nghiên cứu chiết tách và phân lập một số chất từ cây giá (excoecaria agallocha l ) họ euphorbicaceae ở việt nam - Pdf 31

MÃ ĐỀ TÀI:

TÊN ĐỀ TÀI : NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÂN LẬP CÁC CHẤT TỪ CÂY GIÁ (EXCOECARIA
AGALLOCHA L., EUPHOBIACEAE)

Sinh viên: Họ và tên – Lớp – Khóa
Giáo viên hướng dẫn: Học hàm. học vị. Họ và tên
Khoa/Viện ................................
Điện thoại nhóm SV :

Phần Tóm tắt nội dung đề tài:
Bối cảnh và mục tiêu : Cây Giá có tên khoa học là Excoecaria agallocha L., họ
Euphorbiaceae là một loài cây mọc ở các vùng đất bồi ven biển, ven sông ưa đất cát pha, có mùn,
nước lợ hoặc nước mặn, cây rất dễ tìm và có khả năng phát triển tốt. Từ Cây Giá (Excoecaria
agallocha L.) người ta chiết được một số chất có hoạt tính kháng virus HIV, nhiều hợp chất có
hoạt tính sinh học cao, có tác dụng ức chế mạnh đối với một số loài virus, có khả năng kháng
viêm, chống oxy hóa và ức chế một số tác nhân gây ung thư.[1] Vì vậy đề tài “ Nghiên cứu chiết
tách và phân lập một số chất từ cây giá (Excoecaria agallocha L.) họ Euphorbiaceae ở Việt Nam
” sẽ góp phần tìm hiểu tiềm năng khai thác và sử dụng loài cây hữu ích này.
Phương pháp: Bản mỏng và sắc ký bản mỏng, cột và sắc ký cột.
Kết quả : Từ cặn chiết n-hexan của dịch chiết tổng methanol của loài Excoecaria
agallocha L. thu được hợp chất EA1 (14-taraxerene-3-one) , EA2 (14-taraxerene-3β-ol) , EA3
(14-taraxerene-3α-ol).
Kết luận :
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ............................................................................................................................................
2. ............................................................................................................................................

3.

Page 1

Page 2


Hình 1: Cây Giá (Excoecaria agallocha L.)

1.1 Tình hình nghiên cứu cây giá (Excoecaria agallocha L.)
Trên thế giới, Cây Giá đã được nghiên cứu rất nhiều về thành phần hóa học và hoạt tính
sinh học. Các chất tách được chủ yếu thuộc vào 2 lớp chất diterpen và flavonoid.

Page 3


1.2 Các diterpen
Diterpen là một nhóm chất thuộc lớp chất terpen, thành phần phân tử chứa 4
đơn vị isopren (C5H8), có công thức phân tử là C20Hn, có cấu tạo mạch thẳng hoặc
mạch vòng.
Các nghiên cứu đã cho biết, nhựa mủ của cây Giá là hỗn hợp của các diterpen este (các
hợp chất chứa C20 ) với các axit béo bão hòa tương tự như axit n-cacboxylic (với C 22-C30). Các
hợp chất trên có tác dụng gây kích thích, gây nhức nhối ở da khi tiếp xúc.
Năm 2000, Bằng các phương pháp phổ Ammanamanchi và đồng sự của ông đã phân lập
được 11 diterpen từ dịch chiết n-hexan của rễ của Cây Giá (Excoecaria agallocha L.) thu ở vùng
Godavari Ấn Độ . Trong đó có 5 diterpen mới là:
3-oxo-ent-13epi-8(13)-epoxy-15-chloro-14-hydroxylabdan

(1);

ent-15-chloro-13,14

dihydroxylabd-8(9)-en-3-on (2); ent-15-chloro-labd-8(9)en-3α,13,14-triol (3); ent-11β-hydroxy8(14),15-isopimaradien-3-on (4); 8,13-epoxy-3-nor-2,3-seco-14-epilabden-2,4-olid (5). Và 6
diterpen đã biết là: ent-3-oxo-13-epi-manoyl oxid (6); ent- 3β-hydroxy-13-epi-manoyl oxid (7);

Page 6


Năm 2003, Tenji Konishi và các đồng sự của ông đã phân lập được ba
diterpen khung secolabdan mới có tên là excoecarin S, T1 và T2 từ dịch chiết nhexan của mủ cây Giá (Excoecaria agallocha L.), cấu trúc của các diterpen mới
này được xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu quang phổ 13C, 1H NMR và X-Ray đơn
tinh thể đó là: 13-epi-12-hydroxy-2,3-secolabda-14-en (17), axit ent-14S,15epoxy-2,3-seco-13-epi-labdan-2,3-dioic (18) và axit ent-14R,15-epoxy-2,3-seco13-epi-labdan-2,3-dioic (19). Trong đó T1và T2 có cùng công thức là . Và 3
diterpen đã biết là axit ent-12-oxo-2 ,3-secobeyer-15-en-2,3-dioic (20); agallochin
H (21); và ent-15-epoxy-beyeran-3α-ol (22) [7].
Gần đây, một phorbol este có tên là 12-deoxyphorbol-13-(3E, 5E-decadienoat), với đặc
tính chống HIV, đã được phân lập từ lá và thân của cây Giá (Excoecaria agallocha L.) nghiên
cứu ở Tây bắc Australia. Trong quá trình nghiên cứu người ta thấy các thành phần diterpen có
khả năng ức chế hiệu quả với virus Epstein-Barr gây ung thư [1], [8].

