BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VIỆT DŨNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VIỆT DŨNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các
thầy cô giáo Bộ môn Quản trị kinh doanh, Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Các đồng chí, đồng nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bắc
Giang. Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của TS. Nguyễn Quốc Chỉnh; sự ủng hộ,
động viên của gia đình và bè bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan,
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm
sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu.
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm
túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những
khiếm khuyết nhất định.
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Dũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
5
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TUÂN THỦ THUẾ
CỦA DOANH NGHIỆP
6
2.1
Lý luận về sự tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp
6
2.1.1
Khái niệm về thuế
31
2.2.1
Kinh nghiệm một số nước trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp
luật của người nộp thuế
31
3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
35
3.1
Đặc điểm địa bàn tỉnh Bắc Giang
35
3.1.1
Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
35
3.1.2
50
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
52
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
52
4.1
Tình hình doanh nghiệp trên địa bàn thuộc sự quản lý của Cục
thuế tỉnh Bắc Giang
52
4.1.1
Số lượng các doanh nghiệp theo đơn vị hành chính
52
4.1.2
4.2.3
Tình hình công tác Thanh tra, kiểm tra thuế
77
4.3
Một số giải pháp nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của
các doanh nghiệp
83
4.3.1
Cơ sở khoa học
83
4.3.2
Đối với cơ chế, chính sách
85
4.3.3
Kết quả kỳ vọng khi thực hiện giải pháp
89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
95
PHỤ LỤC
97
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CQT
Cơ quan thuế
CTCP
Công ty cổ phần
ĐKKKNT
Đăng ký, kê khai và nộp thuế
DN
SSKT
Sổ sách kế toán
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TKTN
Tự khai tự nộp
TNCN
Thuế thu nhập cá nhân
TNDN
Thuế Thu nhập doanh nghiệp
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTHT
Tuyên truyền hỗ trợ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang
41
3.4
Kết quả phát triển sản xuất tỉnh Bắc Giang (Theo giá hiện hành)
43
3.4
Các Phòng chức năng thuộc Cục thuế tỉnh Bắc Giang
46
3.8
Số lượng cán bộ, công chức Cục thuế tỉnh Bắc Giang năm 2013
48
3.9
Số mẫu lựa chọn nghiên cứu
50
4.1
Thực trạng tuân thủ thông qua hồ sơ khai thuế
57
4.7
Tuân thủ kê khai thuế cuả doanh nghiệp
58
4.8
Thực trạng nợ đọng tiền thuế của DN trên địa bàn tỉnh
60
4.9
Số thuế nợ đọng của các Doanh nghiệp thuộc địa bàn nghiên cứu
trên tổng số nợ đọng tiền thuế tỉnh Bắc Giang
60
4.10
Số DN không phối hợp với cơ quan QLT
62
4.15
Kết quả hoạt động hỗ trợ năm 2013
72
4.16
Kết quả hoạt động tuyên truyền
73
4.17
Số hồ sơ được tiếp nhận qua cơ quan thuế
74
4.18
Số lượng DN nợ thuế và các Biện pháp thu hồi Nợ thuế
75
4.19
Kết quả Kiểm tra thuế đối với DN
78
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang
35
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi bắt đầu có hình
thái Nhà nước, dù trong hình thái xã hội, vai trò, phương diện nào, đều phát
sinh một hay nhiều khoản đóng góp bắt buộc mang tính một chiều, đó là
Thuế. Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc của các tổ chức, cá
nhân cho Nhà nước, tuỳ theo mức độ và thời hạn được quy định, Thuế không
mang tính hoàn trả trực tiếp, mà chủ yếu nhằm sử dụng cho mục đích công. Ở
Việt Nam, các Luật thuế được ban hành và đảm bảo tính thực thi thông qua
các biện pháp mệnh lệnh hành chính, mang tính thuyết phục, giáo dục và
cưỡng chế bằng hệ thống công vụ của Nhà nước [1], tuy nhiên, để thực sự
khẳng định vai trò của Thuế vào hệ thống các Văn bản pháp lý có hiệu quả,
hiệu lực, đưa công tác Quản lý Thuế trên phạm vi cả nước với tầm ảnh hưởng
cụ thể và quy định rõ, xâu chuỗi các hệ thống quy phạm về Thuế đối với
