. phân lập được từ phân lợn con
theo mẹ bị viêm ruột tiêu chảy. 34
3.4.2 Tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong dung môi ethanol 35% trên E. coli chứa plasmid có gen kháng
kháng sinh. 37
3.5 Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong dung môi ethanol 35% khi pha loãng. 39
3.6 Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong dung môi ethanol 35% theo thời gian bảo quản. 41
3.7 Kết quả thử nghiệm điều trị trên lợn con theo mẹ bị viêm ruột tiêu chảy. 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
2.1 Thành phân môi trường LB (Luria Bertani) lỏng 20
2.2 Thành phần môi trường LB (Luria Bertani) đặc 20
2.3 Bảng tiêu chuẩn đánh giá khả năng mẫn cảm và kháng thuốc của vi khuẩn 23
3.1 Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ của 02 chủng vi khuẩn thử nghiệm với
14 kháng sinh thông dụng 27
3.5 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong các dung môi khác nhau 36
3.6 Tác dụng diệt khuẩn in vitro của các dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong các dung môi khác nhau 36
3.7 Tác dụng diệt khuẩn in vitro của các dịch chiết thân cây Mò hoa trắng 38
3.8 Khả năng diệt khuẩn in vitro dịch chiết thân cây Mò hoa trắng khi pha loãng 40
3.9 Đường kính vòng vô khuẩn của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng đối
với vi khuẩn theo thời gian bảo quản ở 4
0
C 43
3.10 Khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thân cây Mò hoa trắng
trong dung môi ethanol 35% sau 30 ngày bảo quản ở 4
0
C 43
3.11 Hình ảnh lơn con theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy do E.coli và Salmonella SPP 45
3.12 Tỷ lệ khỏi bệnh của lợn con theo thời gian điều trị 47 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Các chữ được viết tắt
Ax Amoxicillin
Am Ampicillin
Ci Ciprofloxacin
kháng sinh tân dược, kháng sinh có nguồn gốc thực vật (gọi là các phytocide) có
nhiều ưu điểm như chưa phát hiện có hiện tượng kháng thuốc, không tồn dư trong
thực phẩm, rất ít độc, dễ hòa tan trong nước, dễ sử dụng, bào chế giản đơn
(Seyyednejad et al., 2010). Thảo dược đang ngày càng chứng minh được vai trò
quan trọng của nó trong nền công nghiệp dược phẩm như là một giải pháp an toàn
sinh học thay thế cho các thuốc hóa học tổng hợp (Mahesh et al., 2008; Nguyễn
Thanh Hải, Bùi Thị Tho, 2013).
Khuynh hướng chung của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là quay
về với thiên nhiên, tìm cách giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia
cầm, động vật thủy sinh và dần dần thay thế bằng thảo dược thân thiện. Việt Nam
là một nước nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú và đa dạng, đang sở hữu
cả “kho vàng” dược liệu với gần 3.000 cây thuốc có thể dùng trực tiếp làm thuốc
hay để tách chiết một số hoạt chất bào chế thuốc thành phẩm (Viện dược liệu quốc
gia, 2013). Tuy nhiên nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế
tác dụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh. Xu hướng chung hiện nay là kết
hợp Đông y và Tây y với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh
dân gian bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng tác dụng của cây
thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 1999). Trong số đó, cây Mò hoa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
trắng trong dân gian được sử dụng để trị vết thương ngoài da bị nhiễm trùng, kể cả
là bị nhiễm trùng bởi trực khuẩn mủ xanh cũng cho hiệu quả chữa bệnh tốt, vết
thương mau lành (Đỗ Tất Lợi, 1999; Bùi Thị Tho và Nguyễn Thanh Hà, 2009).
Nhiều nghiên cứu ngoài nước đã khẳng định cây Mò hoa trắng và các cây trong chi
Clerodendrum có tính kháng sinh, có khả năng chống lại nhiều loại vi khuẩn gây
bệnh (Aleykytty et al., 2010; Jeenu et al., 2011;Venkatarismam et al., 2012; Leena
and Aleykutty, 2012; Anandhi and Ushadevi., 2013).