Page 7


Năm 2007, Ji-Dong Wang và các đồng sự của ông đã phân lập được 4
diterpen từ dịch chiết etyl axetat từ thân cây và lá của cây Giá ( Excoecaria
agallocha L.) sử dụng các phương pháp sắc ký cột sử dụng trên silica gel,
Sephadex LH-20. Bằng các phương pháp phổ như phổ hồng ngoại (IR), 13C và 1H
NMR đã xác định được cấu trúc của 4 loại diterpen mới

được đặt tên

excoagallochaols A-D đó là: Excoagallochaol A (23), Excoagallochaol B (24),
Excoagallochaol C (25), Excoagallochaol D(26) .Trong đó Excoagallochaol D(26)
là đồng phân của Excoagallochaol C (25) [8].
Page 8


1.3 Các flavonoid
Flavonoid là các hợp chất polyphenol, đa dạng về cấu trúc hóa học và sinh
học. Chúng có ở hầu hết các bộ phận của cây, đặc biệt là trong các tế bào thực vật
quang hợp. Các flavonoid không được tổng hợp ở người và động vật.
Năm 2010, Yusnita Rifai và các đồng sự của ông đã phân lập được từ dịch
chiết metanol, n- hexan, etylaxetat và butanol từ lá của cây Giá (Excoecaria
agallocha L.) 8 flavonoid. Cấu trúc của các chất được xây dựng nhờ sử dụng các
phương pháp phổ, trong đó có 2 flavonoid mới (45), (46) và 6 flavonoid glycosid
đã biết: afzelin (47); quercitrin (48); rutin (49); kaempferol-3-O-(2-O-acetyl-α-Lrhamnopyranosid (50); kaempferid 3 O-α-L-rhamnopyranosid (51) và kaempferol
3-Oa-Larabinofuranosid (52).
Ba glycoside flavonoid bao gồm 2 hợp chất mới (45 và 46) được phân lập
từ cây Giá (Excoecaria agallocha L.) là chất ức chế và chống lại tế bào ung thư ở
tuyến tụy của người và tế bào ung thư tuyến tiền liệt mang lại nhiều hiệu quả tích
cực [11].

Page 12


Page 13


Năm 2011, Yongxin Li và các đồng sự của ông đã phân lập được từ dịch
chiết butanol của cây Giá (Excoecaria agallocha L.). Bằng các phương pháp phân
tích trên quang phổ IR, MS, NMR đã xác định được cấy trúc của bốn flavonoid mới. Bốn
flavonoid mới được phân lập là: Excoecariphenol A (53); Excoecariphenol B (54) ;
Excoecariphenol C (55) ; Excoecariphenol D (56). Những flavonoid mới này được thử

nghiệm và cho kết quả tích cực trong phòng chống bệnh viêm gan HCV [12].

2. Hoạt tính sinh học của cây giá (Excoecaria agallocha L.)

bệnh phong cùi và bệnh tê liệt.

Page 15


II.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực nghiệm mẫu lá cây Giá:
Sơ đồ 1: Quy trình chiết mẫu thực vật

Mẫu lá khô 5.7kg
1. Chiết với MeOH 95%
2. Cất loại MeOH

Cặn MeOH
530g
Thêm 2lit H2O
Chiết với ethyl axetat cất loại dm

Cặn chiết
EtOAc 54.5g
Dịch nước còn lại
310g
Chiết với n-hexan
cất loại dm

Cặn chiết
n-hexan 96.1g

EA1 (1)

EA3 (2)

(taraxerone)

(epitaraxerol)

EA2 (3) (taraxerol)