quyền và trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, các cá nhân và toàn xã hội
một cách khoa học là một vấn đề đòi hỏi cả về mặt thời gian, công sức và trí
tuệ của toàn cộng đồng xã hội, chính vì vậy Luật Quản lý thuế hiện nay đã
được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2007 đã góp phần làm minh
bạch thêm công tác quản lý thuế tại Việt Nam, tạo hành lang pháp lý “sâu,
rộng” cho hoạt động quản lý thuế. Nhìn chung, pháp luật thuế của nước ta
luôn nhận được sự đồng thuận của đa số quần chúng nhân dân và được đông
Từ những thách thức nói trên, cơ quan quản lý thuế (QLT) ở nhiều
quốc gia đang có những nỗ lực đổi mới hệ thống quản lý thuế của mình dựa
trên chính những điểm mạnh họ sẵn có, xây dựng chiến lược quản lý thuế đối
với DN dựa trên quan điểm DN hay phạm vi rộng hơn là đối tượng nộp thuế
(ĐTNT) chính là khách hàng của cơ quan thuế. Chiến lược quản lý thuế đối
với DN ở nhiều quốc gia vì vậy hướng vào những yếu tố thuộc đặc điểm tuân
thủ của các nhóm DN khác nhau. Lợi ích kỳ vọng rất nhiều từ chiến lược này
là tăng cường tính tuân thủ tự nguyện của DN và làm thay đổi hành vi tuân
thủ pháp luật thuế của những DN phản kháng với nghĩa vụ thuế theo hướng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
tích cực hơn. Chiến lược quản lý thuế dựa trên sự tuân thủ của DN giảm gánh
nặng quản lý hành chính thuế, đặc biệt ở những thành phố lớn có số lượng
DN tăng trưởng nhanh. Những chiến lược hướng về “khách hàng” bắt đầu
được xây dựng và thực thi ở các nước phát triển từ thập niên những năm 70
của Thế kỷ trước và hiện nay đang thực hiện ở nhiều nước đang phát triển.
Cùng với chiến lược hướng tới khách hàng, nhiều quốc gia đã và đang xây
dựng cơ chế tự khai tự nộp (TKTN) thuế. Lợi ích của cơ chế này đã được
khẳng định, đó là làm tăng tính tự nguyện, chủ động của NNT, đồng thời sẽ
giảm chi phí quản lý hành chính thuế và nâng cao hiệu lực quản lý thông qua
sự tuân thủ tự nguyện.
Sự đổi mới quản lý thuế của Nhà nước đối với DN ở Việt Nam cũng
không thể nằm ngoài xu hướng nói trên, sự thay đổi cơ chế quản lý thuế theo
cơ chế TKTN là một tín hiệu tích cực thể hiện xu hướng mới trong quản lý
thuế đó là tạo sự chủ động và dân chủ hơn cho DN. Hệ thống quản lý TKTN
bắt đầu được thí điểm từ đầu năm 2004 ở một số DN và thí điểm với hai loại
thuế cơ bản đó là thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập DN (TNDN)
thuế của nhà nước, trốn thuế, thể hiện tính tuân thủ pháp luật Thuế thấp.
Tình trạng này đã gây ra nhiều tác động tiêu cực như làm mất kỷ
cương; gây thất thu cho NSNN; làm mất bình đẳng trong cạnh tranh và hoạt
động kinh doanh; tác động xấu tới thông tin trên địa bàn, ảnh hưởng tới vai
trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước, .... Vậy mức độ tuân thủ pháp luật của DN
ra sao? Những nguyên nhân nào liên quan đến hành vi không tuân thủ pháp
luật thuế của họ? Cần thực hiện những giải pháp gì để nâng cao tính tuân thủ
Pháp luật về thuế? Đó là những câu hỏi đặt ra cần được nghiên cứu và đề ra
các Giải pháp trong công tác quản lý thuế trên địa bàn Bắc Giang hiện nay.
Để góp phần trả lời những câu hỏi trên đây, Tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu: “Giải pháp nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng tuân thủ pháp luật về thuế của các
doanh nghiệp trong thời gian vừa qua, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự tuân
thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tuân thủ pháp
luật thuế của doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian vừa qua.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tuân thủ pháp
luật thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Ngân sách nhà nước, phục vụ chi dùng cho việc chung, mọi cá nhân, tổ chức
(gọi chung là NNT) đủ điều kiện đều phải đóng thuế. Việc bỏ ra một khoản
tiền để đóng thuế không mang lại lợi ích trực tiếp cho NNT nhưng họ vẫn
phải nộp bởi nguồn thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước,
thiếu nguồn thu này Nhà nước không thể duy trì hoạt động. Vì vậy, Nhà nước
sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với NNT không thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế.
