Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam - Pdf 31

Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Đề tài : Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
A.LỜI MỞ ĐẦU
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản đó là điều kiện không thể thiếu, nó
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp người ta rất chú ý đến việc
quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn.
Hiện nay, khi mà xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra rất mạnh mẽ
trên khắp thế giới đã mở ra cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất nhiều thuận lợi và
khó khăn trong việc huy động vốn.
Và một thực tế cho thấy là, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam còn yếu do hạn chế về khả năng mở rộng sản xuất, hạn chế về đầu tư đổi mới
công nghệ, mở rộng thị trường, hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn lực đất đai và
các nguồn vốn, hạn chế khả năng tiếp cận thông tin. Những hạn chế này không thể
thay đổi được nếu doanh nghiệp thiếu vốn. Bởi vậy, doanh nghiệp nào cũng cần
chủ động tạo ra nguồn vốn ngắn hạn đảm bảo hoạt động trơn tru, tạo ra nguồn vốn
dài hạn để mở rộng sản xuất kinh doanh, tái cấu trúc hoạt động của mình. Tuy
nhiên, trong thực tế việc huy động vốn của doanh nghiệp không dễ dàng. Nhất là
đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc giải bài toán huy động vốn đang ngày
càng trở nên cấp bách.
Vì vậy nhóm đưa ra đề tài "Giải bài toán huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở Việt Nam " nhằm giải quyết những khó khăn đó.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1. Khái niệm:
Theo Điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP, định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ
và vừa như sau: “ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên)”.

người20 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 20từ trên 200
nghiệp và thủy trở xuống trở xuống người đếntỷ đồng đếnngười đến
sản
200 người 100 tỷ đồng 300 người
II. Công nghiệp 10
người20 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 20từ trên 200
và xây dựng
trở xuống trở xuống người đếntỷ đồng đếnngười đến
200 người 100 tỷ đồng 300 người
III. Thương mại 10
người10 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 10từ trên 50
và dịch vụ
trở xuống trở xuống người đếntỷ đồng đếnngười đến
50 người 50 tỷ đồng 100 người

2. Đặc trưng và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt
Nam
2.1. Đặc trưng:
*Tính chất hoạt động:
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các
doanh nghiệp lớn
- Thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế: phân
phối và thương mại hóa dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn
Nhóm 7

2

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang



lực, có tính linh hoạt cao,...
* Khai thác và phát huy tốt năng lực tại chỗ:

Nhóm 7

3

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Do các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có mặt ở hầu hết các vùng vùng, địa
phương, chính điều này đã làm cho các doanh nghiệp nhở và vừa tận dụng và
khai thác tốt nguồn lực tại chỗ
Qua phân tích trên ta thấy rõ được tầm quan trọng của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Do đó cần phải khuyến khích và hỗ trợ loại hình doanh nghiệp này
phát triển.
3. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Hiện nay,cả nước có trên 540000 doanh nghiệp nhỏ và vừa,chiếm trên 97%
số lượng doanh nghiệp cả nước với số vốn đăng ký trên 2315000 tỷ đồng.Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp hơn 50% GDP cả nước.Các doanh nghiệp nhỏ
và vừa không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của đất nước mà còn
tạo ra hơn 1triệu việc làm mỗi năm.Hiện các doanh nghiệp này sử dụng trên50%
lao động xã hội.Tuy nhiên,bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung
tồn tại những mặt khó khăn sau :
Thứ nhất,về quy mô vốn :
Quy mô vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhỏ,gần 50% số doanh nghiệp có
mức vốn dưới 1 tỷ đồng,quy mô vốn rất nhỏ bé nên khả năng cạnh tranh rất kém.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu tập trung vào nghành thương
mại,sửa chữa động cơ,xe máy (chiếm 40,6% doanh nghiệp cả nước ),tiếp đến là

