LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay, việc phối hợp chính sách
tiền tệ và chính sách tài khóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô mỗi nước
và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Để giải thích được tại sao phải phối hợp hai
chính sách trên, kinh tế vĩ mô đã sử dụng mô hình IS- LM để phân tích, lí giải. Đặc
biệt với tình hình Việt Nam trong giai đoạn gần đây với rất nhiều biến động thì việc
nghiên cứu mô hình IS- LM và các chính sách kinh tế vĩ mô càng trở nên cần thiết.
Bước vào năm 2011 kinh tế thế giới và khu vực gặp nhiều khó khăn đã tác động không
nhỏ tới nền kinh tế trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó
khăn, lạm phát tăng cao, kinh tế vĩ mô gặp nhiều dấu hiệu bất ồn nghiêm trọng. Điều
đó đã tác động đến việc thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở nước ta.
Đặc biệt là hai chính sách này không phải lúc nào cũng có thể phối hợp nhịp nhàng, vì
thế đã không ít lần gây nân sự bất ổn cho thị trường tài chính cũng như các doanh
nghiệp. Nhưng với sự sáng suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng và nhà nước, khép
lại năm 2011 là sự thành công của chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh xã hội. Năm 2012 nền kinh tế lại được dự báo là còn
rất khó khăn, kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều bất ổn: nợ công Châu Âu chưa giải quyết
được căn bản, các nền kinh tế lớn trên thế giới còn chững lại. Trong nước lạm phát đã
được kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc,
đặt ra thách thức lớn trong trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô khi sử dụng chính sách tài
khóa, chính sách tiền tệ. Có thể thấy vai trò quan trọng của hai chính sách trên trong
việc góp phần ổn định nền kinh tế. Vậy ta cần phải đi tìm hiểu mô hình IS- LM là gì,
tại sao dùng mô hình IS- LM lại phân tích được sự cần thiết khi phối hợp các chính
sách kinh tề vĩ mô.
Nhận thấy tính cấp thiết trên, nhóm tôi quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài “ Dùng
mô hình IS- LM để phân tích vì sao phải phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô, ứng
dụng để kết hợp chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay”.Nhóm viết bài thảo luận này với mong muốn mọi người có thể tiếp cận và
hiểu về mô hình IS- LM, từ đó lí giải được tại sao phải phối hợp các chính sách kinh tế
vĩ mô. Bài thảo luận gồm 3 phần:
Phần1: Lời mở đầu
A
1
−
.Y
b b.m'
Trong đó:
A=C + I +G + X
b=d+n, trong đó d và n là các hệ số đo
lường quy mô đầu tư và xuất khẩu
giảm xuống khi lãi suất tăng 1%; m’
là số nhân chi tiêu trong nền kinh tế
đóng.
Đường IS có độ dốc xuống do lãi suất cao hơn , tổng cầu sẽ suy giảm dẫn đến thu
nhập cũng suy giảm.Độ dốc của đường IS phụ thuộc vào độ nhạy cảm với lãi suất của
tổng cầu.Nếu những thay đổi trong lãi suất đưa đến dịch chuyển nhỏ của đường cầu,
mức thu nhập cân bằng ít thay đổi và đường IS sẽ rất dốc.Sự di chuyển dọc theo đường
IS cho ta thấy sự thay đổi của thu nhập do sự biến động riêng của lãi suất làm dịch
chuyển đường tổng cầu.Ở mức lãi suất nhất định,những nhân tố ngoài lãi suất có biến
động (như chi tiêu Chính phủ…) và làm dịch chuyển đường tổng cầu, cũng làm dịch
chuyển đường IS.
1.2-Mô hình LM
1.2.1-Khái niệm
Đường LM là tập hợp tất cả các điểm biểu thị những sự kết hợp khác nhau giữa thu
nhập và lãi suất, tại đó thị trường tiền tệ cân bằng.
1.2.2-Thiết lập đường LM
của thị trường tiền tệ cũng như của những tổ hợp này. Tác động qua lại giữa 2 thị
trường ấn định mức lãi suất và thu nhập cân bằng đồng thời cho cả 2 thị trường.
Mô hình IS-LM cho biết trạng thái cân bằng đồng thời đó xảy ra tại giao điểm của 2
đường IS và LM.