Bệnh viêm ruột tiêu chảy là một bệnh khá phổ biến ở lợn con theo mẹ, một
trong những nguyên nhân gây bệnh chính là vi khuẩn E. coli và Salmonella
sinh của vi khuẩn đồng thời giảm thiểu sự tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn
nuôi, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4 Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản
phẩm chăn nuôi
1.1.1. Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 30-4 ra cảnh báo kháng thuốc kháng sinh
là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Sau khi thu thập dữ liệu tại
114 quốc gia trên toàn cầu về tình trạng kháng thuốc, trong đó đặc biệt là kháng
sinh, báo cáo của WHO nêu rõ mối đe dọa nghiêm trọng này không còn là dự báo
cho tương lai mà đang diễn ra ở mọi khu vực trên thế giới, có nguy cơ ảnh hưởng
tới mọi người dân ở mọi lứa tuổi và các quốc gia khác nhau. Theo Trợ lý Tổng
Giám đốc WHO, Keiji Fukuda, nếu không phối hợp hành động tức thời, thế giới sẽ
đối mặt với một kỷ nguyên “hậu thuốc kháng sinh”, khi đó các bệnh truyền nhiễm
thông thường hoặc những vết thương nhỏ trước đó có thể chữa trị được thì nay có
thể gây chết người do kháng thuốc kháng sinh (WHO, 2014).
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi
sinh vât, như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách,
không tôn trọng liều lượng và thời gian trị liệu, cũng như không chịu uống cho thật
hết số thuốc như bác sĩ đã kê toa. Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong
chăn nuôi thú y, canh nông và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong sự hình
thành của hiện tượng kháng kháng sinh. Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt
khuẩn để chùi rửa quá thường xuyên, không đúng chỉ dẫn cũng có thể giúp sản sinh
ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc (A report from the American academy
Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng vi khuẩn phân lập được từ
lợn con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc, Việt Nam, Đỗ Ngọc Thúy và
cs (2002) đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loại
kháng sinh thông thường dùng để điều trị đặc biệt với Streptomycin lên tới 88,68%.
Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là khá phổ biến
(chiếm 90,57%).
1.1.2. Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi
Ngày nay, chất kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp
như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy hải sản, có tác dụng rất lớn là giúp cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
vật nuôi trồng chống lại bệnh tật từ vi sinh vật. Tuy vậy, chất kháng sinh như một
con dao hai lưỡi. Một mặt giúp sinh vật chông lại bệnh tật, mặt khác, có thể làm cho
sinh vật xuất hiện phản ứng phụ, và đặc biệt là lượng chất kháng sinh tồn dư sinh
vật có thể ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm, nhất là sức khỏe người tiêu dùng.
Với một lượng thực phẩm khổng lồ từ động vật đang được tiêu thụ trên thị
trường, song ít ai nghĩ đến việc mỗi ngày trong cơ thể chúng ta đang phải tích lũy…
dần dần dư lượng chất kích thích tăng trọng và thuốc kháng sinh trong từng miếng
thịt động vật của các loại sản phẩm này. Bởi trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện
nay, người dân sử dụng rất tùy tiện các loại thức ăn tăng trọng và thuốc kháng sinh
nhằm ngăn ngừa, trị bệnh và giúp vật nuôi mau ăn chóng lớn.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP HCM, trong đợt kiểm tra an
toàn thực phẩm những tháng đầu năm 2014, cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều
mẫu thịt có tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng. Cụ thể, khi lấy ngẫu nhiên 60 mẫu thịt
(30 mẫu thịt heo, 30 mẫu thịt gia cầm) từ TP HCM và các tỉnh đem về giết mổ tại 2
cơ sở giết mổ lớn trên địa bàn thành phố, cơ quan chức năng phát hiện 13/30 mẫu thịt
heo (tỉ lệ 43,33%) có nguồn gốc từ Bình Dương, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng Nai, Bà
Rịa - Vũng Tàu và 1/30 mẫu thịt gia cầm (3,33%) có hàm lượng kháng sinh
sulfadimidin vượt giới hạn cho phép (Báo người Lao Động, 2014).
