BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN HỌC
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA – CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Tên đề tài:
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM
1
Tổng quan về vàng và chính sách quản lý thị trường vàng
1.1.
Khái niệm và vai trò, chức năng của vàng
1.1.1.Khái niệm về vàng
Vàng là một kim loại quý xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loại
người, trước đây vàng được rất nhiều quốc gia sử dụng để làm tiền được
biết đến với chế độ bản vị vàng, mặc dù ngày này, chế độ bản vàng không
còn nhưng vàng vẫn đóng vai trò rất lờn trong nền kinh tế hiện đại.
1.1.2.Chức năng của vàng
1.1.2.1.
Trao đổi tiền tệ
Vàng đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương
tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng
xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hay thông qua các công cụ tiền
giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập ra bản vị vàng theo đó tổng
giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng dự trữ.
1.1.2.2.
Do những đặc tính vốn về tính dẫn nhiệt, dẫn điện, phản xạ tốt
với bức xạ điện từ, dễ dát mỏng,… mà vàng trở thành nguyên liệu không
thể thiếu trong các ngành công nghệ cao như: bộ tản nhiệt ô tô, làm dây
dẫn điện trong một số thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng, làm lớp phủ bảo vệ
cho nhiều vệ tinh nhân tạo, trong các tấm bảo vệ nhiệt hồng ngoại và mũ
của các nhà du hành vũ trụ và trên các máy bay chiến tranh điện
tử như EA-6B Prowler,…
Ngoài ra, vàng có thể được sử dụng trong thực phẩm, thêu thùa,
công nghệ ảnh màu, sản xuất thủy tinh rubi vàng,…
1.1.2.5.
Trang sức
Vì tính mềm của vàng nguyên chất (24k), nó thường được pha trộn
với các kim loại căn bản khác để sử dụng trong công nghiệp nữ trang, làm
biến đổi độ cứng và tính mềm, điểm nóng chảy, màu sắc và các đặc tính
khác. Các hợp kim với độ cara thấp, thường là 22k, 18k, 14k hay 10k, có
chứa nhiều đồng, hay các kim loại cơ bản khác, hay bạc hoặc paladi hơn
trong hỗn hợp. Đồng là kim loại cơ sở thường được dùng nhất, khiến vàng
có màu đỏ hơn. Vàng 18k chứa 25% đồng đã xuất hiện ở đồ trang sức thời
cổ đại và đồ trang sức Nga và có kiểu đúc đồng riêng biệt, dù không phải là
đa số, tạo ra vàng hồng. Hợp kim vàng-đồng 14k có màu sắc gần giống một
số hợp kim đồng, và cả hai đều có thể được dùng để chế tạo các biểu trưng
cho cảnh sát và các ngành khác,…
3
4
Thị trường vàng là nơi diễn ra các giao dịch trao đổi, mua bán vàng (vật
chất hoặc tài khoản) một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giữa những người
-
mua và những người bán.
1.2.2.Tác động của thị trường vàng
1.2.2.1.
Đối với thị trường tài chính
Thị trường vàng được xem là một trong những kênh đầu tư trên thị trường
tài chính. Từ lúc thị trường vàng có nhiều biến động đến nay, hiệu ứng của
vàng đã thu hút không ít nhà đầu tư chuyển từ đầu tư chứng khoán, bất
động sản và USD sang đầu tư vàng.
Ví dụ điểm hình cho điều này là những ngày đầu năm 2008, khi mà
chứng khoán liên tiếp giảm điểm thì thị trường vàng lại được hâm nóng
bởi rất nhiều thông tin hổ trợ. Thời điểm đó giới đầu tư nghĩ rằng đầu tư
vào vàng có lời hơn và là một nguồn ngoại tệ dự trữ an toàn, có tính lâu
dài, họ ồ ạt bán chứng khoán để lấy tiền mặt đầu tư vào thị trường vàng.
Động thái đó làm chứng khoán nói chung giảm đi.