Từ đồ thị cho thấy:
Ở mức thu nhập nhỏ hơn Y1, thị trường hàng hóa cân bằng tại điểm ứng với lãi
suất nhỏ hơn i1. Nhưng với mức lãi suất này thị trường tiền tệ cân bằng tại điểm ứng
với mức thu nhập lớn hơn Y1, như vậy cầu tiền thấp hơn cung tiền đã có nên lãi suất
phải giảm xuống để tổng cầu và thu nhập tăng lên tới điểm với lãi suất i 1 thì cả 2 thị
trường mới cùng cân bằng.
1.4- Sự phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô trên mô hình IS-LM.
Nếu chính phủ sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô môt cách riêng rẽ,
đôôc lâôp thì sẽ gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.
1.4.1- Sự tác đôông của chính sách tài khóa
*Trong nền kinh tế đóng, giả sử Chính phủ sử dụng chính sách tài khóa mở
rộng, bằng việc tăng chi tiêu của Chính phủ thêm một lượng là ∆G, khi đó tổng
chi tiêu của nền kinh tế tăng, tổng cầu tăng, đường IS dịch chuyển sang phải
từ IS0 đến IS1 do tổng cầu tăng, cầu tiền tăng, đẩy lãi suất tăng lên từ i 0 đến i1.
Lãi suất tăng là nguyên nhân làm giảm đầu tư (đây chính là hiện tượng tháo
lui đầu tư).
+E0E1, Y0 tăng lên Y1, i0 tăng lên i1, i tăng làm cho đầu tư I giảm sút
Tác động lấn át. Như vâôy: Tăng chi tiêu chính phủ sẽ làm giảm một hay
nhiều thành tố khác của chi tiêu tư nhân. Tác động lấn át đầu tư tư nhân.
Tăng chi tiêu chính phủ nhưng không tăng cung tiền, giúp sản lượng tăng,
lãi suất tăng, nhưng i tăng làm giảm cầu đầu tư tư nhân. Quy mô tháo lui
thuế) thì tổng cầu sẽ tăng lên, đường IS sẽ dịch chuyển sang phải từ
IS0 → IS1 nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng tại E0. Kết quả là lãi suất
tăng từ i0 → i1, mức sản lượng cân bằng tăng từ Y0 → Y1. Do lãi suất
tăng, đầu tư giảm, xảy ra hiện tượng tháo lui đầu tư.
Khi Chính phủ sử dụng chính sách tài khoá mở rộng (tăng chi tiêu,
giảm thuế) và chính sách tiền tệ mởrộng (tăng cung tiền), đường IS sẽ
dịch chuyển đến IS2, đường LM dịch chuyển đến LM2.
Để tránh được hiện tượng tháo lui đầu tư, Chính phủ phải kết hợp
chính sách tiền tệ lỏng và chính sách tiền tệ lỏng. Đó là việc Chính phủ
tăng mức cung tiền và duy trì mức lãi suất i0, đường LM dịch chuyển
sang phải từ LM0 → LM1 nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại E2,
lúc này lãi suất giảm từ i1 về mức lãi suất ban đầu i0, sản lượng cân
bằng tăng lên từ Y1 → Y2. Kết quả của việc phối hợp hai chính sách là:
Thu nhập tăng nhanh từ Y0 → Y2 và ổn định được lãi suất
1.4.4-Sự phối hợp giữa chính sách tài khoá chặt và chính sách tiền tệ
chặt
Chính sách tài khoá chặt (chính sách tài khoá thắt chặt) là chính sách
sử dụng nhằm tăng thuế T, giảm chi tiêu G để giảm tổng cầu AD và thu
hẹp phạm vi phát triển của nền kinh tế.
Hình trên miêu tả Chính phủ sử dụng chính sách tài khoá thắt chặt
và chính sách tiền tệ thắt chặt làm giảm sản lượng cân bằng của nền
kinh tế từ Y0 → Y2, lãi suất cân bằng không đổi.
