1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vòm mũi họng là một trong mười bệnh ung thư hay gặp ở Việt
Nam. Bệnh là mối quan tâm từ lâu của các nhà dịch tễ học, miễn dịch sinh
học phân tử, sinh học và lâm sàng. Vì đặc điểm bệnh sinh của chúng thường
liên quan đến các yếu tố môi trường, tính di truyền cũng như với tình trạng
đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân, tập quán thói quen và virus. Các nghiên
cứu cho thấy bệnh có đặc điểm vùng, trên thế giới hình thành 3 khu vực địa lý
có tỷ lệ mắc bệnh khác nhau: khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao là vùng châu Á,
nước có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore với
tần suất 30-80 người/100.000 dân . Khu vực có tỷ lệ mắc bệnh trung bình và
có xu hướng tăng là vùng Bắc Phi, các nước Đông Nam Á như: Malaysia,
Indonesia, Philippine, Thái Lan và Việt Nam có tỷ lệ mắc là
5-
15/100.000 dân. Khu vực có tỷ lệ mắc bệnh thấp như Châu Âu, Bắc Mỹ có tỷ
lệ mắc bệnh là 1-5/100.000 dân .
Ở Việt Nam, ung thư vòm mũi họng là bệnh đứng đầu trong các ung
thư đầu mặt cổ. Tại Hà Nội ung thư vòm mũi họng xếp hàng thứ 6 với xuất độ
chuẩn theo tuổi 6,9/100.000 dân .Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, ung thư vòm
mũi họng đứng hàng thứ 6 với tỷ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 4,8/100.000
dân . Tại Cần Thơ, ung thư vòm mũi họng xếp hàng thứ 9 ở nam giới với xuất
độ chuẩn theo tuổi là 3,1/100.000 dân .
Ung thư vòm mũi họng thường được phát hiện giai đoạn muộn vì vị trí
giải phẫu khoang vòm họng nằm ở vị trí cao, sâu nên khó khám, các triệu
chứng của ung thư vòm mũi họng là triệu chứng “vay mượn” các cơ quan kế
cận như triệu chứng thần kinh, hạch cổ, đặc biệt là triệu chứng tai, mũi, họng.
Vì thế bệnh nhân đến khám chủ yếu ở giai đoạn muộn. Tại Bệnh viện K từ
2007-2011 có 4508 trường hợp ung thư vòm mũi họng điều trị, có đến 53,7%
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược giải phẫu vùng vòm mũi họng
1.1.1. Cấu trúc giải phẫu vòm
Hình 1.1. Thiết diện đứng dọc cấu trúc vòm mũi họng
(Trích từ Bài giảng giải phẫu học tập 1)
1. Xoang bướm
6. Đốt đội
2. Mảnh nền
7. Mỏm nha C2
3. Tổ chức V.A
8. Loa vòi Eustache
4. Hố Rosenmuller
9. Khẩu cái cứng
5. Giới hạn dưới của vòm
10. Khẩu cái mềm
Vòm mũi họng là một khoang mở nằm ngay dưới nền sọ, phía sau hốc
mũi có kích thước trung bình 6 x 4 x 3cm, được bao phủ bởi một lớp biểu mô
trụ lát tầng chế tiết nhầy.
Phía trước tiếp giáp với hốc mũi qua cửa mũi sau 2 bên. Liên quan phía
Robin được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà xạ trị khi điều trị ung thư đầu cổ.
5
Một số cấu trúc như mạch máu dây thần kinh không nhìn thấy rõ trên phim
chụp Computer Temograpphy Scanner (CT-Scan) và Magnetic Resonance
Imaging (MRI) vùng đầu cổ. Do đó xác định cấu trúc giải phẫu của các nhóm
hạch cổ trên phim CT-Scan và MRI là cần thiết cho các nhà xạ trị lập kế
hoạch điều trị tia xạ .
Năm 2003 hướng dẫn phân nhóm hạch cổ trên phim CT-Scan được
thông qua với sự đồng thuận cao của các học giả đến từ các tổ chức nghiên
cứu ung thư lớn như: European Organization for Research and Treatment of
Cancer (EORTC), Radiation Therapy Oncology Group (RTOG) , Nasopharyn
Cancer not differentiate (NCTC) .