5
-
Khả năng huy động nguồn vốn của khu vực tài chính: Khi giá vàng tăng
người dân rút tiết kiệm để đầu tư vàng thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng.
Đồng thời vốn rút ra lại loanh quanh ở thị trường vàng và ngoại tệ dẫn đến
khả năng huy động vốn của các NHTM bị giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói
-
ngân hàng trong nền kinh tế.
1.2.2.2.
Đối với nền kinh tế
Ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu
+ Vàng cũng là một loại hàng hóa, nhưng nó đặc biệt hơn mọi loại
hàng hóa ở giá trị cũng như sự phổ biến của nó trên toàn thế giới. Việt nam
là một nước mà có đến 95% vàng được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy
hàng năm phải chi hàng trăm triệu đô la để nhập khẩu vàng, mà lại không
có nguồn thu từ nhập khẩu để cân bằng cán cân thương mại. Nhập vàng
đồng nghĩa phải tiêu đi một số lượng lớn ngoại tệ nên cán cân ngoại tệ
trong nước cũng bị ảnh hưởng (gây thâm hụt). Bên cạnh đó khi giá vàng
tăng cao sẽ có trường hợp người ta gom đô la để nhập vàng dù là đường
chính ngạch hay đường lậu cũng sẽ đẩy tỷ giá USD/VND tăng cao, điều đó
gây không ít khó khăn cho việc nhập khẩu các mặt hàng khác.
Ví dụ:trong năm 2007 tổng giá trị nhập khẩu vàng của nước ta theo
đường chính ngạch là 1,6 tỷ USD (70 tấn vàng). Năm 2008 nước ta đã nhập
1,7 tỷ USD (45 tấn vàng) trong quý 1, tình hình nhập khẩu lượng vàng quá
lớn dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại, Ngân hàng nhà nước đã phải
cho ngừng nhập khẩu vàng trong suốt một năm rưỡi do tiêu tốn quá nhiều
ngoại tệ.
+ Giá vàng tăng cao còn ảnh hưởng đến giá vàng nguyêu liệu trong
việc chế tác sản phẩm mỹ nghệ xuất khẩu hay các đồ điện tử, các sản phẩm
Việt Nam sẽ xuất khẩu ra các thị trường trên thế giới, giá các sản phẩm
đương nhiên sẽ tăng theo giá vàng. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, hàng
hóa tăng giá cũng là một bất lợi đối với sản phẩm được sản xuất tại Việt
Nam.
hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô
trong trung hạn. Ảnh hưởng trực tiếp nhất có thể kể đến là khả năng huy
động nguồn vốn của khu vực tài chính ngày càng xấu đi, do tỷ lệ tiết kiệm
bằng vàng tăng lên thay vì tiết kiệm qua hệ thống ngân hàng.
8
+ Với tỷ trọng vàng trên GDP rất lớn cũng cho thấy với tổng phương
tiện thanh toán không kể vàng (M2) thì số nhân tiền tệ theo tính toán của
các chuyên gia khoảng 4,8, trong khi nếu tính gộp M2 + vàng thì hệ số này
chỉ còn 2,0. Ðiều này nhắc nhở chúng ta rằng có rất nhiều vấn đề đối với hệ
thống tiền tệ đang bị chi phối bởi khối lượng vàng và thị trường vàng đang
bành trướng đáng lo ngại hiện nay.
+ Nguy cơ gây ra lạm phát: khi chênh lệch giữa giá vàng trong nước
và nước ngoài lớn, dẫn đến việc phải nhậu khẩu vàng, điều đó sẽ gây ra áp
lực tăng tỷ giá, đối với những nước nhập siêu, việc tăng tỷ giá sẽ khiến giá
cả hàng hóa tăng lên, gây ra lạm phát. Ngoài ra, khi lạm phát trong nước
có dấu hiệu tăng, người dân sẽ chuyển sang dự trữ vàng thay vì tiền, điều
này sẽ làm cho một lượng tiền lớn quay lại lưu thông khiến tình trạng lạm
phát trở nên trầm trọng hơn.