Chính sách tiền tệ chặt (chính sách tiền tệ thắt chặt) sử dụng nhằm
giảm mức cung tiền MS, tăng lãi suất i để giảm tổng cầu AD nhằm giảm
sản lượng cân bằng Y
Khi Nhà nước sử dụng chính sách tài khoá chặt đường IS sẽ dịch
chuyển sang trái, IS giảm từ IS 0 → IS1 nền kinh tế đạt trạng thái cân
bằng mới, sản lượng cân bằng giảm từ Y0 → Y1, lãi suất giảm từ i0 → i1.
năm qua như: (i) Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng
đầu tư lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư công; (ii) Giá cả của nhiều mặt hàng
như điện, xăng,… được điều chỉnh tăng; (iii) Nới lỏng chính sách tiền tệ của
những năm trước…Thực tế, lạm phát ở Việt Nam luôn vượt quá một con số kể
từ năm 2007 đến nay (trừ năm 2009). Tính đến tháng 8/2011, CPI tăng
15,68% so với cuối năm 2010 cho thấy việc kiểm soát lạm phát cả năm khoảng
15-17% là khó khăn.
Bảng 1. Diễn biến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn từ năm 2005- tháng 6/2011
Chỉ tiêu
2005
2006
2007
2008
2009
2010 T6/2011
Tăng trưởng kinh tế(%)
8,44
8,23
8,46
-18
-12,8
-12,6
-6,65
Tăng trưởng M2 (%)
28,7
33,7
46,1
20,3
29
33,3
1,18
Tăng trưởng tín dụng
31
26
22
18
%
19.89
15.68
1
4
1
1
1
0
9
.
5
0
8
.
4
0
6
2
0.
ph
át
của
Việ
t
Na
m
từ
200
0thá
ng
8/2
011
(% so với tháng 12
năm trước)
Từ
năm
2000
đến
nay,
thu
n
g
â
n
s
á
c
h
ủ
y
ế
u
t
ừ
nguồn
thu nội
địa,
như từ
dầu
thô, từ
xuấtnhập
khẩu,
viện
trợ
không
hoàn
lại, thu
chuyển
nguồn
…
trong
đó, thu
nội địa
chiếm
tỷ
trọng
64%,
còn lại
là các
khoản
thu
khác
như
thu
viện
trợ,
thu
chuyể
n
nguồn
chiếm
số
không
đáng
kể.
Các
nguồn
chi
chủ
yếu là
chi
cho
đầu tư
phát
triển,
chi
4
5
5
6
7
III
IV
1
2
N
gu
ồn
:
Bộ
Tà
i
ch
ín
h
Tổ
Thu
Thu
Thu
Thu
Thu
Tổ
Chi
Chi
Chi
và giảm bội chi. Kết quả là bội chi NSNN năm 2010 ở mức 5,53% GDP và
2,6% GDP trong 6 tháng đầu năm 2011 (chi tiết xem tại đồ thị 2).
0
-1
2005
2006
2007
2008
2009
2010
6T/2011
-2
-2.6
-3
-4
-5
-6
-7
-4.86
lý phát hành tín phiếu kho bạc cho Bộ Tài chính; thông qua việc tăng khối
lượng chào mua giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở, NHNN điều tiết thị
trường tiền tệ, đồng thời tạo điều kiện tăng tính thanh khoản cho trái phiếu Chính
phủ, giúp việc phát hành trái phiếu Chính phủ được thuận lợi hơn. Như vậy,
chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã hỗ trợ cho việc phát triển thị trường
tiền tệ và thị trường trái phiếu.
Việt Nam được IMF đánh giá là có sự phối hợp chính sách tiền tệ với chính
sách tài chính một cách thận trọng và phù hợp đã góp phần từng bước đưa
Việt Nam vượt qua được giai đoạn đầy khó khăn của thời kỳ đầu gia nhập
WTO, kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức tương đối cao
(năm 2008 GDP tăng 6,23%, năm 2009 tăng 5,32%, năm 2010 tăng 6,78%, 6
tháng/2011 ước tăng 5,57% so cùng kỳ năm trước); hoạt động tiền tệ, ngân
hàng nhìn chung ổn định, thị trường ngoại tệ, vàng, tỷ giá được kiểm soát
phù hợp, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện.
2.2-Những hạn chế trong sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa
Bên cạnh những mặt đạt được trên thì còn có một số điểm chưa “tương thích”
giữa hai chính sách.