Hệ thống phân loại hạch cổ theo Robin
Nhóm I:
Nhóm III: hạch cảnh giữa
Ia: hạch dưới cằm
Nhóm IV: hạch cảnh dưới
Ib: hạch dưới hàm
Nhóm V: hạch tam giác cổ sau
Nhóm II: hạch cảnh cao
Yếu tố môi trường: sự ô nhiễm môi trường khói, bụi, hóa chất được xem
là yếu tố nguy cơ cao đối với ung thư vòm mũi họng, nhưng được nói đến
nhiều là yếu tố ăn uống. Qua nghiên cứu của Ho cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao
ở những người đánh cá ở Hông Kông so với những người làm công việc khác.
Tập quán ăn cá muối, chế độ ăn nghèo Vitamin, hoa quả được chứng minh
7
làm tăng tỷ lệ ung thư vòm mũi họng. Trong cá muối có chứa rất nhiều hàm
lượng Nitrosamin là chất gây ung thư trên thực nghiệm .
Virus Epstein Barr (EBV): đây là loại virus Herpès ở người, nó là tác
nhân gây bệnh lymphoma Burkitt ở trẻ em và UTVMH, người ta thấy
Epstein có mã di truyền trong Acid Deoxyribo Nucleic (ADN) được tìm thấy
tại tế bào biểu mô vòm mũi họng và các tế bào lympho B . Sự phối hợp giữa
vius Epstein-Barr và ung thư vòm mũi họng đã rất rõ ràng và được minh
chứng bằng phản ứng miễn dịch Immuno globulin Antigen/Viral Capsid
Antigen (IgA/VCA) và (Immuno globulin Antigen/Early Antigen (IgA/EA)
tăng cao ở người bị nhiễm virus Epstein-Barr, từ lâu hơn nữa sự tồn tại của
IgA, VCA, EA hiếm thấy ở người không bị ung thư vòm mũi họng .
Yếu tố di truyền: gần đây một số tác giả có báo cáo là những người
cùng huyết thống có khả năng cùng mắc bệnh ung thư vòm mũi họng nhiều
hơn so với các loại ung thư khác. Tỷ lệ này hay gặp ở thế hệ dọc (ông bà, cha
mẹ, con cái) hơn là thế hệ ngang (anh, chị, em). Tại Hông Kông số người bị
ung thư vòm mũi họng trong một gia đình chiếm 7,2%, ở Quảng Châu là
5,9%. Gần đây người ta cũng đề cập tới sự liên quan giữa ung thư vòm mũi
họng và Histocompatbility Antigen (HLA) cũng như nói đến nhiễm sắc thể
chiếm 6,3% .
Tỷ lệ tăng cao của kháng nguyên HLA-2 ở vị trí thứ nhất và sự thiếu hụt
ở vị trí thứ 2 của kháng nguyên BW 46 còn gọi là Sin 2, tạo điều kiện thuận
hạch to, một số trường hợp có nổi hạch cổ hai bên. U ở trần vòm thường có
hạch cổ hai bên, u ở hố Rosenmuller thường có hạch cổ cùng bên. Nhưng đa
phần khi bệnh nhân đến khám, u lan rộng qua đường giữa, hay lan trần vòm
mũi họng .
Triệu chứng ở mũi: đây là dấu hiệu dễ bỏ qua hoặc chẩn đoán nhầm
sang bệnh lý khác. Biểu hiện nghẹt mũi một bên, thời kỳ đầu không thường
xuyên, thời gian sau nghẹt liên tục là do ung thư vòm lan bít cửa mũi sau,
kèm theo bệnh nhân có chảy máu mũi, xì ra nhầy lẫn máu do u hoại tử.
9
Khoảng 30% bệnh nhân có triệu chứng này , [40], .
Triệu chứng ở tai: triệu chứng thường gặp nhất là nghe kém do tràn
dịch tai giữa gây ra bởi tắc nghẽn vòi Eustache hay gặp kèm theo ù tai tiếng
trầm ở một bên, một số trường hợp chảy mủ tai do viêm tai giữa thanh dịch.
Triệu chứng ở mắt: ở giai đoạn muộn u xâm lấn rộng gây chèn ép tổn
thương dây thần kinh II, III, IV, VI, bệnh nhân biểu hiện nhìn đôi, lác mắt,
sụp mi, giảm thị lực.