- Thuế mang tính chất không hoàn trả trực tiếp và tương xứng. NNT
phải đóng thuế khi đủ điều kiện và họ không nhận được bất cứ lợi ích trực
tiếp gì từ việc đóng thuế, tuy nhiên có sự hoàn trả gián tiếp thông qua việc
Nhà nước sử dụng thuế cho các nhu cầu chung của xã hội.
- Thuế luôn gắn với quyền lực nhà nước, là hai phạm trù không thể tách
rời: Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là
phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực nhà nước.
Như vậy, việc nộp thuế của DN đảm bảo cho Nhà nước có thể thực
hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thông qua đó để thống kê,
kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh
doanh (SXKD), các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo
sự cân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của đất nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
- Nộp thuế của DN sẽ đảm bảo tính công bằng trong tuân thủ nghĩa vụ
thuế giữa các DN ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại
hình quy mô khác nhau. Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một DN sẽ ảnh
hưởng tích cực đến các DN khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong
cộng đồng DN, kích thích sự tuân thủ của đại bộ phận các DN còn lại, đặc
biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các DN đang
(1) Tuân thủ mục đích của luật
(2) Thoả hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đó
hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và tuân thủ luật theo cách mà các
mục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được
(3) Chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích
cực cho việc trốn thuế
(4) Phá vỡ hoặc không tuân thủ luật với hy vọng không bị phát hiện
bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào.
Cũng theo Mc Barnet, phần lớn các DN lớn có xu hướng là “Sáng suốt,
sàng lọc” trong việc lựa chọn sự tuân thủ, họ có xu hướng chọn cách trốn thuế
theo phương án thứ hai và thứ ba, còn DN nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế
theo cách thứ tư [21].
Do vậy, tuân thủ pháp luật thuế nghĩa là tuân thủ mục đích của luật
trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được
thực hiện trên thực tế.
Tuy nhiên, khái niệm tuân thủ pháp luật thuế vẫn được các nhà nghiên
cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu chuyên sâu vào tính tự nguyện
hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế.
Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết
rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ, và chỉ chấp hành
nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan quản lý thuế hay khi bị tác
động bởi lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế tuân thủ luật và cách tiếp
cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc
tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế. Nghiên cứu khái niệm tuân thủ pháp
luật thuế thông qua việc tập trung vào sự không tuân thủ và tính cưỡng chế
tuân thủ là quá đơn giản hoá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Page 9
nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ pháp luật thuế của họ.
Tránh thuế được đánh giá là tích cực hơn trốn thuế. Kiến thức về thuế của
NNT càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn được lựa chọn
hình thức trốn thuế nhiều hơn. Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì NNT
có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn [8].
2.1.2.2 Các mức độ tuân thủ pháp luật thuế của DN
Vấn đề cơ bản là làm thế nào để tăng cường sự tuân thủ của DN trong
điều kiện môi trường luôn biến động? Điểm xuất phát của hoạt động quản lý
thuế là cần hiểu được sự tuân thủ pháp luật thuế của DN. Cơ quan quản lý
thuế cần nhận thấy rằng sự tuân thủ pháp luật thuế của DN không đơn giản là
tuân thủ hay không tuân thủ mà cần định hình hành vi đó sẽ diễn ra ở nhiều
mức độ hay nhóm khác nhau. Vì vậy, cơ quan quản lý thuế cần phân biệt đâu
là nhóm tuân thủ và không tuân thủ và sự tuân thủ của từng nhóm đối tượng
diễn ra ở mức độ nào? Từ đó, cơ quan quản lý thuế có chiến lược thích hợp
đối với từng nhóm DN. Mỗi cơ quan quản lý thuế phải hiểu được trạng thái
tuân thủ pháp luật thuế của từng nhóm và “trạng thái tuân thủ” đó dưới tác
động của các yếu tố sẽ chi phối đến hành vi tuân thủ pháp luật thuế.
• Biểu đồ các nhóm tuân thủ pháp luật thuế.
Để nhìn nhận rõ biểu đồ này, tác giả Braithwaite đã tiến hành phân đoạn
nhóm hay mức độ tuân thủ của DN dựa trên mức độ sẵn sàng và khả năng thực
hiện những nghĩa vụ thuế đúng của DN. Đây cũng chính là các nhóm bày tỏ mối
quan hệ và thái độ của DN với cơ quan thuế, thể hiện mức độ chấp nhận hay từ
chối các quy định của pháp luật thuế, các kế hoạch triển khai và công cụ quản lý
thuế. Để đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của DN thì biến số về nhóm (mức
độ) tuân thủ là các biến số tương đối đầy đủ, phản ánh rõ sự tuân thủ cả về tính
tự nguyện, tính đầy đủ, tính kịp thời. Sự tuân thủ pháp luật thuế của DN được
phát triển như Việt Nam, nơi có tinh thần thuế thấp và gánh nặng về chi phí
tuân thủ khá lớn. Vì vậy, biểu đồ trên cần được điều chỉnh cho phù hợp với
ĐTNT ở các nước đang phát triển. Với đánh giá theo mức điều chỉnh tại các
nước đang phát triển như tại Việt Nam, tỷ lệ DN ở nhóm cố gắng tuân thủ và
sẵn sàng tuân thủ khá nhỏ, trong khi tỷ lệ miễn cưỡng tuân thủ cao, tuy nhiên
tỷ lệ DN từ chối tuân thủ không lớn.