Thứ nhất, chính sách tiền tệ phải theo đuổi nhiều mục tiêu và chưa có sự
độc lập tương đối.
Trên thế giới, ở các nước có ngân hàng trung ương (NHTW) độc lập, NHTW
được chủ động thực thi các công cụ của chính sách tiền tệ và bị cấm cho chính
phủ vay không theo điều kiện thị trường, đồng thời phải có trách nhiệm giải
trình trước Quốc hội và trước công chúng các quyết định của mình. Các nhà
hoạch định chính sách tiền tệ phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng của
chính sách tiền tệ, và không thể bị gây áp lực làm chính sách tiền tệ đi chệch
hướng. Đối với một số quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu, NHTW chỉ thực
hiện mục tiêu duy nhất là kiểm soát lạm phát...
Ở Việt Nam, tại Điều 10 của Luật NHNN năm 2010 có quy định: “Thống
mức lạm phát kế hoạch hàng năm, mà không đưa ra biên độ dao động hợp lý dẫn
đến phải điều chỉnh nhiều lần, đã làm mất lòng tin của công chúng đối với những
cam kết của các nhà hoạch định chính sách.
2.3-Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ ở Việt Nam.
Trước hết, cần tăng cường và hoàn thiện việc thu thập thông tin, phân tích
thông tin và trao đổi thông tin để việc thông qua và thực hiện các chính sách
tài khóa và chính sách tiền tệ được chuẩn xác. Đây là khâu yếu nhất hiện nay,
cần phải tăng cường sự phối hợp để đảm bảo các thông tin được cập nhật kịp
thời. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm
phát tăng cao thời gian qua nằm ở cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư. Tình trạng
bội chi ngân sách và đặc biệt tình trạng sử dụng thiếu hiệu quả nguồn vốn đầu
tư từ Chính phủ, tăng trưởng tín dụng cao trong những năm gần đây là những
nhân tố trực tiếp dẫn tới tình trạng lạm phát hiện nay. Vì thế, cần có sự phối
hợp trao đổi thông tin, phối hợp điều hành chính sách tài khóa và chính sách
tiền tệ nhất quán, phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế.
Hơn nữa, thực tế cho thấy, để ổn định thị trường tiền tệ, chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ cần được thực hiện theo hướng ổn định lãi suất, ổn định
thanh khoản của hệ thống tài chính, phát triển các phân khúc của thị trường tài
chính và phối hợp cung cấp thông tin. ðể giúp ổn định thanh khoản của hệ
thống TCTD, Bộ Tài chính cần trao đổi thông tin kịp thời về dự kiến các khoản
thu chi ngân sách, ngoài ngân sách; kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ
hàng năm, hàng quý để làm cơ sở cho điều hành chính sách tiền tệ.
Ngoài ra, cần tăng cường sự phối hợp để thực hiện huy động nguồn bù đắp bội
chi ngân sách, cũng như việc huy động trái phiếu chính phủ cho các công trình
giao thông thủy lợi trong thời gian tới, nhất là thời hạn huy động, hình thức huy
động, lãi suất huy động, thời điểm huy động thông qua hình thức trao đổi, lấy ý
kiến, để tránh diễn biến không có lợi trên thị trường tiền tệ, tác động xấu đến
∆Yo = m.∆G =
1
1
∆G =
.2 = 10
1 − MPC
1 − 0,8
tỷ USD
2)Nếu bây giờ chi tiêu của Chính phủ về hàng hóa dịch vụ không thay đổi và số
thu từ thuế giảm đi 2 tỷ USD thì sản lượng cân bằng sẽ tăng lên là:
a.6 tỷ USD
b.2 tỷ USD
c.8 tỷ USD
d.4 tỷ USD
Lời giải:Ta có G không đổi,T giảm 2 tỷ USD thì sản lượng cân bằng sẽ tăng là:
∆Y
0
=mt.