Triệu chứng thần kinh: hay gặp ở giai đoạn muộn, phụ thuộc vào vị trí
xâm lấn của khối u. Tổn thương các dây thần kinh thường gặp là dây V, VI.
Các hội chứng thường gặp là:
Hội chứng khe bướm: liệt toàn bộ nhãn cầu do tổn thương các dây thần
kinh III, IV, VI và đau nhức vùng trán, ổ mắt do tổn thương nhánh mắt của
dây V.
Hội chứng đỉnh hố mắt: gây mù mắt do tổn thương ống thị giác.
Hội chứng đá - bướm hay hội chứng Zacod: liệt toàn bộ nhãn cầu, mù
mắt, liệt cơ nhai, mất cảm giác nữa bên mặt kèm theo điếc do tổn thương các
dây thần kinh II, III, IV, V, VI.
Hội chứng lỗ rách sau hay hội chứng Vernet: gây liệt họng, liệt màn
Khám tổng quát đánh giá toàn trạng chung của bệnh nhân
Khám phát hiện hạch cổ di căn
Khám phát hiện các hội chứng tổn thương các dây thần kinh sọ não
Trước một bệnh nhân có những triệu chứng nghi ngờ và phải được
khám tỉ mỉ vòm mũi họng: soi vòm gián tiếp qua gương hoặc soi vòm bằng
ống soi (cứng, mềm). Qua soi vòm có thể thấy u vòm hoặc một tổ chức sùi
mủn nát, loét hoặc thâm nhiễm dễ chảy máu, đồng thời có thể sinh thiết khối
u làm chẩn đoán mô bệnh học.
Soi vòm bằng ống soi mềm: đây là phương pháp tốt nhất để đánh giá
tổn thương qua đó sinh thiết khối u một cách chính xác. Qua soi ống soi mềm
11
ta có thể phát hiện các bệnh tích khi còn nhỏ, thâm nhiễm, vết loét trợt nông ở
bề mặt niêm mạc . Soi bằng ống soi cứng: ống soi loại mũi xoang 0 o,30o, 70o.
Nội soi phóng đại để xem rõ, có thể thảo luận và hội chẩn.
Hình 1.3. Hình ảnh ung thư vòm mũi họng qua nội soi (trích dẫn từ
"Nasopharyngeal Carcinoma". Head and Neck Pathology)
Sinh thiết: Sinh thiết khối u vòm để chẩn đoán xác định ung thư vòm
mũi họng. Với đặc điểm vòm mũi họng nằm ở vị trí sâu, các tổn thương ở
dạng u sùi, hoại tử hay dạng thâm nhiễm, nên việc sinh thiết có thể bấm sinh
thiết nhiều lần mới có chẩn đoán kết quả mô bệnh học dương tính.
1.3.3. Cận lâm sàng
1.3.3.1. Chẩn đoán hình ảnh
Vai trò của chẩn đoán hình ảnh đối với ung thư vòm mũi họng là xác
định chính xác sự lan rộng của khối u nguyên phát.
- Chụp X quang qui ước: Chụp tư thế Blondeau và Hirtz. Trên phim
Blondeau chủ yếu đánh giá hình ảnh mờ khối xoang hàm một bên hoặc cả hai
đối quang của tổ chức phần
mềm ảnh của MRI ưu thế hơn
nhiều kỹ thuật khác trong chẩn
đoán và đánh giá giai
đoạn
bệnh.
Hình 1.5. Hình ảnh UTVMH giai đoạn T2
Chụp rất cao và có thể tạo hình
và hạch cổ di căn trên phim MRI.
ảnh trên nhiều mặt phẳng khác
[ HYPERLINK \l "_ENREF_81" \o "Perez
nhau nên hình MRI có giá trị
Carlos, 2008 #137" 81].
trong đánh giá tổn thương phần
Hình 1.6. Khối u vòm mũi họng xâm
lấn khoang cạnh hầu trên CT (trích
Principles and Practice of Radiation
Oncology) [85]
tổn thương hạch vùng, nó
đặc biệt có giá trị khi đánh giá tổn thương xương nền sọ. Chụp CT - Scan
góp phần quan trọng trong đánh giá giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh, giúp các
nhà xạ trị lập kế hoạch điều trị tia xạ và theo dõi sau điều trị .
