Biện pháp dạy học sinh tìm hiểu các sự kiện lịch sử trong môn lịch sử và địa lý lớp 4, 5 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********************

LÊ THỊ TRANG

BIỆN PHÁP DẠY HỌC SINH TÌM HIỂU
CÁC SỰ KIỆN LỊCH SỬ TRONG MÔN
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: PP dạy học Tự nhiên và Xã hội

Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI – 2013

1


DANH MỤC VIẾT TẮT

Quan điểm dạy học : QĐDH
Giáo viên

: GV

Học sinh

: HS


MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ....................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 2
4. Giả thuyết khoa học.................................................................................... 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 3
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3
7. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 3
8. Dự kiến cấu trúc đề tài................................................................................ 4
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN...................................... 5
1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5
1.1. Khái niệm ................................................................................................ 5
1.1.1. Quan điểm dạy học ............................................................................... 5
1.1.2. Phương pháp dạy học ........................................................................... 5
1.1.3. Kỹ thuật dạy học................................................................................... 6
1.1.4. Sự kiện lịch sử ...................................................................................... 8
a. Sự kiện ....................................................................................................... 8
b. Lịch sử ..................................................................................................... 10
c. Sự kiện lịch sử .......................................................................................... 11
1.2. Đặc điểm của học sinh lớp 4, 5 .............................................................. 13
1.2.1. Nhận thức cảm tính ............................................................................ 14
1.2.2. Nhận thức lý tính ................................................................................ 14
1.3. Một số vấn đề về phần lịch sử trong môn Lịch sử và Địa lí lớp 4, 5 ...... 19
1.3.1. Mục tiêu dạy học phần lịch sử trong môn Lịch sử và Địa lí lớp 4, 5 ... 19
1.3.2. Nội dung chương trình phần lịch sử trong môn Lịch sử và Địa lí
lớp 4, 5 ......................................................................................................... 19
3

4


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại nền văn minh công nghiệp, cách
mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão đòi hỏi người lao động phải
có năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Sự phát triển kinh tế,
xã hội của đất nước đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với hệ thống
giáo dục.Với sản phẩm đặc biệt là con người, giáo dục là động lực cho sự
phát triển bền vững của đất nước. Để hoàn thành sứ mệnh to lớn của mình,
giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức.
Giáo dục Tiểu học hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu đúng
đắn cho sự phát triển lâu dài về trí tuệ, tình cảm, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để các em học tiếp ở Trung học cơ sở và các bậc học cao hơn.
Lịch sử là một trong những kiến thức quan trọng cần trang bị cho học sinh
tiểu học. Việc học tập lịch sử giúp hình thành niềm tin đạo đức, chuẩn mực về
thái độ và hành vi đúng đắn, xác định nhiệm vụ bản thân với quê hương, đất
nước.
Môn Lịch sử và Địa lí lớp 4, 5 là một môn học tích hợp nhiều kiến thức
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Trong đó kiến thức về lịch sử chiếm
một phần đáng kể. Mục tiêu của phần Lịch sử trong chương trình Tiểu học là
đòi hỏi học sinh có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu tương đối có hệ thống theo thời gian của lịch
sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đến nay. Rèn luyện kĩ năng thu thập, tìm
kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác, biết nêu thắc mắc đặt câu hỏi trong
hoạt động bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,…

1



5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận về biện pháp dạy các sự kiện lịch sử.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy tìm hiểu các sự kiện trong môn lịch sử.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tìm hiểu các sự kiện
lịch sử cho học sinh tiểu học.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp thực tiễn
6.1.1. Quan sát:
- Quan sát các hoạt động trên lớp của học sinh
- Quan sát việc tổ chức các hoạt động học tập lịch sử
6.1.2. Phỏng vấn giáo viên
- Phỏng vấn về thực trạng dạy học phần lịch sử trong môn Lịch sử và Địa lí
lớp 4, 5
6.1.3. Dự giờ
Dự giờ các tiết dạy học lịch sử của các cô giáo ở các lớp 4A4, 4A5, 5A,
5B tại trường Tiểu học Liên Minh- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc, qua đó để tìm hiểu
thực trạng dạy- học lịch sử ở trường tiểu học.
6.1.4. Điều tra
Thăm dò, điều tra tình hình học tập lịch sử của học sinh ở các lớp 4A4,
4A5, 5A, 5B.
6.2. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu về cơ
sở phương pháp luận, những tài liệu giáo trình tâm lý học, giáo dục học,
các công trình nghiên cứu thực tiễn đã công bố,… nhằm làm rõ cơ sở lý
luận liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện và thời gian hạn chế, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu biện
pháp dạy học sinh tìm hiểu các sự kiện lịch sử trong môn Lịch sử và Địa lí lớp

