ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGA
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HÒA
- THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGA
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HÒA –
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tuyền
Hà Nội – 2014
trong gia đình và bạn bè thân thiết đã quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ với tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu. Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng
luận văn của tôi không thể tránh khỏi những khuyết điểm, hạn chế về
nội dung. Rất mong sự đóng góp, chỉ bảo tận tình của các thầy cô để
luận văn của tôi được sửa chữa, bổ sung và hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nga
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài .............................................................. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 8
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu .......................................... 9
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................. 9
7. Kết cấu của luận văn................................................................................. 9
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC VẬN
ĐỘNG NÔNG DÂN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ...................... 10
1.1. Một số định nghĩa công cụ ........................................................ 10
1.1.1. Định nghĩa “Nông dân” .......................................................... 10
1.1.2 Định nghĩa Nông thôn mới ..................................................... 10
1.1.3. Định nghĩa “Công tác vận động nông dân xây dựng nông
thôn mới”............................................................................................ 14
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vận động nông
dân xây dựng nông thôn mới ........................................................... 16
1.2.1. Về mô hình nông thôn mới...................................................... 16
3.2. Kiến nghị đẩy mạnh hiệu quả công tác vận động nông dân
xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Hiệp Hòa ............... 79
KẾT LUẬN ................................................................................................... 89
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương đổi mới đất nước của Đảng, nông dân Việt
Nam đã tiếp tục nêu cao tinh thần yêu nước và ý chí tự lực, tự cường, trở
thành lực lượng nòng cốt tạo nên những bước đột phá quan trọng trong
nông nghiệp, nông thôn. Nhằm hướng tới mục tiêu: “Xây dựng nền
nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao;
xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, xã
hội nông thôn ổn định, giầu bản sắc văn hóa dân tộc; nông dân được đào
tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực
và có đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới” [21,
tr.9-10], cần làm tốt công tác vận động nông dân xây dựng nông thôn
mới trong những năm tiếp theo.
Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ công nghiệp
hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã có được những
kết quả nhất định. Nhận thức của nông dân về vai trò của mình đối với
nông nghiệp, nông thôn có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực. Phong
trào thi đua, phát triển sản xuất đã thu hút được đông đảo nông dân tham
gia, đưa đất nước đạt được nhiều thắng lợi to lớn trên nhiều mặt: kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội… Hiệu quả sản xuất nông nghiệp tăng trưởng
với tốc độ ổn định, đảm bảo được an ninh lương thực quốc gia. Đồng
thời, đưa Việt Nam trở thành nước nước xuất khẩu lớn một số mặt hàng
nông sản: gạo, cà phê, hồ tiêu… Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm qua từng năm.
Thành tựu trong nông nghiệp, nông thôn do nông dân đóng vai trò chủ
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020 đã được triển khai tổ chức thực hiện ở nhiều địa phương
22
trong cả nước trong đó có huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang.
Hiệp Hòa là một huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Giang. Thực
hiện nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới
tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, ngày 13/04/2010 Ban Thường vụ Huyện
ủy huyện Hiệp Hòa đã ban hành Kế hoạch số 404-QĐ/HU về việc thành
lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020. Tới ngày 15/5/2012 Ban chỉ đạo Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Hiệp Hòa đã ban
hành Kế hoạch số 89-KH/BCĐ Triển khai Chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng nông thôn mới huyện Hiệp Hòa. Tính đến nay, chương
trình xây dựng nông thôn mới của huyện Hiệp Hòa đã triển khai được 2
năm và bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng: công tác lập
quy hoạch nông thôn mới cho các xã đảm bảo đúng trình tự và kịp tiến
độ, năm 2013 đã hoàn thành quy hoạch cho 23 xã trên tổng số 26 xã, thị
trấn trên địa bàn huyện, đạt 100% số xã cần quy hoạch xây dựng nông
thôn mới; 5 xã điểm thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn (20112015) đã hoàn thành được từ 11-13 tiêu chí trong tổng số các tiêu chí về
xây dựng nông thôn mới; công tác tuyên truyền, vận động quần chúng
nhân dân thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được cấp ủy
đảng, chính quyền các đoàn thể quan tâm, tập trung chỉ đạo; xuất hiện
nhiều điển hình tiêu biểu của cá nhân và tập thể trên các lĩnh vực kinh
tế, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự, môi trường... Bên cạnh những kết quả
đã đạt được, phong trào xây dựng nông thôn mới tại huyện Hiệp Hòa
vẫn tồn tại một số hạn chế cần xem xét khắc phục: công tác triển khai
thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tới các xã đã tiến hành
quy hoạch còn chậm; một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng
hình mới.