PET/CT: có vai trò trọng chẩn đoán chính xác giai đoạn bệnh, tầm soát
tốt di căn xa. Đồng thời giúp đánh giá chính xác thể tích xạ trị trong lúc lập kế
hoạch mô phỏng, tối ưu hóa trên mô khối u và hạn chế liều trên mô lành .
Siêu âm vùng cổ: nhầm phát hiện các tổn thương hạch vùng cổ. Siêu
âm Doppler để khảo sát mạch cảnh, mạch sống cổ khi nghi ngờ UTVMH
xâm lấn phần mềm thành bên họng, tổ chức phần mềm quanh bó mạch cảnh.
1.3.3.2. Xét nghiệm máu
Xét nghiệm huyết học: đánh giá toàn trạng bệnh nhân qua công thức
14
máu gồm: Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết sắc tố.
Xét nghiệm hóa học: đánh giá chức năng gan, thận, đường huyết...
Các phản ứng huyết thanh tìm hiệu giá kháng nguyên kháng thể với
virus Epstein-Barr (IgA/VCA) trước, trong và sau điều trị để đánh giá tiên
lượng bệnh nhân.
1.3.3.3. Chẩn đoán mô bệnh học
Chẩn đoán mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư.
Ung thư vòm mũi họng là ung thư biểu mô phát sinh từ biểu mô bề mặt
và được xếp loại theo tổ chức y tế thế giới thành ba loại mô học là: carcinôm
tế bào gai sừng hóa (WHO typ I), carcinôm tế bào gai không sừng hóa (WHO
typ II) và carcinôm không biệt hóa (WHO typ III) .
Ba loại mô học vi thể được xác định dựa trên hình ảnh chiếm ưu thế là:
Carcinôm tế bào gai sừng hóa: ở các nước tỷ lệ ung thư vòm mũi họng
thấp như Mỹ, UTVMH sừng hóa chiếm khoảng 25% tất cả các loại ung thư
hạch nghi ngờ rồi phết lên lam kính, nhuộm và đọc.
Chẩn đoán tế bào học chỉ có tác dụng giúp định hướng chẩn đoán,
không có vai trò quyết định trong chẩn đoán. Nó có vai trò nhất định trong
sàng lọc phát hiện sớm ung thư, có thể thực hiện ở tuyến cơ sở.
1.3.4. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán ung thư vòm mũi họng không đơn giản, cần phối hợp nhiều
yếu tố: triệu chứng cơ năng, triệu chứng lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm
sàng: nội soi vòm, chụp CT-Scan, siêu âm cổ và chẩn đoán mô bệnh học.
1.3.5. Chẩn đoán giai đoạn bệnh
Hệ thống phân loại của tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC 2002:
16
Union for International Cancer Control) .
T (Tumor): Khối u nguyên phát
Tx: không thể đánh giá được khối u nguyên phát
T0: không có bằng chứng của khối u nguyên phát
Tis: ung thư biểu mô tại chỗ
T1: u giới hạn trong vòm mũi họng
T2: u xâm lấn ra phần mềm ngoài vòm mũi họng
2a: u xâm lấn khoang miệng, hốc mũi nhưng không lan vào
khoang cận hầu
2b: u xâm lấn khoang cận hầu
T3: u xâm lấn các cấu trúc xương, các xoang cạnh mũi
T4: u xâm lấn nội sọ, các dây thần kinh sọ não, hố thái dương, hạ họng
hốc mắt, khoang cơ nhai.
N (Node): hạch vùng
Nx: không thể đánh giá được hạch lymphô vùng
N0: không có di căn hạch lymphô vùng
IV C : T bất kỳ Nbất kỳ M1
1.4. Điều trị
1.4.1. Xạ trị
Xạ trị là phương pháp điều trị chính và chủ yếu hiện nay của ung thư
vòm mũi họng. Xạ trị có thể điều trị khỏi 70-90% ung thư vòm mũi họng giai
đoạn I, II và 45% ung thư vòm mũi họng giai đoạn III và 15% ở giai đoạn IV
.