khai thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp phía Bắc còn rất thấp, chưa
tương xứng với mong muốn phát triển thương mại điện tử của Chính phủ.
Số liệu tổng hợp cũng cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa các doanh nghiệp
Việt Nam với các doanh nghiệp của các nước khác. Trong khi các doanh nghiệp
trên thế giới quan tâm hàng đầu về các thông tin công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị
trường cung cấp và tiêu thụ thì doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu quan tâm đến
các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp
quan tâm đến các thông tin về kỹ thuật và công nghệ.
Thứ ba,Nhu cầu lớn về vốn, thị trường và đào tạo
Qua cuộc điều tra, các doanh nghiệp tiếp tục đề cập tới nhiều khó khăn đã
được nhắc đến nhiều lần. Cụ thể 66.95% doanh nghiệp cho biết thường gặp khó
khăn về tài chính; 50.62% doanh nghiệp thường gặp khó khăn về mở rộng thị
trường; 41.74% doanh nghiệp gặp khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất;
25.22% doanh nghiệp gặp khó khăn về giảm chi phí sản xuất; 24.23% khó khăn về
thiếu các ưu đãi về thuế; 19.47% khó khăn về thiếu thông tin; 17.56% doanh
nghiệp khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực...
Về khả năng tiếp cận các nguồn vốn của Nhà nước: chỉ có 32,38% số doanh
nghiệp cho biết đã tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà nước, chủ yếu là doanh
nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hoá; 35,24% số doanh nghiệp khó tiếp
cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận được. Trong khi đó, việc tiếp cận
nguồn vốn khác cũng gặp khó khăn. Chỉ có 48,65% số doanh nghiệp khả năng tiếp
cận, 30,43% số doanh nghiệp khó tiếp cận và 20,92% số doanh nghiệp không tiếp
cận được. Bên cạnh đó, việc tham gia các chương trình xúc tiến thương mại của
Nhà nước cũng rất khó khăn. Chỉ có 5,2% số doanh nghiệp đã được tham gia;
23,12% số doanh nghiệp khó được tham gia và 71,67% số doanh nghiệp không
được tham gia.
Nhóm 7

5


không được đưa vào khi tính toán khấu trừ thuế.
- Chi phí thuê mặt bằng để sản xuất kinh doanh là cao :gấp 2-3 lần so với các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước.Cộng thêm
đó là chi phí đầu vào phục vụ sản xuất tăng quá cao,dẫn đến giá thành sản xuất
tăng và sản xuất đình trệ...

Nhóm 7

6

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
II.TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM.
1. Huy động nguồn vốn chủ sở hữu :
Là loại vốn thường được tạo ra từ vốn riêng của các chủ doanh nghiệp, vốn
đóng góp của các cổ đông,bạn bè,họ hàng...
Nguồn vốn này chiếm khoảng 5 - 10% vốn luân chuyển của Doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
Thực tế ta thấy hiện nay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường sử dụng phần lớn
nguồn vốn này vào việc kinh doanh chiếm khoảng 47,2% trên tổng số vốn toàn
Doanh nghiệp.
Theo thống kê thì tỉ lệ vay vốn ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ vốn chủ sở
hữu ở Hà nội là45.6% Hải Phòng là 46.7% Quảng Ninh là 49.3% chiếm tỉ lệ lớn
trong vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khi lựa chọn phương pháp huy động vốn từ chủ sở hữu, sẽ được một số lợi
ích sau đây:
-Tiến hành kinh doanh mà không phải chịu gánh nặng nợ nần.

