BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------
PHAN ĐÌNH DIỆN
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG LÀNG NGHỀ
MÂY TRE ĐAN XUÂN LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH
BẮC NINH ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
CHUYÊN NGÀNH
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ
: 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN DUNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2014
Tác giả luận văn
Phan Đình Diện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
3
1.1
Cơ sở lý luận nghiên cứu làng nghề
3
1.1.1
Các khái niệm về làng nghề
3
1.1.2
Phân loại làng nghề
4
1.1.3
Tiêu chí xác định làng nghề
6
1.2
Cơ sở thực tiễn nghiên cứu làng nghề
22
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
2.1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
26
2.2
Nội dung nghiên cứu
26
2.3
Phương pháp nghiên cứu
26
2.3.1
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
26
Phương pháp kiểm kê nguyên vật liệu
32
2.3.7
Phương pháp xử lý số liệu
33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1
34
Khái quát điều kiện tự nhiên – Kinh tế - Xã hội làng nghề mây tre đan
Xuân Lai.
34
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
34
3.1.2
Điều kiện về kinh tế - xã hội
Quy trình sản xuất mây tre đan của làng nghề Xuân Lai
46
3.2.5
Sản phẩm của làng nghề mây tre đan Xuân Lai
48
3.2.6
Các nguồn phát sinh chất thải của làng nghề mây tre đan Xuân Lai
49
3.3
Hiện trạng chất lượng môi trường nước làng nghề mây tre đan Xuân
Lai
51
3.3.1
Hiện trạng chất lượng nước mặt
51
3.3.2
3.4.2
Tiến hành các hoạt động xử lý môi trường nước
65
3.4.3
Các giải pháp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường làng nghề
66
3.4.4
Bảo vệ sức khỏe cộng đồng
67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
68
Page iv
1
Kết luận
Phân bổ phiếu điều tra các hộ sản xuất tại làng nghề Xuân Lai
27
2.2
Vị trí và ký hiệu các mẫu nước tại làng nghề Mây tre đan Xuân Lai
29
2.2
Thời gian các đợt lấy mẫu nước tại làng nghề Xuân Lai
29
2.3
Danh mục các chỉ tiêu và phương pháp phân tích
30
3.1
Số liệu về nhiệt độ không khí, số giờ nắng, độ ẩm không khí, lượng
mưa và lượng bốc hơi hàng tháng
36
44
Tình hình sử dụng nguyên, nhiên liệu của các cơ sở sản xuất tại làng
nghề Xuân Lai
45
3.8
Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của làng nghề
48
3.9
Số lượng sản phẩm theo khu vực của làng nghề Xuân Lai
48
3.10
Lượng chất thải rắn sản xuất của các cơ sở sản xuất tại làng nghề
Xuân Lai
49
3.11
Bảng tổng hợp lượng rác thải đã thu gom và xử lý của làng nghề
Kết quả quan trắc chất lượng nước ngầm theo thời gian của làng nghề
Xuân Lai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
60
Page vi
3.17
3.18
Tỷ lệ bệnh tại làng nghề mây tre đan Xuân lai tính trên tổng số dân
trong khu vực
62
Một số bệnh phổ biến tại làng nghề Xuân Lai
63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT
3.2
Cơ cấu ngành nghề hộ gia đình của làng nghề Xuân Lai
39
3.3
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của làng nghề Xuân Lai trong giai đoạn
2010 – 2013
40
3.4
Quy trình sản xuất mây tre đan của làng nghề Xuân Lai
46
3.6
Biến động của một số thông số chính trong nước mặt làng nghề Xuân Lai
54
3.7
Diễn biến nồng độ các thông số COD, BOD5, TSS trong nước thải
làng nghề Xuân Lai theo thời gian
Nhu cầu oxy sinh học trong 5 ngày
BVMT
Bảo vệ môi trường
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
COD
Nhu cầu ôxy hóa học
GDP
Tổng thu nhập quốc dân
KT - XH
Kinh tế - xã hội
Tai nạn giao thông
TNLĐ
Tai nạn lao động
TSS
Nồng độ chất rắn lơ lửng
UBND
Ủy ban nhân dân
VSMT
Vệ sinh môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Các làng nghề
đã biết tận dụng lao động dư thừa vào lúc nông nhàn để tạo ra nhiều loại hình sản phẩm
phi nông nghiệp phong phú, đa dạng, hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt tạo ra lượng
lớn hàng hóa. Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
sở hạ tầng còn kém, quy trình sản xuất còn thủ công, chưa có hệ thống xử lý nước thải
tập trung hay công nghệ xử lý còn lạc hậu, chưa được đầu tư đúng mức.... Nên nước
thải phát sinh từ làng nghề gây ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sức khỏe của con người
và môi trường.
Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng
của hoạt động làng nghề mây tre đan Xuân Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đến
chất lượng nước”.
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động làng nghề mây tre đan Xuân Lai đến chất
lượng nước.
Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và quản lý chất lượng nước của làng nghề.
* Yêu cầu
Khảo sát và phỏng vấn các chủ cơ sở sản xuất làng nghề.
Tìm hiểu và thu thập thông tin về làng nghề.
Lấy mẫu và phân tích mẫu nước đề tài nghiên cứu.
Đánh giá đúng ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đến chất lượng nước.
Đề xuất giải pháp nhằm quản lý chất lượng nước làng nghề đạt hiệu quả.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu làng nghề
1.1.1. Các khái niệm về làng nghề
Khái niệm làng nghề được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các nhà nghiên cứu
đã đưa ra nhiều quan niệm về làng nghề, dưới đây là một số quan niệm.
Quan niệm thứ nhất: Dựa theo đề tài “Khảo sát một số làng nghề truyền
nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số
tiêu chí sau:
Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với
tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng
năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng.
Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp
hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ
hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do
người trong làng tham gia.
Như vậy, làng nghề là làng trong đó có phần lớn dân cư sống bằng các nghề phi
nông nghiệp và thường cùng một nghề chủ yếu.Thu nhập của người dân trong làng phần
lớn từ tiểu thủ công nghiệp. Đây trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập, chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng thu nhập của dân cư nông thôn.
1.1.2. Phân loại làng nghề
Cho đến nay ngành nghề trong nông thôn rất phong phú và đa dạng, có hàng trăm
ngành nghề khác nhau. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể phân loại làng nghề theo
các tiêu thức sau:
* Theo lịch sử hình thành:
Bao gồm làng nghề truyền thống và làng nghề mới hình thành.
Làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử
phát triển lâu đời với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều
thế hệ cho đến ngày nay.
Làng nghề mới hình thành:Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển
kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa
phương (chủ yếu là giải quyết vấn đề lao động). Các làng nghề mới hình thành này do
còn non kém về các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường là sản phẩm
cấp thấp hoặc ở các công đoạn thô.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
làng nghề bị mai một dần, thường là những sản phẩm công nghiệp như cuốc cầy Nghi
Khúc, dệt Tương Giang, tranh giấy Đông Hồ.…..
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có
thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, gồm 6
nhóm ngành chính (Hình 1.1), mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ. Mỗi nhóm ngành
làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hưởng khác nhau
tới môi trường.
Các nghề khác
15%
Vật liệu xây
dựng, khai
thác đá
5%
Dệt nhuộm,
ươm tơ, thuộc
da
17%
Tái chế phế
liếu
4%
Page 6
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề
nông thôn;
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận;
Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
* Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề
truyền thống theo quy định tại Thông tư này.
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn thứ nhất và thứ hai của tiêu chí công nhận
làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của
Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.
1.2. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu làng nghề
1.2.1. Thực trạng hoạt động các làng nghề trên thế giới
Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có một số công trình
nghiên cứu liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922);
“Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928).
Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International - Hội đồng Quốc tế
về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung
của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống(Ngô Trà Mai, 2008).
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải
pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn. Thực tế nhiều quốc gia trong
khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Trung Quốc sau thời kỳ cải
cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng
trưởng với tốc độ 20 - 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông
thôn. Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề
truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính
Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước và cộng đồng trong quản lý
môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường. Đây là giải pháp mang tính
bền vững cho sự phát triển của xã hội.
1.2.2. Thực trạng hoạt động các làng nghề Việt Nam
* Lịch sử hình thành và phát triển
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản
phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi,
góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông
nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Ví
dụ, như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề
gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái
Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Thành phố Đà Nẵng) cũng đã
hình thành cách đây hơn 400 năm (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).
Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế
thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. Qúa trình công nghiệp hóa cùng với việc áp
dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất
tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các
công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến. Các làng nghề mới và các cụm
làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng,
tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn.
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự
nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố
tơ, thuộc da
3. Thủ công mỹ nghệ - Gốm sứ
- Sơn mài, đồ gỗ mỹ
nghệ, chế tác đá
4. Tái chế
- Tái chế giấy
Bụi, CO, SO2, NOx. CH4
Nước thải
Chất thải rắn
BOD5, COD, SS, tổng N, Xỉ than, CTR từ nguyên liệu
tổng P, Coliform
Các dạng ô
nhiếm khác
Ô nhiễm nhiệt,
độ ẩm
Bụi, CO, SO2, NOx, hơi axit, BOD5, COD, độ màu, tổng Xỉ than, tơ sợi, vải vụn, cặn Ô nhiễm nhiệt,
hơi kiềm, dung môi
N, hóa chất, thuốc tẩy, Cr6+ và bao bì hóa chất
độ ẩm, tiếng ồn
- Bụi, SiO2, CO, SO, NOx, HF,
BOD5, COD, SS, độ màu, Xỉ than (gốm sứ), phế phẩm, Ô nhiễm nhiệt
THC
- Bụi, hơi xăng, dung môi, oxit dầu mỡ công nghiệp
( gốm sứ)
Ô nhiễm không khí:
Đối với các làng nghề, ô nhiễm không khí bao gồm các dạng ô nhiễm do bụi,
do khí độc hại, ô nhiễm mùi và ô nhiễm tiếng ồn. Các làng nghề tái chế mọc lên
ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, hàm lượng chất ô nhiễm
thường tăng cao cục bộ xung quanh lò nung, có nơi hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn
cho phép từ 3 - 8 lần, hàm lượng SO có nơi vượt đến 6,5 lần (Đặng Kim Chi, 2005).
Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ, môi trường không khí xung quanh
khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá, làng nghề chạm gỗ bị ô nhiễm nghiêm
trọng do bụi và tiếng ồn. Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt động chế tác đá còn
chứa một lượng không nhỏ SiO2 (0,56 - 1,91% tại làng nghề đá Non Nước - Đà
Nẵng) rất có hại cho sức khỏe. Tại làng nghề sản xuất mây tre đan, không khí
thường bị ô nhiễm bởi SO2 (phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản
phẩm mây tre đan). Ở tỉnh Thái Bình, nơi có 40/210 làng nghề làm mây tre đan, có
tới 800 lò sấy lưu huỳnh thải ra lượng khổng lồ khí SO2 từ quá trình xử lý chống
mốc cho các sản phẩm mây tre đan. Môi trường vi khí hậu ở các làng nghề dệt bị ô
nhiễm bởi tiếng ồn do các máy dệt thủ công. Mức ồn có nơi vượt tiêu chuẩn cho
phép từ 4 - 14 dBA (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Khác với các nhóm làng nghề trên, sản xuất tại các làng nghề chế biến lương
thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ phát sinh ô nhiễm không khí không chỉ do sử
dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải, chất thải
rắn tạo nên các khí như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 và các khí ô nhiễm gây mùi tanh
thối rất khó chịu, nhất là ở các cơ sở chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm (Đặng
Kim Chi, 2005).
