BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------------------------
PHẠM VĂN HẠNH
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
TẠI HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------------------------
PHẠM VĂN HẠNH
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
TẠI HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân và cơ
quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình
của các thầy, cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viên Nông nghiệp
Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của Thầy giáo, TS Đỗ Quang
Giám –Trưởng bộ môn Kế toán Quản trị và kiểm toán Học viện Nông nghiệp Việt
Nam là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng Tài chính- Kế hoạch Huyện
Thanh Miện Tỉnh Hải Dương; các đồng nghiệp và các bạn bè đã nhiệt tình cộng tác,
cung cấp những tư liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Tuy nhiên có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn không tránh khỏi thiếu
sót, hạn chế. Tôi kính mong quý thầy, cô giáo, các chuyên gia, những người quan
tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã
nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề
tài.
Hà Nội, ngày
tháng 11 Năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Văn Hạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1
Mục tiêu chung
3
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Đối tượng nghiên cứu
3
1.4
5
2.1.1
Một số khái niệm về ngân sách nhà nước
5
2.1.2
Đặc điểm ngân sách nhà nước
7
2.1.3
Vai trò của ngân sách nhà nước
7
2.1.4
Tổ chức hệ thống và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
9
2.1.5
Nội dung chủ yếu của công tác quản lý ngân sách xã
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
36
3.1.1
Vị trí địa lý huyện Thanh Miện
36
3.1.2
Các điều kiện tự nhiên
37
3.1.3
Tình hình đất đai, dân số và lao động
37
3.1.4
Tình hình phát triển kinh tế
39
3.2.4
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
47
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1
Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện
4.1.1
Bộ máy quản lý ngân sách xã tại Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện
48
48
Thanh Miện
48
4.1.2
Công tác lập dự toán ngân sách xã
51
4.1.3
Nguyên nhân của những hạn chế
87
4.2.4
Đánh giá của chủ tịch, kế toán ủy ban nhân dân các xã, thị trấn về
quản lý ngân sách xã
89
4.3
Hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện
94
4.3.1
Định hướng hoàn thiện quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Thanh Miện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
94
Page iv
Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương
102
5.2.3.
Đối với các địa phương trên địa bàn huyện Thanh Miện
103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
104
Page v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
TÊN BẢNG
TRANG
3.1
Tình hình đấi đai, dân số, lao động huyện Thanh Miện
Thanh Miện (2011- 2013)
4.4
64
Tổng hợp chấp hành dự toán chi ngân sách xã, trên địa bàn huyện
Thanh Miện (2011- 2013)
67
4.5
Tổng hợp bổ sung dự toán chi ngân sách xã huyện Thanh Miện (2011- 2013)
71
4.6
Quyết toán thu ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013)
74
4.7
Quyết toán chi ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện (2011- 2013)
80
4.8
TRANG
Sơ đồ 2.1. Hệ thống Ngân sách Nhà nước
10
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ bộ máy quản lý Phòng Tài chính-Kế hoạch huyện Thanh Miện
49
Sơ đồ 4.2. Quy trình lập dự toán ngân sách xã
52
Biểu đồ 4.1. Biến động nguồn thu ngân sách xã của huyện Thanh Miện
76
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Thanh Miện
36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐND
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
1 PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã
đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn trên
nhiều lĩnh vực, đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng khoảng kinh tế- xã hội, kinh tế
tăng trưởng nhanh, cơ sơ vật chất được tăng cường, đời sống các tầng lớp nhân dân
không ngừng được cải thiện. Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta,
quan tâm đến nông nghiệp- nông dân - nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước đang được triển khai tại các địa phương là việc triển khai xây dựng
nông thôn mới, để giúp cho nông thôn có được đời sống vật chất và tinh thần ngày
càng tốt hơn. Để thực hiện điều đó ngoài việc xây dựng công trình cơ sở hạ tầng
chúng ta còn phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách cho quản lý ở cấp xã,
phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Ngân sách nhà nước (NSNN) có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt
động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng,
vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai
công tác quản lý ngân sách xã của huyện vẫn còn không ít địa phương gặp nhiều
khó khăn như: thu, chi sai qui định; chi không có cơ sở hoặc không có chứng từ
gốc, lập quỹ thu, chi không qua ngân sách. Công tác quản lý, khai thác nguồn thu từ
giao thầu, khoán đất công ích chưa hiệu quả, hợp đồng ký vượt thời hạn qui định.