cho một số ít chủ đầu tư, bạn sẽ không phải liên quan đến nhiều thủ tục giấy tờ.
Nhưng nếu phát hành cổ phiếu rộng rãi, bạn sẽ phải tuân thủ rất nhiều thủ tục, giấy
tờ.
2.Huy động vốn từ vốn vay ngân hàng
Hiện nay đây vẫn là kênh tín dụng được coi là rất khó tiếp cận đối với các
DN. Ngân hàng đáp ứng được phần vốn còn rất nhỏ so với nhu cầu vay ngân hàng
của DN. Đặc biệt là đối với các DN nhỏ và vừa thì các số liệu điều tra cho thấy
nhu cầu vay vốn ngân hàng của các DN loại này mới chỉ được đáp ứng khoảng
1/3;1/3 khó tiếp cận và còn lại là không tiếp cận được.Ngay cả khi có chính sách
ưu đãi của Chính phủ cũng chỉ có 10% DNNVV được vay.
Nhiều chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng ngay cả khi DN có tài sản đảm bảo
thế chấp muốn vay vốn ngân hàng còn khó.
Nhiều ngân hàng còn đặt ra nhiều loại phí khiến lãi suất thật mà các DNNVV phải
trả lên tới 27%/năm.
Thực tế này xuất phát từ những đặc thù từ phía ngân hàng cũng như từ thực
trạng công tác quản trị, tài chính của các DN. Một đặc thù của hệ thống ngân hàng
nước ta là cho tới nay, hệ thống 4 NHTM quốc doanh vẫn chiếm tới khoảng 7080% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng và hiện nay các NHTM này vẫn
đang trong quá trình đổi mới chính sách cho vay trong bối cảnh nợ khó đòi còn ở
mức cao và chịu áp lực của việc xóa bỏ các chính sách cho vay ưu đãi. Bới vậy, hệ
thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTM gốc gác là ngân hàng quốc doanh đang
đứng trước áp lực phải tiếp cận được các số liệu quản lý tài chính có giá trị của các
DN, nếu không thì việc cho DN vay vốn không thể giải quyết được, cũng có nghĩa
là các DN sẽ bị hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng từ nguồn ngân hàng. Tuy nhiên,
các DN, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa lại không đáp ứng được yêu cầu của ngân
hàng về giá trị tài sản thế chấp cho khoản vay (còn thấp), tính minh bạch của các
số liệu tài chính – kế toán hoặc nếu đáp ứng được thì không đủ tiêu chuẩn xét cho
vay do tính hiệu quả của dự án xin vay thấp hoặc thực tế thì có hiệu quả nhưng do
DN thường hạ lợi nhuận để trốn thuế thu nhập DN nên hồ sơ tài chính xin vay
không đủ tiêu chuẩn. Còn không ít DN lập phương án sản xuất kinh doanh làm hồ
sơ vay vốn còn mang tính đối phó, kế hoạch trả nợ chưa rõ ràng, nên không đủ tiêu

chưa tiếp cận được dịch vụ này.
Khi thuê mướn tài sản, doanh nghiệp tránh được rủi ro do tài sản mất giá. Ngoài ra,
khi có nhu cầu thay đổi hoặc nâng cấp tài sản, doanh nghiệp có thể tùy cơ ứng biến
bằng cách thuê bổ sung hoặc ngừng thuê. Doanh nghiệp chỉ trả chi phí cho thời
gian sử dụng thiết bị thay vì phải chi trả toàn bộ giá trị thiết bị. Vì thế, việc đi thuê
tài chính cho phép doanh nghiệp linh hoạt về vốn, thanh toán, tận dụng được cơ
hội kinh doanh và không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp
khi đi vay ngân hàng. Doanh nghiệp cũng hưởng được một khoản lợi về thuế so
với việc sở hữu tài sản…
Tuy nhiên, ở Việt Nam hình thức này lại chưa phổ biến. Nguyên nhân là giá cho
thuê tài chính (phí khấu hao tài sản, phí bảo hiểm...) còn cao. Ngoài ra, hành lang
pháp lý về cho thuê tài chính vẫn chưa hoàn thiện.
4.Huy động vốn từ thị trường chứng khoán
Nhóm 7

9

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Thị trường chứng khoán được xem là kênh huy động vốn quan trọng của các
doanh nghiệp,Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2010,đã có 38,5% doanh nghiệp niêm yết
công bố kế hoạch phát hành cổ phiếu,dự kiến sẽ huy động được 32000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, Doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không đủ điều kiện niêm yết trên
thị trường tập trung hiện nay nên họ không có khả năng tiếp cận thị trường này.
Theo kết quả thăm dò về ""Khả năng tham gia TTCK của doanh nghiệp nhỏ và
vừa"" của UBCKNN mới đây cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều
muốn huy động vốn qua TTCK, vì vậy rất cần xây dựng một TTCK cho các
doanhnghiệp vừa và nhỏ ( một thị trường cho các doanh nghiệp từ 5- 10 tỷ )