44
-“Nông dân những vấn đề cơ bản và đương đại” của tác giả Bùi
Quang Dũng, (Nhà xuất bản: Khoa học xã hội, 2013). Cuốn sách gồm
một số bài nghiên cứu của tác giả về nông dân và xã hội nông thôn. Tác
giả đã tìm hiểu và phân tích một số khái niệm “nông dân” của một số
học giả nước ngoài và khái niệm “Xã hội nông thôn” Việt Nam. Đồng
thời, tác giả cũng làm rõ một số vấn đề liên quan tới phát triển nông
thôn, trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân trong phát
triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
- “Công tác dân vận với chương trình xây dựng nông thôn mới”
của Ban Dân vận Trung ương Đảng (Nhà xuất bản: Lao động, 2012), đã
tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm của công tác
dân vận với chương trình xây dựng nông thôn mới. Cuốn sách đã phân
tích một số mô hình tiêu biểu về xây dựng nông thôn mới trong cả nước
và rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng trong công tác vận
động nông dân xây dựng nông thôn mới.
- “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, tầm nhìn mới, tổ chức quản
lý mới, bước đi mới” của tập thể tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ
Trọng Hùng (đồng chủ biên), (Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2013). Các
tác giả đã tiếp cận hệ thống, toàn diện và cung cấp cách nhìn rộng mở
cho việc đổi mới triệt để nhận thức về vai trò của nông nghiệp, nông
dân, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa; Phác
thảo yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra cũng như gợi ý cách triển khai về
mặt tổ chức phát triển và xây dựng nông thôn mới; Đồng thời, qua cuốn
sách các tác giả đã cung cấp một số kỹ năng cần thiết về thực thi pháp
luật, kỹ năng quản lý đối với cán bộ cấp xã, thôn/bản tạo điều kiện thuận
lợi triển khai thắng lợi các nhiệm vụ lịch sử như: đường lối, chính sách
học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2013. Tác giả làm rõ cơ sở lý luận và
66
quan điểm, chủ trương của đảng về xây dựng nông thôn mới ở nước ta
trong tình hình hiện nay. Nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng, phân
tích một số nguyên nhân của hạn chế, rút ra kinh nghiệm trong việc lãnh
đạo nông dân xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang. Đề
xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo nông
dân xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang.
- “Công tác vận động nông dân trong tình hình mới” của Nguyễn
Quốc Cường1 (Tạp chí Tuyên giáo số 6/2013). Tác giả đã phân tích một
số hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong công tác vận
động nông dân thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, vạch ra một số nhiệm vụ
trọng tâm nhằm tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận
động nông dân trong tình hình mới.
Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những cứ liệu quan
trọng cho việc hoạch định chính sách nông nghiệp, nông thôn và giải
quyết một số vấn đề nông dân ở nước ta thời gian qua. Tuy nhiên, các
công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu quá trình triển khai vận động
nông dân xây dựng nông thôn mới ở huyện Hiệp Hòa. Mặc dù vậy, kết
quả nghiên cứu của các công trình trên là cứ liệu quan trọng được tác
giả kế thừa và vận dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của luận văn
Thông qua việc phân tích một số vấn đề lý luận về nông dân, nông
thôn mới, tầm quan trọng của công tác vận động nông dân xây dựng
nông thôn mới và một số nội dung Đảng triển khai vận động nông dân
xây dựng nông thôn mới trong thời gian vừa qua, luận văn nghiên cứu
làm rõ thực trạng vận động nông dân trong việc xây dựng nông thôn
mới.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm: các chủ trương, chính
sách và thực tiễn công tác vận động nông dân xây dựng nông thôn mới
của Đảng bộ huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
88
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận: tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác vận động nông dân, một số chủ trương, chính sách của
đảng, nhà nước về xây dựng nông thôn mới và công tác vận động nông
dân xây dựng nông thôn mới.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là: phương pháp
phân tích: phân tích nội dung đảng triển khai vận động nông dân xây
dựng nông thôn mới và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình
thực hiện vận động nông dân xây dựng nông thôn mới tại huyện Hiệp
Hòa, tỉnh Bắc Giang.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu nghiên cứu, phân tích, làm rõ thực trạng công
tác vận động nông dân xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện
Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên
cứu, tham khảo ở cấp Ủy đảng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
nghiệp nông thôn, Hội Nông dân huyện Hiệp Hòa, làm tài liệu phục vụ
đào tạo, bồi dưỡng cho Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Hiệp Hòa.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
luận văn có 3 chương, 8 tiết.