Đã hơn 100 năm từ khi Roentgen phát hiện ra tia X năm 1895 và đến
năm 1898 Ông bà Curie báo cáo phát hiện được Radium.
Đến năm 1934, Coutard đưa ra phác đồ xạ trị với phân liều làm nền
tảng cho kỹ thuật xạ trị đến nay.
Với dòng thời gian, các chất đồng vị phóng xạ càng được sử dụng
chính xác hơn, kỹ thuật tính liều và điều trị ngày càng tinh vi hơn. Với các
kiến thức về vật lý phóng xạ, sinh học phóng xạ và kế hoạch điều trị lâm
sàng, cùng với sự phát triển về việc sử dụng vi tính trong lập kế hoạch điều
trị cho bệnh nhân, ngành xạ trị ung thư góp phần đạt được thành quả điều trị
khỏi hơn 50% ung thư mới được chẩn đoán .
Mặc dù phẫu thuật và hoá chất đều có những đóng góp nhất định, song
xạ trị vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu và hiệu quả nhất đối với ung thư
vòm mũi họng. Xạ trị được áp dụng cho tất cả các giai đoạn của bệnh, nhằm
mục đích triệt căn. Điều trị UTVMH có hai phương pháp xạ trị được áp dụng
18
đó là xạ trị từ xa (xạ trị ngoài) bằng nguồn năng lượng photon của máy
Cobalt-60 hoặc tia X từ máy gia tốc và xạ trị áp sát bằng các nguồn có hoạt
tính phóng xạ như Radium,Cesium, hạt vàng, iridium. Hiện nay hóa xạ trị
đồng thời là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho ung thư vòm mũi họng tiến
một liều bức xạ cao vào khối u mà không gây ảnh hưởng bức xạ đáng kể nào
đến những tổ chức bình thường quanh khối u. Thông thường xạ trị áp sát
được chỉ định trong các trường hợp như sau:
Những bệnh nhân có nguy cơ thất bại tại chỗ cao cần phải được điều trị
áp sát như một điều trị thường qui. Những bệnh nhân khối u tan không hoàn
toàn sau xạ trị ngoài triệt căn, bệnh nhân khi cần thiết phải nâng liều cao vào
vòm mũi họng. Thường sau xạ ngoài 60Gy sẽ tiến hành chỉ định nâng liều
vào khối u ở vòm bằng xạ trị áp sát, có thể nâng liều thêm từ 15-20Gy.
Liều xạ vào vòm mũi họng đạt từ 66 - 75Gy tuỳ thuộc giai đoạn bệnh,
mức độ lan rộng u và thể mô bệnh học.
Liều xạ vào hệ hạch cổ từ 50 - 70 Gy, tùy thuộc các mức độ di căn
hạch, từ N0 đến N3. Liều xạ dự phòng hạch toàn cổ đạt 50Gy .
Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại như chụp cắt lớp vi tính
(CT- Scanner), chụp cộng hưởng từ hạt nhân không những đóng vai trò quan
trọng trong đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương, mà còn làm cơ sở để
lập kế hoạch điều trị, nhằm làm tăng kiểm soát tại chỗ, cải thiện sống thêm.
Với những ích lợi do kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mới đem lại, việc
lập kế hoạch xạ trị theo không gian 3 chiều, xạ trị điều biến cường độ
(Intensity Modulated Radiation Therapy: IMRT), xạ trị dưới hướng dẫn hình
20
ảnh (IGRT) có ý nghĩa tăng sống còn, giúp tập trung liều xạ tối đa vào thể tích
khối u, giảm liều mô lành .
Chỉ định của xạ trị:
Xạ trị tận gốc: đối với những bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai
đoạn sớm, còn khu trú tại chỗ tại vùng, có chỉ số hoạt động động cơ thể tốt,
dung nạp với tốt với xạ trị, bệnh nhân chấp nhận xạ trị.
Xạ trị tạm bợ: đối với những bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai
giảm bạch cầu xảy ra vào ngày thứ 5, giảm tiểu cầu giảm vào ngày thứ 10 và
giảm hồng cầu vào tháng thứ hai .
1.4.2. Điều trị hóa trị:
Kết hợp hóa trị và xạ trị đồng thời nhằm tăng hiệu quả diệt tế bào. Xạ
trị tăng nhạy xạ khi tế bào ở cuối chu kỳ G2 và chu kỳ phân chia (Mitosis).