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
phiếu, kêu gọi sự đầu tư vốn bên ngoài vào Doanh nghiệp, tham gia thị
trường chứng khoán, thị trường vốn.
Để sự tham góp vốn của các cổ đông cơ sự thuận tiện. Các Doanh nghiệp
vừa và nhỏ nên cung cấp thông tin của Doanh nghiệp cho khách hàng, cung cấp
những dự án, bản kế hoạch đầu tư của Doanh nghiệp. Ngoài ra Doanh nghiệp cũng
nên tận dụng nguồn vốn ngay chính trong Doanh nghiệp, công ty mình bằng cách
khuyến khích người lao động, công nhân tham gia góp vốn vào công ty.
2. Giải pháp 2: Vay có kỳ hạn.
Đây là giải pháp cổ điển mà các Doanh nghiệp thường nghĩ tới. Với tên gọi
“Vay trung và dài hạn” có thể có rất nhiều cách thức khác nhau mà các
Doanh nghiệp thường bị thiếu thông tin.
Thật vậy cần phải biết rằng tuỳ theo tổ chức tài trợ và nguồn tài trợ những
điều kiện mà một Doanh nghiệp hay một dự án đầu tư phải thoả mãn cũng như
những điều kiện kèm theo theo thay đổi rất nhiều.
Do đó tuỳ theo đặc điểm nguồn tài trợ và đặc điểm dự án đầu tư mà Doanh
nghiệp cần phải tìm hiểu kỹ để có thể gửi hồ sơ xin vay đến tổ chức thích hợp nhất.
Vay ngân hàng
Đây là nguồn huy động v ốn có khả năng đạt được kết quả cao nhất và là
nguồn có tính chất phát triển lâu dài cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên vấn
đề huy động từ nguồn này lại gặp rất nhiều khó khăn (như đã phân tích ở trên) vì
vậy để giải quyết những khó khăn vướng mắc trên ta có th ể đưa ra một vài giải
pháp sau:
*. Đối với các doanh nghiêp nhỏ và vừa :
+) Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chủ động đào tạo, đào tạo lại dưới
nhiều hình thức thích hợp nhằm trang bị nâng cao kiến thức chuyên môn, tay nghề,
trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý nhất là các ông chủ và đội ngũ công
nhân trong Doanh nghiệp. Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chấp hành nghiêm
túc pháp lệnh kế toán - thống kê.

hiện nay như phân tích ở trên là còn nhiều bất cập về điều kiện vay vốn theo quy
định hiện hành bao gồm: Tài sản thế chấp; phương án sản xuất kinh doanh về chấp
hành chế độ kế toán thống kê...
Trong đó đang quan tâm là điều kiện về tài sản thế chấp để được vay vốn.
Đây là vấn đề nan giải với các Doanh nghiệp nhỏ, trong điều kiện tài sản thế
chấp ít ỏi.Điều đó cho phép chúng ta có thể tìm giải pháp khắc phục tình trạng
thiếu tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng từ việc nâng cao năng lực thẩm định dự
án, phương án vay vốn của các ngân hàng. Có thể phân định một số dạng cụ thể
như sau:
a) Đối với các Doanh nghiệp được bảo lãnh tín dụng một phần và đủ tài sản
thế chấp cho phần còn lại thì yêu cầu Doanh nghiệp thực hiện đảm bảo nợ đủ theo
yêu cầu.
b) Đối với Doanh nghiệp được bảo lãnh tín dụng một phần và tài sản thế
chấp không đủ đảm bảo cho phần còn lại thì yêu cầu dùng tài sản hình thành bằng
vốn vay, tiếp tục đảm bảo cho nợ vay còn lại.
c) Đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp ứng đủ điều kiện như hai dạng
trên thì ngân hàng phải chú trọng thẩm định dự án, phương án vay vốn bằng
cách thông qua hội đồng tín dụng. Trong đó các chuyên gia tư vấn theo
chuyên môn yêu cầu, để quyết định nên đầu tư hay không vàmức độ bao nhiêu.
Như vậy đòi hỏi đôi ngũ cán bộ thẩm định không chỉ tinh thông về nghiệp
Nhóm 7