định hướng hành động, dạy học định hướng HS, dạy học theo tình huống, dạy
học tổng thể, dạy học gắn với kinh nghiệm, dạy học định hướng mục tiêu, dạy
học giao tiếp, dạy học mở,… Ngoài ra, trong các môn còn có những QĐDH
đặc thù.
1.1.2. Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học (PPDH): Khái niệm PPDH ở đây được hiểu với
nghĩa hẹp, đó là các PPDH cụ thể, các mô hình hành động. PPDH là những
hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục
tiêu DH xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện DH cụ thể.
PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS. Người ta

5


ước tính có tới hàng trăm PPDH cụ thể, bao gồm những PP chung cho nhiều
môn và các PP đặc thù bộ môn. Bên cạnh các PPDH truyền thống quen thuộc
như thuyết trình, đàm thoại, biểu diễn trực quan, làm mẫu, có thể kể ra một số
PP khác như: PP nghiên cứu trường hợp, PP điều phối, PP đóng vai,... Sau
đây là một số PPDH: đàm thoại, mô phỏng, thảo luận, trình diễn, làm mẫu,
thực nghiệm, trò chơi, đóng vai,…
1.1.3. Kỹ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học (KTDH): là những động tác, cách thức hành động
của của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và
điều khiển quá trình dạy học. Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập.
Các KTDH vô cùng phong phú về số lượng, có thể tới hàng ngàn. Bên cạnh
những KTDH thông thường, ngày nay người ta đặc biệt chú trọng các KTDH
phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, ví dụ: KT “Động não'', KT “tia
chớp'', KT “tương tự”, KT “lược đồ tư duy”. Sau đây là một số kỹ thuật dạy
học phát huy tính tích cực: kỹ thuật động não, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật
bể cá, kỹ thuật lược đồ tư duy,…

lấy HS làm trung tâm”, “PPDH nêu vấn đề” không phải các PPDH cụ thể, đó
là các QĐDH. Các hình thức dạy học như tham quan, thực hành cũng được
gọi là “PP tham quan”, “PP thực hành”. Khi đó cần hiểu đây là những PPDH
“lớn”, PP vĩ mô, thuộc bình diện vĩ mô. Các KTDH đôi khi cũng được gọi là
PPDH, khi đó có thể hiểu đó là các PP “nhỏ”, PP vi mô, thuộc bình diện vi
mô.
7


1.1.4. Sự kiện lịch sử
a. Sự kiện
Từ trước đến nay, các nhà khoa học lịch sử đã đưa ra nhiều quan điểm
khác nhau về sự kiện.
Các quan điểm tư sản cho rằng: sự kiện không có thực, mà là một chuỗi
các phán đoán và mang tính chủ quan. Chẳng hạn như quan điểm của
F.M.Pôvayso cho rằng: “Lịch sử mà chúng ta đọc, dù được xây dựng trên cơ
sở hiện thực, thực ra không phải là sự kiện mà là một loạt các phán đoán đã
có, còn cái mà chúng ta gọi là khái quát lịch sử lại là những phán đoán về sự
phán đoán”.
C.Huco khi phân tích nội dung thuật ngữ “sử học” đã nhấn mạnh rằng
bản thân lịch sử được xem như một quá trình vận động trong không gian và
thời gian, nhưng không có “sự kiện”. Theo ông, “sự kiện chỉ được nêu ra
trong quá trình nghiên cứu”, nhưng hi vọng nó “dẫn tới chân lí là việc phí
công”, vì mỗi sự kiện sinh ra là do ý thức chủ quan của nhà nghiên cứu.
Như thế, những quan niệm kể trên của các nhà sử học tư sản đều ít
nhiều phủ nhận tính khách quan, có thực của các sự kiện lịch sử. Những luận
điểm đó nhằm biện hộ cho việc coi thường tài liệu, sử dụng tài liệu một cách
tùy tiện, bừa bãi trong nghiên cứu lịch sử, miễn là sử gia trình bày được ý
định chủ quan của mình. Tuy nhiên sử học không thể chấp nhận ý đồ chủ
quan trong công tác sử học. Chúng ta xem xét vấn đề “sự kiện” phải trên cơ