Kháng tia nhất cuối chu kỳ S, đầu chu kỳ G2. Trong xạ trị luôn nắm vững
nguyên tắc 5R để đảm bảo tính chất tăng nhạy xạ:
Sự sửa chữa tế bào (repair): tế bào càng biệt hóa càng có khả năng sửa
chữa tốt càng kháng xạ, tế bào kém biệt hóa thì nhạy xạ hơn. Hóa trị ức chế
những tế bào bị tổn thương do xạ trị sửa chữa, làm tăng hiệu quả diệt tế bào.
Sự tái lập dân số tế bào (repopulation): ảnh hưởng bởi sự tái lập nhanh
hay chậm.
Sự phân bố oxy khối bướu (reoxygenation): xạ trị làm khối bướu thu
nhỏ lại giúp tái phân bố máu và oxy trung tâm bướu tốt hơn, giúp thuốc hóa
trị tới bướu tốt hơn làm tăng hiệu quả của hóa trị và nhạy xạ.
22
Sự tái sắp xếp chu trình tế bào (redistribution): hóa trị làm tăng đồng bộ
hóa chu trình tế bào, đưa các tế bào ở chu kỳ G 0 đi vào chu trình sinh sản.
Đồng thời làm tế bào dừng lại nhiều ở chu kỳ cuối G2 và chu kỳ M.
Khả năng nhạy xạ của bướu (radiosensitivity): phù thuộc đặc điểm của
từng loại bướu. Tế bào càng kém biệt hóa càng nhạy xạ, tế bào càng sinh sản
nhanh càng nhạy xạ.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ về ngành dược học, cùng với các
thử nghiệm lâm sàng làm thay đổi chiến lược trong điều trị UTVMH, đó là
điều trị kết hợp hóa chất và xạ trị. Kết hợp hóa chất và xạ trị bao gồm: điều trị
hóa chất tân hỗ trợ trước, hóa chất hỗ trợ sau và hóa xạ trị đồng thời.
Điều trị hóa chất tân hỗ trợ (hóa trị dẫn đầu): mục đích là làm khu trú
đơn thuần, thế nhưng với các tổn thương giai đoạn muộn thì tỷ lệ sống thêm
5 năm rất kém, chỉ từ 10 - 40% .
24
Thuốc sử dụng trong nghiên cứu là :
Cisplatin.
Tên khoa học là: Diammin-dichloro-platinum
Dạng thuốc: lọ tiêm 50mg
Tai biến và độc tính
Độc trên thận: có liên quan với liều. Khi bị suy thận thuốc sẽ bị tích
lũy, do đó cần phải giảm liều, ngoài ra ure và creatinin máu sẽ tăng.
Tác dụng phụ gây độc trên thính lực, có thể giảm hoặc mất thính lực.
Càng dùng lập lại thì tỷ lệ độc tính trên tiền đình ốc tai càng cao và mức độ
điếc càng nặng.
Do thuốc ức chế tủy xương dẫn đến giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu,
thiếu máu, tăng dần đến tuần thứ 3, đến tuần thứ 5- 6 thì phục hồi trở lại.
Buồn nôn và nôn: hầu như xảy ra đối với tất cả bệnh nhân sau khi
truyền hóa chất từ 1-4 giờ.
Bệnh thần kinh ngoại vi như mất cảm giác, kém nhạy cảm xảy ra khi
dùng lâu từ 4-7 tháng. Các phản ứng quá mẫn có thể xảy ra ngay sau tiêm:
phù mặt, khó thở, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp.
Chống chỉ định tuyệt đối cho người bị dị ứng với cisplatin, phụ nữ có
thai hoặc cho con bú. Chống chỉ định tương đối cho người có tổn thương chức
năng thận (nguyên tắc nếu creatinin tăng gấp 2 lần bình thường thì không
dùng cisplatin), có tổn thương thính giác.
1.4.3. Vai trò của phẫu thuật
Phẫu thuật có vai trò rất hạn chế trong điều trị UTVMH do khối u vòm
mũi họng là tổ chức nằm sâu dưới nền sọ, liền kề với rất nhiều cơ quan quan