12

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
vụ chuyên môn mà còn phải hiểu biết rộng rãi các nghiệp vụ bổ trợ như chuyên
môn các ngành kỹ thuật và các ngà nh kinh tế khác. Đồng thời cần nắm bắt thông

sở hữu có trách nhiệm phục hồi tài sản.
- Mở rộng hơn nữa nghiệp vụ cho thuê về giá trị, loại tài sản, áp dụng thử
nghiệm một số hình thức cho thuê vận hành, thuê tài sản. Mở rộng hành vi này đối
Nhóm 7

13

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, các Doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh nông
nghiệp.
- Tìm ra mối quan hệ giữa các nguồn vốn, thông qua công ty thuê mua để
giải ngân theo các nguyên tắc của hợp đồng thuê mua một hay nhiều bên
như nguồn vốn ODA cho vay lại, vốn tín dụng của ngân sách Nhà nước. Theo
phương pháp này thì v ẫn bảo toàn được nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng của
Doanh nghiệp, mà khả năng thất thoát vốn rất thấp, hiệu quả đồng vốn cao hơn so
với các hình thức thông thường.
Để tránh thua thiệt trong các hợp đồng thuê mua với nước ngoài, các hợp
đồng, thiết bị nhập khẩu nhất thiết phải có sự thẩm định và kiểm tra.
Đối với DNNVV thường xuyên gặp khó khăn trong
việc vay vốn trung và dài hạn ngân hàng thì thuê tài chính có thể được xem là một
giải pháp thay thế đơn giản, thuận tiện cho tín dụng trung và dài hạn.
4. Giải pháp 4: Huy động vốn từ nguồn vốn phi chính thức (PCT).
Nguồn vốn huy động phi chính thức có ý nghĩa là nguồn bổ sung cho hình
thức huy động chính thức.
DNNVV huy động bằng nguồn vốn phi chính thức có ưu điểm là:
Thủ tục và điều kiện vay vốn đơn giản, đáp ứng nhanh nhạy kịp thời vốn
kinh doanh cho các DNNVV. Bổ sung kịp thời cho nguồn vốn chính thức hoặc

về giá cả và kỳ hạn trả... Khi quá trình này diễn ra một cách thường xuyên
thì nguồn tín dụng này đóng vai tr ò như một nguồn tín dụng trung và dài hạn.
Với phương thức tín dụng này Doanh nghiệp có t hể đầu tư chiều sâu với vốn
ít mà không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Doanh nghiệp mình. Hình
thức tín dụng mua trả chậm này có ý nghĩa rất lớn đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ thiếu các đi ều kiện để vay vốn từ các nguồn khác và không đủ tài chính để
mua máy móc thiết bị.
+) Thứ hai: Vốn khách hàng ứng trước.
Trong quá trình kinh doanh, khi ký hợp đồng khách hàng phải đặt cọc trước
một số tiền nhất định, số tiền đặt cọc này Doanh nghiệp được sử dụng mặc dù chưa
sản xuất và cung ứng sản phẩm (dịch vụ) cho khách hàng. Tuỳ theo lượng mua
hàng của khách, thông thường Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chiếm dụng được
vốn từ hai nguồn sau:
• Vốn ứng trước của khách hàng lớn
• Vốn ứng trước của người tiêu dùng.
Thông thường số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác, để sản xuất
sản phẩm (dịch vụ) Doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu...) nên lại
bị người cấp hàng chiếm dụng vốn của Doanh nghiệp cũng theo hình th ức này
nên nếu các qúa trình kinh doanh diễn ra bình thường thì số dư vốn chiếm dụng
hình thức này là không lớn.
Tuy nhiên, kinh doanh trong thị trường hiện tại đòi hỏi DNNVV phải tính toán,
cân nhắc thận trọng để có thể tận dụng được lượng vốn khách hàng đặt cọc trước
và bên cạnh đó han chế lượng tiền khách hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của
Doanh nghiệp mà nếu không để ý nhiều khi là rất lớn.
Để đảm bảo cho nguồn vốn huy động phi chính thức diễn ra một cách thuận
lợi và khắc phục được những khó khăn khi huy động nguồn vốn phi chính thức,