Ô nhiễm nước:
Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề những năm gần đây
cho thấy, mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí còn tăng cao hơn trước.
Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề không giống nhau, phụ
thuộc trực tiếp vào loại công nghệ và nguyên liệu dùng trong sản xuất.
gồm da tự nhiên, giả da, cao su, chất dẻo với lượng thải lên tới 2 - 5 tấn/ngày (làng
nghề Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, Hải Dương: 4 - 5 tấn/ngày). Đây là loại chất thải
rất khó phân hủy nên không thể xử lý bằng chôn lấp. Từ nhiều năm nay loại chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
thải rắn này chưa được thu gom xử lý mà đổ khắp nơi trong làng, gây mất mỹ quan
và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái. Các làng nghề tái chế cũng tạo ra lượng chất
thải không nhỏ. Làng nghề tái chế giấy Dương ổ - Bắc Ninh thải ra 4 - 4,5 tấn chất
thải/ngày, làng tái chế nhựa Trung Văn và Triều Khúc thải 1.123 tấn/năm... Cho đến
nay các chất thải rắn này vẫn chưa được xử lý triệt để. (Bộ Tài nguyên và Môi
trường, 2008).
* Hiện trạng quản lý các làng nghề
Cùng với việc gia tăng phát triển cả về số lượng làng nghề và loại ngành
nghề, ô nhiễm môi trường cũng ngày càng tăng, nhiều nơi vượt quá tầm kiểm
soát của các cấp chính quyền. Nhận thức được vấn đề đó, bảo vệ môi trường
làng nghề đã được đề cập tại nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước.Tuy nhiên, do
các quy định không xét đến tính đặc thù riêng của làng nghề nên đến nay, tại
các làng nghề việc thu phí BVMT đối với chất thải, quản lý chất thải nguy
hại,… không được thực hiện.
Các văn bản này trên thực tế đã góp phần vào công tác bảo vệ môi trường,
định hướng phát triển bền vững làng nghề.Tuy nhiên, dù đã đạt được những kết quả
nhất định, nhưng quản lý môi trường làng nghề vẫn đang còn nhiều tồn tại, bất cập
chưa được giải quyết ở các mức độ và cấp độ quản lý khác nhau.
Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn
bản liên quan đến làng nghề nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và
Chính phủ ở địa phương. Cho đến nay, những yêu cầu về BVMT tại các làng nghề
như đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, các biện pháp giảm thiểu
xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng. Các làng nghề tập trung
chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề,
chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh). Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng
Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ... có từ lâu đời và nổi tiếng cả
trong và ngoài nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Bảng 1.2: Phân loại làng nghề theo sản phẩm ở Bắc Ninh
STT
Danh mục làng nghề
1
Sản xuất các sản phẩm từ tinh bột
2
Sản xuất rượu
3
Dịch vụ vật tư
Sản xuất đồ gỗ công cụ sản xuất, mộc
4
đơn giản
5
Đúc nhôm
6
Tơ tằm
7
Mộc cao cấp: giường, tủ
8
01
01
01
01
07
02
02
01
01
03
01
01
02
Nồi, xoong, chảo
Tơ tằm
Giường, tủ, bàn ghế
Tranh dân gian giấy màu
Cá con
Đậu phụ
Thúng, rổ, rá
Đồng, gò, đúc, nhôm gò, đúc
Giường, tủ, bàn ghế, cày, bừa
Thêu ren xuất khẩu
Lưới màn
Rượu gạo
Vận tải
Mỳ gạo, bánh đa
Chum, vại, chậu, âu, vò...
TỔNG SỐ
Tên sản phẩm chính
Mỳ gạo, bún khô, bánh đa nem
Rượu
Vật tư tổng hợp
62
(Nguồn: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15