đó có 70% sinh sống ở vùng nông thôn. Các nước Đông Nam Á khác đều có tỉ lệ sử
dụng đông dược đáng kể trong cộng đồng và hệ thống y tế. Về nghiên cứu, cho tới
nay đã có 0,5%, nghĩa là 1.300 cây được nghiên cứu một cách có hệ thống về thành
phần hóa học và giá trị chữa bệnh (Viện Dược Liêu, 2005).
1.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng dược liệu trên thế giới
Việc tăng năng suất, sản lượng chăn nuôi một cách ồ ạt khiến dịch bệnh ngày
càng trở thành vấn đề nhức nhối cho người chăn nuôi. Để xứ lí vấn đề này, các loại
hóa chất, kháng sinh được xem như là giải pháp đầu tiên được người chăn nuôi sử
dụng để điều trị bệnh.Tuy nhiên, việc sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh không
đúng quy cách, liều lượng đang dẫn tới hiện tượng kháng thuốc. Bên cạnh đó, việc
tồn dư kháng sinh còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người.Trong những năm
gần đây, xu hướng sử dụng thảo dược trong điều trị bệnh được sử dụng rộng rãi.
Hơn nữa việc sử dụng thảo dược có biên độ an toàn lớn và không ảnh hưởng tới sức
khỏe con người. Các chiết xuất từ thảo dược như hinokiticol, citral, allylisocyante
được sử dụng rộng rãi trong bảo quản, điều trị bệnh do nấm, vi khuẩn gây ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
(Nguyễn Thị Vân Thái, 2006).
Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur đã chứng minh được công dụng
diệt khuẩn của tỏi.Năm 1944, nhà khoa học Chester J. Cavallito đã phân tích được
hợp chất allicin trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Allicin chỉ có trong
tỏi chưa nấu hay chế hóa. Kháng sinh này mạnh bằng 1/5 thuốc penicillin, 1/10
thuốc tetraciline, có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn, xua đuổi hoặc tiêu diệt nhiều
loại sâu bọ, kí sinh trùng, nấm độc. Năm 1948, Machado cùng cộng sự đã chiết xuất
từ tỏi được garcillin, chất này không có mùi lưu huỳnh, không độc, ứng dụng tốt
trong bệnh nhiễm trùng Shigella, Salmonella hoặc các bệnh kí sinh trùng như giun
kim, giun đũa, giun tóc. Một nghiên cứu khác tại Brazil năm 1982 đã chứng minh
nước tinh chất của tỏi có thể chữa được nhiều bệnh nhiễm độc như bao tử, do thức
ăn có lẫn khuẩn.
thành công khả năng kháng khuẩn của các loại thảo dược như: O.sanctum, C.alata,
Tinospora cordifolia, Eclip ta alba, Tinospora cripspa, Psidium guajava,
Clinacanthus nutans, Androgaphic panniculata, Moimonrdica charatina, Phyllanthus
reticulates, P.pulcher, P.acidus, P. debelis, P.amaus, P.debelis và P.urinaria đối với vi
khuẩn vibrio ssp. Tuy nhiên, chỉ có hai cây P.guarava và M.charantina có hiệu quả
ức chế đối với vibrio ssp. Nồng độ ức chế tối thiểu của P.guarava là 0,625 mg/ml và
M.charantina là 1,25 mg/ml (Nguyễn Thị Vân Thái, 2006).
Tại Trung Quốc, đã tách chiết được một loại Alkaloid từ cây xoan rừng có tên
Yanatren hoặc sử dụng hạt với tên kosam, enkosamcos tác dụng điều trị lị amip.