Prudong không biết sự kiện lịch sử, những khái quát của ông ta không phản
ánh hiện thực lịch sử mà là một “ảo tưởng hoang đường” [13, Tr. 126]
Nói về ý nghĩa quan trọng của quan niệm macxit về sự kiện, Enghen
nhấn mạnh rằng, không hiểu đúng những sự kiện lịch sử, quyết định trong
một thời gian, dù tự xưng là nhà macxit thì thực chất chẳng hiểu gì về chủ
nghĩa Mac. Và trong quyển “Phép biện chứng của tự nhiên”, Enghren khẳng
9


định: “Trong bất cứ lĩnh vực nào, lịch sử phải xuất phát từ những sự kiện mà
chúng ta biết được.” [13]
Lênin còn chỉ rõ thêm: “Chủ nghĩa Mac đứng vững trên cơ sở sự kiện,
chứ không phải trên cơ sở khả năng”. Và “chúng ta, những người macxit phải
đem tất cả sức lực mình mong muốn nghiên cứu một cách khoa học những sự
kiện làm cơ sở cho đường lối, chính sách của chúng ta.” Như vậy, có thể thấy
sự kiện là những gì có thực, đã xảy ra trong quá khứ, là hiện thực khách quan
và con người hoàn toàn có khả năng và cần thiết phải nhận thức sự kiện.
b. Lịch sử
Khi nói đến lịch sử, theo giải thích đơn giản, lịch sử là những gì thuộc
về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người. Với ý này, lịch sử bao trùm tất
cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện do đó khó định nghĩa chính xác và đầy
đủ. Vì thế, định nghĩa về lịch sử được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra.
- Định nghĩa ngắn gọn của Ts. Sue Peabody [11]: “lịch sử là một câu
chuyện chúng ta nói chúng ta là ai.”
- Nhà bác học người La Mã Cicéron [12] (106 - 45 TCN) đưa ra quan
điểm: “historia magistra vitae” (lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu
đạt tới “lux veritatis” (ánh sáng của sự thật). [12]
- Và Gs Hà Văn Tấn có viết, lịch sử là khách quan, sự kiện lịch sử là
những sự thật được tồn tại độc lập ngoài ý thức chúng ta, nhưng sự nhận thức
lịch sử lại là chủ quan và người ta chép sử vì những mục đích khác nhau. [4,

tắc lí luận không thể chối cãi được mà người ta muốn sử dụng để nhận hay
bác bỏ một điều gì.”
Mặc dù có nhiều quan niệm về sự kiện khác nhau như thế, nhưng xuất
phát từ bản chất của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, chúng ta có thể

11


hiểu sự kiện lịch sử tồn tại ở ba dạng: sự kiện hiện thực, sự kiện tư liệu và sự
kiện nhận thức.
Sự kiện hiện thực là sự kiện có thực, đã xảy ra trong quá khứ. Sự kiện
tư liệu là sự kiện hiện thực để lại dấu ấn thông qua các tư liệu như sách, báo,
hồi kí, phim ảnh,… Còn sự kiện nhận thức là sự kiện tư liệu mà nhà sử học
viết lại. Ví dụ, ngày 2 - 9 - 1945 là sự kiện có thật đã xảy ra, nó để lại những
dấu vết gọi là sự kiện tư liệu như báo chí, hồi kí, phim ảnh, hiện vật,… Từ
những nguồn tư liệu đó mà các nhà sử học viết thành sự kiện nhận thức, đặt
tên cho sự kiện này là ngày Quốc khánh, ngày ra đời nước Việt Nam dân chủ
Cộng hòa. Ví dụ khác, chiến tranh thế giới năm 1914 - 1918 là có thật, nó để
lại biết bao tư liệu như các chiến trường, báo chí, hồi kí, tranh ảnh,… Từ
những nguồn tư liệu đó, người ta gọi đây là chiến tranh thế giới, sau năm
1945 mới gọi là chiến tranh thế giới thứ nhất. Từ đó, có thể nhận thấy bản
thân sự kiện hiện thực, sự kiện tư liệu không có tên, chỉ có nhận thức mới có
tên.
Ba dạng tồn tại nói trên của sự kiện lịch sử có quan hệ chặt chẽ với
nhau, không thể tách rời nhau. Nếu thiếu một trong ba dạng ấy thì không còn
là sự kiện. Ví dụ, nếu sự kiện hiện thực mà không có tư liệu thì nó vẫn chưa là
sự kiện mà vẫn là ẩn số. Chẳng hạn, những hoạt động của Hồ Chí Minh đã
diễn ra, có thật trong quá khứ, nhưng nhiều sự kiện công chúng chưa được
biết, vẫn còn gọi là ẩn số nên chưa thể gọi là sự kiện. Ngược lại nếu có sự
kiện nhận thức mà không có tư liệu và hiện thực thì đó là sự kiện bịa đặt.