∆T
=
− MPC
1 − MPC ∆T
=290+0,75( Y-T) +0,1Y
=290+0,75(Y-40-0,2Y)+ 0,1Y
=300+ 0,7Y
Tại điểm cân bằng: Y=AD
⇔ Y = 0,7Y + 300
⇔ Y = 1000 = Y
*
Như vậy trong trường hợp này ngân sách cân bằng là tốt
b.Ngân sách cân bằng ở mức T=G=40+0,2.1000=240
c.G=200
⇒G
giảm :
∆G = 240 − 200 = 40
Sản lượng cân bằng giảm:
∆Y = m".∆G
∆
Y=
d, ra = 0, 4 ; rb = 0,4×0,25 = 0,1
Ta có mM = = = 2.5
Khi đó MS = mM × H = 2.5 × 1050 = 2625.
Bài 11.
a
Ta có : mM =
H = = = 40500 (tỷ đồng)
b Ta có:
s = = 0.5
Mặt khác: mM = = = 2
2 =>= 0.25
c
Ta có:
=>
Vậy tiền mặt lưu thông là 27000 tỷ đồng và tiền gửi được tạo ra trong hệ
thống ngân hàng thương mại là 54000 tỷ đồng.
Bài 12. a)Viết lại hàm tiêu dùng:
C=100 + 0.75 YD =100 + 0.75(Y – T) = 100 + 0.75(Y- 10- 0.1Y)
C = 92.5 + 0.675Y
Thị trường hàng hóa cân bằng:
Y= C + I +G +NX
= = = 0.04875
Do 0.04875 < 0.0525 =>đường IS lúc này thoải hơn so với đường IS
ban đầu.
d) Khi hàm đầu tư là I = 150 – 20i thì ta có những điều sau:
Ā = 92.5 + 150 +50 +40 = 332.5
b = d = 20
= 1 – MPC (1- t) + MPM = 1-0.75 (1-0.1) + 0.2 = 0.525
Vậy phương trình đường IS1 lúc này là :
i = - Y i = - Y i = 16.625 -0.02625Y
Đường IS1 có độ dốc nhỏ hơn 2 lần so với độ dốc của đường IS ban đầu.
Đường IS nằm ngang = 0 b→∞: đầu tư vô cùng nhạy cảm
với lãi suất.
Khi xây dựng phương trình đường IS :Ta có thị trường hàng hóa cân bằng
Ā – bi = Y Y = Ā.m’’ – b.m’’i
IS thẳng đứng Y = CONST b→ 0.đầu tư độc lập với lãi suất.
Bài 13. a)Ta có : Ā = + + Ī = 700 +380 +450 = 1530
= 1 – MPC (1 – t) = 1- 0.8 (1-0.2) = 0.36
Phương trình IS là:
i= -Yi= - Y
i=
170 – 0.04Y
Phương trình LM là:
i = - + Y i = Y i= -100 +Y
Vậy phương trình IS là: i = - Y i = Y i = 55 -Y
Phương trình LM:
i = - + Y i = Y i= -12.5 +Y
i
54
53
o
A
25
B
50
IS
Y
i
LM
B
17.5
7.5
Chính sách tài khóa này làm IS dịch chuyển song song sang phải, LM không thay
đổi ,làm tăng mức sản lượng cân bằng và tăng lãi suất cân bằng =>chính sách này
dễ gây ra hiện tượng thoái lui đầu tư.
d)Để đảm bảo yêu cầu giảm thoái lui đầu tư và giữ cho mức lãi suất không đổi ở
trạng thái ban đầu cần sử dụng chính sách tiền tệ lỏng làm đương LM dịch chuyển
song song sang phải để mức lãi suất cân bằng giảm xuống mức lãi suất cân bằng
ban đầu
Với i=i0 = 13.46 thay vào phương trình IS1 ta tìm được sản lượng cân bằng
Ta có 13.46 = 62.5 – 0.04Y => Y = 1226
Phương trình LM sau khi thay đổi là
+ 0.025Y
=>13.46 = + 0.025 x 1226
MS1 = 137.52
Mức cung tiền phải tăng lên ∆MS = MS1 – MS = 137.52 – 100 = 37.52(tỷ)
Bài 15 . a)Đường Philips PC0 có phương trình:
gp
gp = -Ɛ( u – u*)
Từ số liệu bài cho ta lập được hệ phương trình
sau:
gp 1
Vậy phương trình đường PC0 là:
gp = -6(u – 2) gp = 12 – 6u
o
b)Tỷ lệ lạm phát dự kiến là 6%