Gần đây các nhà khoa học trên thế giới phát hiện thêm nhiều đặc tính quý
của nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) trong việc chữa các bệnh về gan, mật, ung
thư…. Thậm chí cả hiệu ứng ngăn ngừa và chống căn bệnh thế kỷ AIDS (Viện dược
liệu, 2005).
Những hoạt chất có trong lá chè (Thea sinensis) ngoài những tác dụng thông
thường như giải cảm, tiêu độc, lợi tiểu người ta còn phát hiện thêm một giá trị đặc
biệt đó là khả năng làm tăng sức đề kháng của trẻ em đối với vius gây bệnh viêm
não Nhật Bản B.
Các kết quả trên chỉ mới bước đầu thử nghiệm sàng lọc các loại thảo dược
chưa xác định được thành phần nào trong thực vật có tác dụng trên virus và vi
khuẩn.
Hiện nay dược liệu có vai trò sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
+ Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số hóa
dược: từ chất diosgenin của củ mài để bán tổng hợp lên thuốc steroid được sử dụng
nhiều trong lâm sàng.
+ Nhiều hoạt chất quan trọng: quinin, morphin, ajmalin, vincaleucoblastin,
emetin, strychnin… đều phải chiết ra từ dược liệu vì chưa tổng hợp được.
+Dược liệu mở đường cho ngành công nghiệp hóa dược phát triển:
thác, trồng và kinh doanh với số lượng lớn.Bên nhân y, công nghiệp dược sản xuất
thuốc từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu đang được Đảng và Nhà nước quan
tâm và phát triển rất mạnh. Bên cạnh đó còn có các vùng cao như: Sapa, Đà Lạt
thuận lợi cho di nhập một số cây quý như: Actiso, Dương Địa Hoàng… nước ta có
trên 3200 km bờ biển chạy từ Bắc vào Nam nên còn có rất nhiều hải sản quý dùng
làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong, 2001).
Hiện nay trên cả nước, mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 15.600 tấn
dược liệu (tính cả cây thuốc hoang dại là 27.700 tấn). Trong khi nhu cầu dược liệu
là 59.548 tấn/năm gồm: phục vụ công nghiệp dược 20.110 tấn, hệ thống chữa bệnh
bằng y học cổ truyền 18.452 tấn và xuất khẩu 20.986 tấn. Nhu cầu về dược liệu
ngày càng tăng do hệ thống điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền đã được
WHO công nhận. Nhiều nhà khoa học cho rằng, các hợp chất thiên nhiên do đã tồn
tại trong tế bào sống của cây thuốc, nếu được phân lập thành nguyên liệu làm thuốc,
chúng rất nhanh thích nghi với tế bào sống, có tác dụng chống lão hóa… Do đó khả
năng hấp thu sẽ tốt và ít độc hơn so với các chất tổng hợp hóa học chưa bao giờ tồn
tại trong tế bào sống.
Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế vẫn
chưa được giải thích và chứng minh. Xu hướng hiện nay là kết hợp giữa Đông Y và
Tây Y với cách vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta bằng
thuốc Nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng, tác dụng của cây thuốc bằng cơ
sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, 2011).
1.3. Cây Mò hoa trắng (Clerodendrum Fragrans Vent.)
Tên khoa học: Clerodendrum Fragrans Vent.
Tên khác: Bạch đồng nữ, bần trắng, vậy trắng, mấn trắng, mò trắng.
Họ: Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12 Hình 1.1. Cây mò hoa trắng
gây thu teo tuyến ức là một trong những đặc điểm của các thuốc ức chế miễn dịch.
Nước sắc 3/1 của Cleodendrum philippinum đã được thử kháng sinh đồ trên
các chủng vi khuẩn phân lạp từ các vết thương nhiễm khuẩn, thấy có tác dụng ức
chế sự phát triển các vi khuẩn Pseudononas aeruginosa, Staphylococus aureus,
Escherichia coli và các Proteus.