Nhóm 7

15

- Tạo cơ hội phát triển các kênh huy động mới cho DNNVV như: cho vay tài
chính,quỹ đầu tư mạo hiểm,quỹ đầu tư vốn cho DNNVV...
-Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển
các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa như bao thanh toán,
cho thuê tài chính..
- Thành lập thêm các quỹ bảo lãnh tín dụng ở các tỉnh thành phố và tăng cường
hiệu quả hoạt động của các qbltd hiện có. QBLTD được xem như là trung gian
giữa dn vừa và nhỏ với NHTM, là công cụ hỗ trợ hữu hiệu dn vừa và nhỏ có thể
tiếp cận NHTM trong việc vay vốn.Có thể nói QBLTD là chìa khóa giải quyết khó
Nhóm 7

16

Gv: Nguyễn Thị Anh Giang


Giải bài toán huy động vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
khăn cho vấn đề khó khăn trong huy động vốn vủa DNNVV.Bản thân các địa
phương cũng cần có đánh giá đúng về tầm quan trọng của quỹ.( hiện nay trong số
64 tỉnh, thành phố trên cả nước, tính đến nay chỉ có 11 tỉnh có Quỹ bảo lãnh tín
dụng DNNVV (QBLTD). Trong số đó chỉ có 3 Quỹ có dư nợ bảo lãnh tín
dụng.Các quỹ này hoạt động còn kém hiệu quả,chủ yếu mang nặng tính hình thức).
Phát huy vai trò của Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV
- Tạo môi trường pháp lý ổn định,hợp lý để DNNVV có thể yên tâm hoạt động 1
cách hiệu quả.
- Đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Thông thoáng hơn về chính sách quy định thuê,mua tài chính.
b Hỗ trợ hoạt động của doanh nghiêp:
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại,thực hiện các biện pháp kích cầu tiêu dùng,

- Lập quy hoạch, kế hoạch chi tiết sử dụng đất và công khai các quy hoạch này làm
cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất, đấu thầu quyền sử dụng đất.
- Xây dựng các cụm khu công nghiệp, thương mại có hạ tầng tốt nhất, đồng thời
điều chỉnh các hình thức cho thuê đất. Hỗ trợ các DNNVV có cơ sở sản xuất kinh
doanh gây ô nhiễm di dời ra khỏi đô thị, khu dân cư thông qua việc cho phép
chuyển quyền sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở và đất thương mại nhằm mục
đích bán và trang trải chi phí di chuyển.
- Thống kê và thu hồi đất đang hoang hoá, sử dụng không đúng mục đích để tạo
quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê.
- Có những quy định về bồi hoàn và trả lại quyền sử dụng để quá trình chuyển giao
đất công khai thuận lợi hơn. Ví dụ như các doanh nghiệp mua lại quyền sử dụng
thoả thuận thanh toán nếu không sẽ chuyển sang đấu thầu nhằm chống đầu cơ, mua
bán chuyển nhượng dự án trái phép.
d. Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn.
Thứ nhất, Nguồn vốn của nhà nước hỗ trợ cho doanh nghiệp không thể vi phạm
cam kết WTO, tức là không hỗ trợ trực tiếp mà hỗ trợ gián tiếp. Cần công khai
hình thức hỗ trợ gián tiếp. Với những nguồn lực có trong tay, thông qua các công
ty đầu tư tài chính của nhà nước để mua cổ phần của DNNVV, hoặc mua trái phiếu
của DNNVV được phát hành trái phiếu theo dự án.
Thứ hai, Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại là nguồn vốn quan trọng của
DNNVV, Ngân hàng Nhà nước cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại xây dựng
kế hoạch định hướng cho vay các DNNVV với số dư nợ tín dụng đạt đến trên 60%
tổng dư nợ.
Điều lệ Quỹ cần thể hiện rõ cơ chế góp vốn của các thành viên là DNNVV theo
hướng linh hoạt đối với nguồn vốn góp vượt mức tối thiểu.
C. KẾT LUẬN
Khái niệm DNNVV chỉ mới xuất hiện sau thời ky đổi mới song khu vực này đã
phát triển với tốc độ rất nhanh kể cả về số lượng, đóng góp đáng kể cho GDP và
thu hút một lượng lớn lao động trong xã hội .
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ quan trong trong chiến lược


Gv: Nguyễn Thị Anh Giang




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status