99
vai trò vô cùng quan trọng. Nông thôn là nơi cung cấp một số lượng lớn
nguồn lao động và là thị trường tiêu thụ rộng lớn có ý nghĩa quan trọng
trong việc thúc đẩy nền kinh tế. Hiện nay, sự phát triển ổn định của nông
thôn có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định của chính trị, sự phát triển
của kinh tế, văn hóa xã hội của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam. Việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở khu vực nông
thôn có tác động quan trọng tới việc bảo vệ môi trường sinh thái, tới
việc khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, xã hội đảm
bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước.
“Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó đất đai thường rộng
lớn hơn với một cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân sống bằng nghề
sản xuất nông – lâm – thủy sản, có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng
kém phát triển hơn, trình độ dân trí, kinh tế - xã hội, trình độ sản xuất
hàng hóa và mức sống thường thấp hơn so với cư dân đô thị”[24, tr. 16].
“Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội học về một
phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã được định hình từ lâu trong lịch
sử. Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi
trường nhân tạo với các điều kiện địa lý – tự nhiên ưu trội, với kiểu loại
tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian. Tuy nhiên nông thôn có
những đặc trưng riêng biệt của nó... nông thôn phân biệt với đô thị bởi
trình độ xã hội, sinh hoạt. Ở nông thôn loại hình hoạt động lao động
kém đa dạng (so với đô thị). Tính thuần nhất về xã hội và nghề nghiệp
cao hơn. Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ
thống không gian. Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị,
song mặt khác lại tách biệt với đô thị. Nông thôn và đô thị hợp lại thành
chỉnh thể xã hội và lãnh thổ (không gian) của cơ cấu xã hội” [43, tr. 50]
Theo Thông tư số 54/2009-TT/BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ
11
12
12
hàng hóa; đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn ngày
càng được chú trọng nâng cao; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc; đảm bảo an ninh, quốc phòng và phát huy dân chủ ở nông thôn.
Về nội dung: xây dựng nông thôn mới được xây dựng và phát triển
một cách toàn diện trên tất cả các khía cạnh, trong khi trước đây việc
xây dựng nông thôn thường thông qua các chương trình hay dự án và
mới chỉ giải quyết được một số khía cạnh nhỏ lẻ của nông thôn; Về cơ
chế phối hợp: nông thôn mới có cơ chế phối hợp đồng bộ trên cơ sở
phát huy tổng lực của toàn xã hội. Trong khi ở mô hình nông thôn
truyền thống việc huy động nội lực cộng đồng dân cư còn khá hạn chế,
chưa phát huy được năng lực thực sự của cả cộng đồng; Về nguồn lực:
nông thôn mới lấy việc phát huy nội lực của người dân, cộng đồng làm
trọng tâm, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân
kiểm tra, dân hưởng lợi”. Nông thôn mới được xây dựng với mục đích
gắn kết, tạo điều kiện xây dựng một cộng đồng dân cư phát triển, ổn
định và phồn vinh. Từ những đặc trưng và khác biệt so với mô hình
nông thôn truyền thống ở trên có thể thấy mô hình nông thôn mới có
một số chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất: Nông thôn là địa bàn cư trú của nông dân và là nơi để
nông dân sản xuất nông nghiệp. Ở nông thôn mới, nông dân được tạo
nhiều điều kiện để ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất,
tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp có năng xuất, chất lượng cao theo
hướng sản xuất hàng hóa. Đồng thời, phát triển các ngành nghề truyền
thống của địa phương, tạo việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn.