Mặt khác, trình độ quản lý, điều hành của lãnh đạo xã, chuyên môn nghiệp vụ của
kế toán xã ở một số nơi còn hạn chế, thực hiện quá trình thu, quản lý sử dụng và
quyết toán nguồn chi còn có những vướng mắc.
Quá trình quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện đang diễn ra
như thế nào? Làm thế nào để quản lý tốt ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh
Miện? Để trả lời được các câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải có một nghiên cứu đầy
đủ về, quá trình quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Thanh Miện. Bên cạnh đó
từ trước đến nay chưa có một đề tài nghiên cứu, đánh giá nào về công tác quản lý
ngân sách xã của huyện Thanh Miện. Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài "Quản lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương".
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở hệ thống lý luận quản lý nhà nước về công tác quản lý ngân sách
xã, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý ngân sách xã tại
huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương trong thời gian qua, nêu lên những nguyên
nhân và hạn chế, để từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý ngân sách xã tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ hống cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và công tác quản
2 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm về ngân sách nhà nước
Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế- lịch sử, gắn liền với sự ra đời
của nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng quyền lực của
mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như
thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình, hình thành nên ngân
sách nhà nước bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước. Tuy nhiên
thuật ngữ “ngân sách nhà nước” chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã hội phát
triển đến một giai đoạn nhất định. Khi đó các khoản thu, chi của nhà nước được thể
chế hoá bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc về
Quốc hội và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành.
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ
của Nhà nước. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính
luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh tế xã hội.
Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ
thể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước chuyển
dịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhà
nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như trong khu
vực tài chính nhà nước nói riêng, NSNN luôn giữ vị trí trọng yếu trong việc đảm
bảo cho sự tồn tại cũng như đối với các hoạt động của nhà nước.
Quan điểm thứ nhất: “Ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu chi tài
chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm”
Quan điểm thứ hai: “Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước”
(Đồng Thị Vân Hồng, 2010)
Từ những quan điểm trên về NSNN ta thấy rằng các quan điểm này có những
giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong việc thiết lập và thi hành ngân
sách; thủ tục soạn thảo, quyết định và chấp hành ngân sách cũng như sự phân chia
giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong việc kiểm soát quá trình ngân sách.
Quốc hội (2002) khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt
Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai tại Điều 1 Luật NSNN được cũng khẳng
định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
2.1.2 Đặc điểm ngân sách nhà nước
Ngân sách Nhà nước có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất: Ngân sách nhà nước có tính pháp lý cao, trong quá trình thực hiện
được tiến hành trên cơ sở những pháp lý nhất định, khiến các hoạt động thu, chi của
ngân sách nhà nước thực hiện tuân thủ và nghiêm ngặt.
Thứ hai: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn
lực tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước, trong đó thu ngân
sách giữ vai trò quyết định của Ngân sách nhà nước.
Thứ ba: Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa
đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng; các mối quan hệ lợi ích đó luôn được
bảo đảm công bằng giữa các đối tượng, những vấn đề lợi ích của quốc gia, lợi ích
của tập thể phải được đặt lên hàng đầu và nó thực hiện việc chi phối tất cả các mặt
lợi ích khác trong xã hội.
Thứ tư: Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ
khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung
của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới
được chi dùng cho những mục đích đã định.
Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế
phát triển không cân đối. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như
người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm
bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới
các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài
chính. Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác
động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài
chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia
mua bán chứng khoán trên thị trường vốn qua đó góp phần kiểm soát lạm phát.
Thứ ba: Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất
Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ
thuế và chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt
khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp
phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào
những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã
định. Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các
nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lý.
Thứ tư: Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng
lớp dân cư.
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá
giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại
thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư.
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều
huyện); NSX, phường, thị trấn (NSX).
Hiện nay quy định Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị
hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND).
Vì vậy ứng với mỗi cấp chính quyền thì có một cấp ngân sách tương ứng, do đó hệ
thống ngân sách của ta gồm các cấp được thể hiện trên sơ đồ sau:
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách địa phương
Ngân sách Trung ương
NS tỉnh và
NS huyện,
NS xã,
thành phố trực
quận, thị xã
phường, thị
thuộc Trung
thành phố
trấn
quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp.