Theo tài liệu nước ngoài, cuống lá, hoa và rễ Xích đồng nam Clerodendrum
kaempferi có tác dụng chống co thắt hồi tràng cô lập súc vật thí nghiệm gây nên bởi
Acetylcholin hoặc Histamin.
Cả cây Bạch đồng nữ có các tác dụng kháng nguyên sinh vật trong thí
nghiệm của Entamoeba histolitica, chủng STA, hạ đường huyết trên chuột trắng và
gây giảm đau trong thí nghiệm tấm kim loại nóng của Edy và Leimbach. Chất
Clerodin chiết xuất chủ yếu từ cành non và lá Xích đồng nam có tác dụng diệt giun
đất trong dung dịch nước trong vòng 30 phút (Viện Dược Liệu, 1993).
Nước sắc lá tươi của cây Clerodendrum philipinum được dùng rửa trực tiếp
lên vết thương nhiễm trùng rồi phủ gạc ( Không dùng phối hợp với kháng sinh nếu
viêm nhiễm cư trú; có phối hợp với kháng sinh nếu nhiễm trùng toàn thân). Đa số
bệnh nhân đều kháng với hầu hết các kháng sinh thông thường. tác dụng của thuốc
đã làm giảm rõ phù nề quanh vết thương, không gây sốt, bệnh nhân lại thấy mát, dễ
chịu, làm sạch nhanh vết thương, kể cả đối với trực khuẩn mủ xanh là loại nhiễm
trùng dai dẳng, rất khó điều trị với dung dịch thuốc thông thường và làm tổ chức
hạt mọc nhanh, vết thương mau lành, làm sẹo đẹp, không để lại sẹo lồi (Viện Dược
Liệu, 1993).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
1.3.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác dụng kháng khuẩn, nấm, virus, kí
sinh trùng của một số loài thuộc chi Clerodendrum L.
Theo George and Pandalai (1949), dịch chiết cồn từ lá và hoa của loài
C.inerme có hoạt tính kháng lại Escheria coli và Staphylococcus. Năm 1997, Mehdi
và cộng sự nghiên cứu dịch chiết cồn phần trên mặt đất sấy khô loài C.inerme L.
tính kháng khuẩn của flavonoid toàn phần đối với các chủng vi khuẩn gram âm và
gram dương là khá tốt nhưng tác dụng đối với nhóm vi khuẩn gram dương tỏ ra
mạnh hơn so với gram âm. Tác dụng kháng nấm yếu.Tính đặc hiệu cũng như mức
độ kháng khuẩn của các phân đoạn riêng biệt của flavonoid tỏ ra kém hơn so với
flavonoid toàn phần. Flavonoid toàn phần của dịch chiết xuất phát từ loài bọ mẩy có
tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất. Phối hợp flavonoid toàn phần của loài bạch đồng
nữ và xích đồng nam theo tỉ lệ 1:1 làm tăng khả năng kháng khuẩn đối với các vi
khuẩn gram âm. Phối hợp flavonoid toàn phần của 3 loài trên theo tỉ lệ 1:1:1 làm
tăng tác dụng kháng khuẩn đối với các vi khuẩn gram dương.
Năm 2001, Kim và cộng sự phân lập được hai chất phenyl propanoid
glycosides (acteosid và acteosid isomer) từ C. trichotomum, có khả năng ức chế
mạnh enzyme integrase của virus HIV-1 với giá trị IC
50
là 7,8±3,6µM và
13,7±6,0µM. Năm 2004, Dorsaz và cộng sự phân lập được chất hydroquinone
diterpenoid mới từ lá C. uncinatum Schinz, có hoạt tính kháng mạnh bào tử nấm.
Theo kết quả nghiên cứu của Simonsen và cộng sự (2001), dịch chiết cồn của
thân, lá loài C.phlomidis ở Ấn Độ có hoạt tính chống kí sinh trùng sốt rét.