• Các chỉ số đặc trưng cho từng nhóm tuân thủ pháp luật thuế của DN
Theo biểu đồ các nhóm tuân thủ, sự tuân thủ pháp luật thuế của DN
thay đổi ở bốn nhóm hay mức độ tuân thủ khác nhau. Sự tuân thủ pháp luật
thuế ở mỗi nhóm được thể hiện qua các chỉ số nộp đủ, đúng thời gian và tự
nguyện (bảng 2.1).
Bảng 2.1: Các chỉ số đặc trưng cho
các nhóm tuân thủ pháp luật thuế của DN
Nộp đủ
Đúng thời gian
Tự nguyện
-
-
-
Miễn cưỡng tuân thủ
+
ba chỉ số phân tích phản ánh đều rất kém [21].
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của DN
Sự tuân thủ pháp luật thuế của DN có thể thể hiện qua các yếu tố tác
động đến sự tuân thủ như hình 2.3 (bên dưới). Cơ quan thuế muốn hiểu sự
tuân thủ pháp luật thuế của DN phải hiểu được môi trường trong đó các DN
hoạt động và xác định được những yếu tố tác động đến sự tuân thủ pháp luật
thuế. Phân tích đầy đủ các yếu tố này cho phép cơ quan thuế hiểu rõ tại sao
DN tuân thủ hoặc không tuân thủ và tại sao DN lại ở một nhóm tuân thủ nhất
định nào đó.
Khả năng hoạt
động của DN
Nhân tố tâm lý
của DN
Yếu tố kinh tế,
xã hội
Từ chối
Sự tuân thủ
thuế của DN
Năng lực quản
lý của CQ thuế
Hệ thống,
chính trị pháp
tuân thủ của tất cả các nhóm NNT. Thông thường, khi nền kinh tế phát triển,
tình hình chính trị, xã hội ổn định thì thì nhóm yếu tố này có thể bỏ qua vì khi
đánh giá mức độ ảnh hưởng tới tính tuân thủ của NNT qua các năm là tương
đối ổn định.
Tuy nhiên, trong trường hợp tình hình kinh tế xã hội bất ổn thì tác động
của nhóm yếu tố này đến tình tuân thủ của NNT lại rất lớn cả về phạm vi và
mức độ ảnh hưởng.
Thứ nhất về yếu tố kinh tế: Lãi suất thị trường và lãi suất ngân hàng là
yếu tố tác động đến quyết định tuân thủ, trì hoãn hay không tuân thủ pháp luật
thuế. Trong trường hợp lãi suất tăng, một NNT có tinh thần và đạo đức thuế
không tốt sẽ có khả năng trì hoãn việc nộp thuế; hoặc tuân thủ nhưng không
tự nguyện; hoặc có khả năng trốn thuế hay tránh thuế. Vì vậy, lãi suất thị
trường thường được các nhà phân tích theo cách tiếp cận kinh tế lấy làm cơ sở
cho việc thiết lập các hình phạt đối với NNT khi họ không tuân thủ.
Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT
khi nó tác động vào mức sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Lạm phát
quá cao sẽ cản trở hành vi tuân thủ pháp luật thuế. Lạm phát ổn định ở mức
hợp lý sẽ kích thích sản xuất kinh doanh và tác động đến sự tuân thủ pháp luật
thuế của NNT thông qua hiệu ứng thu nhập.
Thứ hai là yếu tố xã hội: Các nhân tố xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến nội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
dung cơ bản của từng sắc thuế và cả hệ thống chính sách thuế, từ đó tác động
đến sự tuân thủ pháp luật thuế thông qua những nhân tố như:
Chuẩn mực xã hội, sự hỗ trợ xã hội và trách nhiệm của NNT trong
cộng đồng. Chuẩn mực xã hội là những tiêu chuẩn hành vi trong tuân thủ
pháp luật thuế do xã hội mong muốn và được chấp nhận chung của đa số