Thứ hai: Nông thôn mới là nơi giữ gìn và phát huy văn hóa truyền
thống dân tộc. Nông thôn mới đã làm thay đổi bộ mặt của làng quê, đó
nông nghiệp – nông thôn cần phải có chiến lược vận động nông dân,
giúp họ có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu xây dựng nền nông
14
14
nghiệp mới, phát triển nông thôn mới. Công tác vận động nông dân xây
dựng nông thôn mới là bộ phận trong toàn bộ công tác dân vận của
đảng. Qua bài báo “Dân vận” viết năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “Dân vận là vận động lực lượng của mỗi người dân, không để sót
một người nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành công việc
nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”[52, tr.
698]. Mỗi lực lượng phải tiến hành làm dân vận phù hợp với đặc thù của
lực lượng đó để phát huy hiệu quả. Đối với lực lượng nông dân, trong
thư gửi Hội nghị Nông dân cứu quốc, toàn quốc năm 1949 Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết: “Nông vận là phải: Tổ chức nông dân thật chặt chẽ.
Đoàn kết nông dân thật khăng khít. Huấn luyện nông dân thật giác ngộ.
Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, tổ
quốc. Vận động nông dân là phải vận như thế nào cho toàn thể nông dân
động, nghĩa là: làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc mình và
của giới mình; làm cho nông dân vào Hội Nông dân cứu quốc cho đông
để phấn đấu cho mục đích của mình và tham gia công cuộc kháng chiến,
kiến quốc”[53, tr. 88]. Ngoài ra cần có những chính sách nhằm khuyến
khích nông dân yên tâm, phát triển sản xuất bởi: “Đồng bào ta, nhất là
đồng bào nông dân đã luôn hết sức trung thành với Đảng với Chính
phủ... nay ta đã hoàn thành thắng lợi, tôi có đề nghị miễn thuế nông
nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, để cho đồng bào ta hỉ
hả mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”
Ngày nay, trong điều kiện phát triển mới của đất nước, trên cơ sở
xác định vai trò quan trọng của nông dân đối với toàn xã hội nói chung
Với truyền thống là một nước nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nông thôn là địa bàn cư trú của cư dân
nông thôn, vừa là địa bàn để nông dân trực tiếp sản xuất ra ra lương
thực, thực phẩm, đồng thời là nơi lưu giữ các giá trị truyền thống của
16
16
dân tộc. Trước xu thế chung của thời đại, muốn công nghiệp hóa, hiện
đại hóa thành công trước hết phải đảm bảo sự phát triển của nông
nghiệp, nông dân và nông thôn. Do đó, việc xây dựng nông thôn mới
được coi là mục tiêu rất quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Nắm bắt được yêu cầu đó, ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Mục tiêu tổng quát được
đảng ta xác định trong Nghị quyết số 26-NQ/TW là: “Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và
các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo
của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên
minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[8]. Ngày
04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800QĐ/TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”. Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng. Chương trình này bao gồm 11
nội dung sau: quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng
kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu
nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức
18
18
mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu
dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt
đẹp.
Nhóm hai: nhóm các tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội (gồm 8 tiêu
chí từ tiêu chí 2 tới tiêu chí 9):
Tiêu chí 2 về giao thông gồm các nội dung: Tỷ lệ km đường trục
xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật
của Bộ Giao thông vận tải; Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng
hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; Tỷ lệ km
đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; Tỷ lệ km đường
trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện.
Tiêu chí 3 về thủy lợi gồm các nội dung: Hệ thống thủy lợi cơ bản
đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; Tỷ lệ km trên mương do xã quản
lý được kiên cố hóa.
Tiêu chí 4 về điện gồm các nội dung: Hệ thống điện đảm bảo yêu
cầu kỹ thuật của ngành điện; Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an
toàn từ các nguồn.
Tiêu chí 5 về trường học bao gồm các nội dung: Tỷ lệ trường học
các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất
đạt chuẩn quốc gia.
Tiêu chí 6 về cơ sở vật chất văn hóa gồm các nội dung: Nhà văn
hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa thể thao du lịch; Tỷ lệ
thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa
thể thao du lịch.
Tiêu chí 7 về chợ nông thôn có nội dung: Chợ theo quy hoạch, đạt
chuẩn theo quy định.