-
Ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của nhân dân
Biến động lớn của thị trường vàng ảnh hưởng lớn đến tâm lý cũng
như cuộc sống của người dân. Thực tế đã cho thấy rằng, rủi ro càng cao thì
lợi nhuận càng lớn. Đã có rất nhiều thời điểm giá vàng tăng cao, người dân
đổ xô đi mua vàng làm giá vàng trong nước chênh lệch lớn so với giá vàng
thế giới. Thị trường vàng trở nên điên loạn với giá vàng bị thổi lên quá
đáng, người dân đổ xô đi rút tiền ở các ngân hàng để mua vàng tích trữ,
-
xuất khẩu, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế. Huy động
ngược trở lại nguồn lực cho nền kinh tế.
1.4. Chính sách quản lý thị trường vàng
1.4.1.Khái niệm chính sách quản lý thị trường vàng
Chính sách quản lý thị trường vàng là hệ thống các quan điểm, chủ
trương và biện pháp của Nhà nước để tổ chức điều hành và kiểm soát một
cách có hiệu quả hoạt động thị trường vàng; nhằm thực hiện mục tiêu ổn
định thị trường vàng và hạn chế tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế.
1.4.2.Nội dung chính sách quản lý thị trường vàng
-
Chính sách quản lý hoạt động sản xuất vàng
Chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng
Chính sách quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng
Chính sách quản lý huy động và cho vay vốn bằng vàng (nếu có)
2. Chính sách quản lý thị trường vàng Việt Nam
2.1. Thực trạng quản lý thị trường vàng Việt Nam
2.1.1.Chính sách quản lý vàng qua các thời kỳ
10
•
Trước năm 2006: Nhà nước quản lý vàng như một loại tiền tệ, giá vàng
•
-
vàng thiệt hại nặng, nhưng qua đó giá vàng cũng được ổn định.
Theo TT 22/2010 TT-NHNN, thì sau một thời gian buông lỏng thị trường
vàng thì chúng ta đã thắt chặt lại trong việc kiểm soát thị trường này.
Điểm khác biệt giữa thông tư này so với thời điểm trước là các ngân hàng
11
chỉ được huy động vàng thông qua việc phát hành giấy tờ có giá (trước đây
là gửi tiết kiệm), thứ hai là các ngân hàng chỉ được phép cho vay nhằm
mục đích sản xuất vàng trang sức, nghiêm cấm việc cho vay để kinh doanh
vàng miếng, thứ ba, không cho phép chuyển vàng thành tiền đồng để cho
vay vào mục đích sản xuất kinh doanh (trước đây được phép chuyển 30%
•
lượng vàng huy động được thành tiền đồng để cho vay).
Từ 2010 đến đầu 2012: Bãi bỏ quyết định cho phép kinh doanh vàng trên
tài khoản nước ngoài (TT 01/2010/TT-NHNN), ban hành một số quy định
quản lý hoạt động thị trường vàng trong nước (bao gồm chấm dứt huy
động và cho vay vốn bằng vàng – TT 11/2011/TT-NHNN, sửa đổi bằng TT
12/2012/TT-NHNN); giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới rất
•
nhiều, thị trường vàng rối loạn.
Từ 2012 đến nay: Ban hành quy định quản lý hoạt động sản xuất và kinh
doanh vàng (Nghị định 24/2012/NĐ-CP) và tiếp tục thực hiện một số quy
định khá về quản lý hoạt động thị trường vàng, giá vàng trong nước dần ổn
Hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng phải được NHNN cấp giấy
phép kinh doanh mua bán vàng miếng; sản xuất vàng TSMN phải được
NHNN cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng TSMN (và phải
-
thực hiện báo cáo theo định kỳ);
Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức và cá nhân được công nhận và
-
bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Quy định về hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng (trong đó có
•
việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toánhạn chế “vàng hóa”).