Theo nghiên cứu của Aleykytty và cs (2010) và Leena and Aleykutty (2012)
dịch chiết rễ cây C. Paniculatum Linn và C. Infrtunatum Linn đều có khả năng diệt
khuẩn in vitro đối với các chủng vi khuẩn Bacillus subtilis, Staphylococus aureus,
E. coli và Klebsiella pneumoniae.
Năm 2011, Leena and Aleykutty đã nghiên cứu dịch chiết lá cây C.
Paniculatum Linn khi sử dụng 05 dung môi khác nhau (ethyl acetate, alcohol, nước,
petroleum ether, chloroform) cho thấy, đối với vi khuẩn Vibrio parahaenolyticus cả
năm dịch chiết đều có tác dụng diệt khuẩn in vitro. Khi thử nghiệm trên vi khuẩn
Salmonella newsport chỉ có 3 loại dịch chiết có tác dụng diệt khuẩn, còn dịch chiết
sử dụng dung môi petroleum ether, chloroform không thấy có tác dụng. Riêng đối
với vi khuẩn E. coli (O78) chỉ có dịch chiết sử dụng dung môi là nước và alcohol
mới có tác dụng diệt khuẩn.
lực và các yếu tố gây bệnh mà chủng E. coli đó có được. Do vậy, kết quả những
nghiên cứu về độc lực, yếu tố gây bệnh của E. coli chính là đánh giá khả năng gây
bệnh của nó (Lê Văn Tạo và cs, 2002).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
Cù Hữu Phú và cs (2004) đã kết luận, vi khuẩn E. coli là nguyên nhân chính
gây bệnh tiêu chảy của lợn con theo mẹ, các chủng E. coli có thể mang tổ hợp các
yếu tố gây bệnh.
Khi nghiên cứu về vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu
chảy ở lợn 1- 60 ngày tuổi, tác giả Trương Quang (2005) đã kết luận 100% mẫu
phân lợn bị tiêu chảy phân lập được E. coli với số lượng gấp 2,46 -2,73 lần (ở lợn 1-
21 ngày tuổi) và 1,88 -2,1 lần (ở lợn 22 -60 ngày tuổi) so với lợn không tiêu chảy.
Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ lợn bị tiêu chảy có độc lực mạnh và các
yếu tố gây bệnh cao hơn rất nhiều so với lợn không bị tiêu chảy. Cụ thể yếu tố bám
dính 93,33% so với 33,33%; khả năng dung huyết 53,33% so với 25,92%.
Tìm hiểu nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy lợn con, kết quả nghiên
cứu của Hồ Soái và cs (2005) cho thấy, 100% mẫu phân lợn tiêu chảy phân lập
được E. coli với số lượng gấp 2,37 lần (ở lợn 1-45 ngày tuổi) và gấp 2,31 lần (ở lợn
45 -60 ngày tuổi) so với lợn bình thường không tiêu chảy. Độc lực của vi khuẩn E.
coli phân lập được gây chết chuột từ 50 – 100% sau 6 – 36 giờ.
Một số nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella gây hội chứng tiêu chảy
Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn con theo mẹ thường ít gặp, nguyên
nhân là do trong máu của lợn có hàm lượng kháng thể cao được cung cấp bởi sữa đầu
của lợn me và có hoạt động bảo hộ cho đến khi lợn con cai sữa. (Bergeland, 1980).
Bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Salmonella gây ra chủ yếu cho lợn con cai
sữa với các triệu chứng điển hình là nhiễm trùng huyết và viêm ruột ỉa chảy. Vi
khuẩn có thể gây bệnh cho lợn bởi nhiều Serotype có sãn trong tự nhiên, nhưng với
bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa thì chỉ phát hiện 2 Serotype là S.choleraesuis
và S. Typhimurim. Trong các chủng vi khuẩn Salmonella thường xuyên gây bệnh