Bốn là: Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu
và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định của Luật Ngân sách nhà
nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
giữa ngân sách các cấp.
2.1.5 Nội dung chủ yếu của công tác quản lý ngân sách xã
2.1.5.1 Đặc điểm của ngân sách xã
“Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước”(Bộ Tài chính,
2003), chính vì lý do đó NSX cũng mang những tính đặc trưng của NSNN đó là:
- Về bản chất, ngân sách xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
với các chủ thể khác, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được
pháp luật phân công, phân cấp quản lý.
- Về hình thức, quá trình vận động của quỹ NSX các được nhìn nhận trên hai
giác độ: Quá trình huy động nguồn thu và quá trình phân phối, sử dụng ngân sách
xã (thường gọi là chi). Sự nhìn nhận về hình thức của NSX còn được thể hiện thông
qua chu trình với các khâu: Lập, chấp hành, quyết toán NSX mà chính quyền cơ sở
mọi nơi phải tuân thủ thực hiện.
- Một điểm khác biệt giữa NSX với các ngân sách khác trong hệ thống
NSNN, đó là: NSX vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, lại vừa là đơn vị sử dụng
NSNN. Nó đóng vai trò một cấp ngân sách, vì NSX cũng được phân cấp quản lý
nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi như một cấp ngân sách thực thụ. Nó đóng
phạm đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm góp phần răn đe, giáo dục chấp hành
đúng chính sách pháp luật, giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
- Hoạt động chi ngân sách: Từ việc chi ngân sách mà sự tồn tại và hoạt động
của bộ máy chính quyền được duy trì và phát triển liên tục, ổn định. Từ đó đảm bảo
được vai trò quản lý hành chính cấp cơ sở của chính quyền; chi NSX có vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, tạo công bằng xã hội.
Thứ ba, NSX góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng vùng
nông thôn. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, hệ thống giao thông
liên thôn, liên xã được xây dựng và nâng cấp thường xuyên, nhờ đó các cụm dân cư
dần được hình thành. Kinh tế nông thôn từng bước có sự chuyển dịch từ kinh tế
thuần nông sang kinh tế sản xuất hàng hóa, người dân được hưởng lợi ích lớn hơn
về giáo dục và y tế.
Thứ tư, NSX góp phần thực hiện tốt công tác văn hóa xã hội ở nông thôn.
Với các khoản chi NSX hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao được quan
tâm góp phần nâng cao đời sống của cư dân nông thôn. Chi NSX để phát triển hệ
thống truyền hình, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức văn hóa của mọi người,
loại bỏ những thủ tục lạc hậu.
2.1.5.3 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách xã
* Phân cấp nguồn thu ngân sách xã
Căn cứ để phân cấp nguồn thu cho NSX là nhu cầu chi đảm bảo thực hiện
chức năng quản lý nhà nước ở cấp chính quyền cơ sở, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung
cấp các dịch vụ công cộng, các phương tiện phục vụ dân sinh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Đối với ngân sách ở các cấp trên, trong việc phân cấp thu được gắn với nhiều
mục tiêu, riêng NSX nay chỉ gắn với mục tiêu chính đó là tạo nguồn để đáp ứng các
Page 14
- Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định nêu trên, ngân sách xã còn
được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các
khoản thuế, lệ phí phân chia theo Luật Ngân sách nhà nước đã dành 100% cho xã,
thị trấn và các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối
được nhiệm vụ chi.
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã:
Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách xã gồm 2 nội dung:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách là mức chênh lệch giữa dự toán chi được
giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp (các khoản thu 100% và các
khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm). Số bổ sung cân đối này được xác định từ
năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách và được giao ổn định từ 3 đến 5 năm.
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã
thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.
* Phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách xã
Chi ngân sách xã gồm 2 nội dung chi chủ yếu: chi đầu tư phát triển và chi
thường xuyên.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho ngân sách
xã. Căn cứ chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, các chính sách
chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ
chức chính trị - xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã, khi phân cấp
nhiệm vụ chi cho ngân sách xã, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét giao cho ngân
sách xã thực hiện các nhiệm vụ chi cụ thể sau:
+ Chi đầu tư phát triển gồm:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh.
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã từ