Ngoài ra, NHNN cũng có những biện pháp nhằm quản lý chặt chẽ thị
-
trường vàng như:
Tổ chức đấu thầu vàng miếng cung cấp cho các TCTD nhằm tất toán số dư
huy động vốn của các TCTD trước đây, bình ổn thị trường. Đồng thời yêu
cầu báo cáo hàng ngày về tình hình sử dụng vàng miếng mua từ việc đấu
-
thầu (mục đích sử dụng, giá và khối lượng bán cho từng đối tượng cụ thể);
-
dẫn CSTT của thị trường tài chính.
2.2.2. Hạn chế
Chính sách quản lý chưa được nghiên cứu có hệ thống, chưa có cơ sở khoa
học vững chắc và không mang tính chiến lược bền vững (vd: sự hình thành
và hoạt động của các sàn giao dịch vàng trong khi chưa có hành lang pháp
-
lý cụ thể).
Chưa huy động một cách hiệu quả nguồn vốn xã hội: hiện nay lượng vàng
trong dân còn rất nhiều nhưng không thể huy động lãng phí của cải xã
-
hội.
Việc điều hành chính sách đi ngược với cơ chế thị trường và làm cho thị
trường vàng Việt Nam không liên thông được với thế giới (trong khi theo
lộ trình gia nhập WTO, đến năm 2018, Việt Nam phải đảm bảo nền kinh tế
-
vận hành theo cơ chế thị trường một cách hoàn toàn).
Việc độc quyền sản xuất vàng miếng với thương hiệu SJC (dù đã từng rất
hiệu quả trong khoảng thời gian dài) đang hạn chế sự cạnh tranh bình
đẳng trên thị trường và dần bộc lộ yếu kém trong quản lý: Chênh lệch giá
-
Tăng cường khả năng tự điều chỉnh của cơ chế thị trường vàng nâng cao
năng lực quản lý của nhà nước trên tất cả các lĩnh vự kinh tế - xã hội làm
-
nền tảng định hướng cho sự phát triển.
Thực hiện tốt công tác thực thi pháp luật; phổ biến, tuyên truyền chủ
-
trương chính sách của nhà nước đến người dân.
3.2. Hoàn thiện chính sách quản lý thị trường vàng
Cần có những chính sách nhất quán và lâu dài (thay cho những quy định
mang tính ngắn hạn tình thế hiện nay), từ đó xây dựng hệ thống pháp luật
-
đồng bộ và thống nhất.
Thiết lập sàn giao dịch vật chất dưới sự kiểm soát của NHNN để thị trường
-
vàng vận hành thông suốt và hiệu quả.
Cho phép các NHTM huy động vốn bằng vàng tận dụng nguồn vốn trong
nền kinh tế đưa vào sản xuất phát triển kinh tế (hiện nay một lượng lớn
-
vàng đang nằm trong dân gây lãng phí chi phí xã hội).
NHNN không độc quyền nhập khẩu, sản xuất và phân phối vàng như hiện
quyết định 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 của NHNN VN về việc
kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định 11/2007/QĐNHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định 03/2006/QĐNHNN.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), Thông tư 17/2010/TT-NHNN sửa đổi
Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư 01/2010/TT-NHNN ngày 06/01/2010 về
việc bãi bỏ quyết định 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 của NHNN VN
về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định
11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định
03/2006/QĐ-NHNN.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), Thông tư 22/2010/TT-NHNN quy định về
huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Thông tư 11/2011/TT-NHNN quy định về
chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2012), Thông tư 38/2012/TT-NHNN Quy định
về trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2012), Quyết định số 1623/QĐ-NHNN về việc tổ
chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2012), Thông tư 12/2012/TT-NHNN sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 của
NHNN VN quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của
TCTD.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Thông tư 06/2013/TT-NHNN về Hướng
dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của NHNN
Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013), Quyết định 563/QĐ-NHNN về Quy trình
mua, bán vàng miếng của NHNN Việt Nam.
Tô Ánh Dương (2013), Bài học quản lý thị trường vàng Trung Quốc và Ấn Độ.
Truy cập tại: />
hang/bai-hoc-quan-ly-thi-truong-vang-trung-quoc-va-an-do-2866678.html.
<ngày truy cập 06/4/2015>