sử nói riêng là những hiện thực mang tính khách quan, đã diễn ra trong quá
khứ và học sinh cần nhận thức làm cơ sở để hiểu biết lịch sử.
1.2. Đặc điểm của học sinh lớp 4, 5
Ở lớp 4, 5 ghi nhớ có chủ định của học sinh đã phát triển. Những gì
trực quan, sinh động thường được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng
13


hơn. Tuy nhiên, các em cũng gặp khó khăn trong việc ghi nhớ thời gian của
các sự kiện, niên đại lịch sử. Tư duy của học sinh cuối bậc tiểu học chuyển
dần sang tư duy trừu tượng. Học sinh đã thực hiện được các hoạt động phân
tích, tổng hợp kiến thức nhưng còn ở mức đơn giản. Ngoài ra, khả năng chú ý
của các em đã phát triển hơn, dần hình thành kĩ năng tổ chức và điều chỉnh
chú ý. Đến lớp 4, 5 ngôn ngữ của các em đã thành thạo. Các em đã có khả
năng tự đọc, tự học, tự nhận thức về thế giới xung quanh. Thêm vào đó, các
em cũng dễ xúc động cũng như dễ nổi giận. Trí tưởng tượng sáng tạo của các
em đã phát triển và dễ chi phối bởi các xúc cảm, tình cảm.
1.2.1 Nhận thức cảm tính
 Tri giác:
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và
mang tính không ổn định: ở độ tuổi đầu tiểu học tri giác thường gắn với hành
động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng
có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương
hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp
xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động
mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ
kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.
1.2.2 Nhận thức lý tính
 Tư duy

đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục
phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng
thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học,
truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,... đồng thời cũng có thể kể cho trẻ
15


nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ
cách viết nhật kí,... Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ
phong phú và đa dạng.
 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở độ tuổi đầu tiểu học: chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng
kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý không chủ
định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến
những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều
tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý
của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị
phân tán trong quá trình học tập.
Ở độ tuổi cuối tiểu học: trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh
chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có
sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một
công thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất
hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian
cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong
khoảng thời gian quy định.
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc
hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp
dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính
cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết

 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn
liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế
cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện
cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư,...
17


Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện
các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học,... khi đó cần phát hiện
và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không
làm thui chột năng khiếu của trẻ.
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà
giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ
hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố
tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai,
đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,...
 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi
trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi,
mạnh dạn,... Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền
vững ở trẻ.
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang
những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh
thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức,
tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và
ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng
lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động
thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn

nước và giữ nước của dân tộc ta khoảng 700 năm trước Công Nguyên đến xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (từ năm 1975 đến nay).
Nội dung phần Lịch sử lớp 4
Buổi đầu dựng nước và giữ nước (khoảng thế kỉ VI trước công nguyên
đến khoảng năm 179 trước công nguyên)
19


Bài 1: Nước Văn Lang
Bài 2: Nước Âu Lạc
Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (từ năm 179 TCN đến
938)
Bài 3: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương
Bắc
Bài 4: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)
Bài 5: Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (năm 938)
Bài 6: Ôn tập
Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009)
Bài 7: Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân
Bài 8: Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (năm
981)
Nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009 đến năm 1226)
Bài 9: Nhà Lý dời đô ra Thăng Long
Bài 10: Chùa thời Lý
Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai (1075
- 1077)
Nước Đại Việt thời Trần (từ năm 1226 đến năm 1400)
Bài 12: Nhà Trần thành lập
Bài 13: Nhà Trần và việc đắp đê
Bài 14: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông

Bài 8: Xô viết Nghệ - Tĩnh
Bài 9: Cách mạng mùa thu
Bài 10: Bác Hồ đọc: “Tuyên ngôn Độc lập”

21


Trích đoạn Trực quan Đóng vai mô phỏng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status