5.7kg bột lá khô của cây Giá được chiết siêu âm trong MeOH 95% 3lần (3 tiếng/lần).
Dịch chiết tổng được cô quay áp suất giảm thu được 530g cặn tổng MeOH. Đem pha loãng cặn
tổng MeOH với 2lit nước và chiết phân bố lần lượt với n-hexan và etyl axetat, cô quay giảm áp
thu được 96.1g cặn n-hexan, 54.5g cặn etyl axetat và 310g cặn nước.
Tiến hành phân lập chất từ 50g cặn n-hexan của dịch chiết tổng MeOH từ lá của cây giá
bằng sắc ký cột silica gel (tỷ lệ chất/silica gel=10/1) với hệ dung môi n-hexan/etyl axetat, tăng
dần tỷ lệ etylaxetat từ 0%-100% thu được 7 phân đoạn chính.
Phân đoạn 1(6.6g) thu được khi rửa gải bằng hệ n-hexan/etyl axetat với tỷ lệ etyl axetat
5%. Phân đoạn 1 được tinh chế bằng sắc ký cột (tỷ lệ chất/silica gel=1/25), với hệ dung môi rửa
giải là n-hexan/etyl axetat = 65/1 thu được 3 phân đoạn chính I.1, I.2, I.3. Kết tinh phân đoạn I.1
trong n-hexan, rửa lại bằng n-hexan lạnh thu được 0.15g chất EA1(taraxer-14-en-3-one) là tinh
thể hình kim, màu trắng, Rf= 0.52 (n-hexan/etylaxetat = 20/1), t onc= 241-243oC. Phân đoạn I.3
được kết tinh lại trong n-hexan thu được 96mg EA3 (epitaraxerol) là tinh thể hình kim, màu
trắng, Rf=0.33 (n-hexan/etylaxetat = 20/1), tonc= 268-269oC.
Phân đoạn 2(12.4g) thu được khi rửa gải bằng hệ n-hexan/etyl axetat với tỷ lệ etyl axetat
10%. Sắc ký cột phân đoạn 2 (tỷ lệ chất/silica gel=30/1), dung môi rửa giải là nhexan/etylaxetat=50/1 thu được 1phân đoạn chính. Kết tinh trong CH 2Cl2 và rửa lại bằng CH2Cl2
lạnh thu được 0.60g chất EA2 (taraxerol), ở dạng tinh thể hình phiến màu trắng, Rf= 0.61 (nhexan/etylaxetat = 10/1), tonc= 279-280oC.

* Thảo luận kết quả
Page 18

của EA3 có xuất hiện thêm tín hiệu proton tại δH 3.40 đây là tín hiệu của nhóm
oximetin. Điều này cho phép dự đoán EA3 là một dẫn xuất bị khử nhóm cacbonyl (>C=O)
của EA1. Phổ 13C-NMR của EA3 xuất hiện tín hiệu của 30 cacbon khá giống với hợp chất
EA1. Tuy nhiên, trên phổ 13C-NMR của EA3 không thấy xuất hiện tín hiệu của nhóm
cacbonyl (δC 217.5) mà thay vào đó là tín hiệu của nhóm oxymethine tại δC 76.2. Điều này
một lần nữa khẳng định dự đoán trên là phù hợp. Phân tích các dữ kiện phổ thu được và so sánh

Page 20


với tài liệu đã công bố [], hợp chất EA3 được xác định là epitaraxerol, một dẫn xuất của
taraxerone.
Hợp chất EA2 (3): 14-taraxerene-3β-ol (taraxerol)
Hợp chất EA2 thu được dưới dạng tinh thể hình phiến màu trắng, có nhiệt độ nóng chảy
tonc= 279-280oC. Phổ 1H-NMR của EA2 xuất hiện 8 tín hiệu singlet của 8 nhóm metyl bậc bốn tại
δH 0.80 (3H), 0.82(3H), 0.91(6H), 0.93(3H), 0.95(3H), 0.97(3H), 1.09(3H), một tín hiệu proton
nối đôi tại δH 5.54(dd, J = 8.0, 3.5 Hz), và một tín hiệu proton tại δH 3.19 (1H, m). Phổ 13C-NMR
của EA2 xuất hiện tín hiệu của 30 nguyên tử. Các phổ 1H- và 13C-NMR của EA2 và EA3 hoàn
toàn tương đồng với nhau. Chỉ có một điểm khác biệt về độ chuyển dịch proton và cacbon của
nhóm oximethine là: tín hiệu proton của nhóm oximethine trong EA2 (δH 3.19) chuyển dịch về
phía trường mạnh hơn trong EA3 (δH 3.40), còn tín hiệu cacbon của nhóm oxymethine trong
EA2 (δC 78.8) chuyển dịch về phía trường thấp hơn trong EA3 (δC 76.2) điều này cho phép dự
đoán EA2 là đồng phân của EA3 với nhóm oxymethine nằm ở vị trí 3β. Phân tích các dữ kiện
phổ thu được và so sánh với tài liệu đã công bố [], hợp chất EA2 được xác định là taraxerol.
Như vậy khi nhóm cacbonyl (>C=O) trong EA1 bị khử hóa sẽ thu được hai dạng đồng phân 14taraxerene-3α-ol (EA3) và 14-taraxerene-3β-ol (EA2). Đây là lần đầu tiên hợp chất này được
phân lập từ loài E.Agalocha. Khi nghiên cứu khả năng ức chế enzym acetylcholinesterase
(AchE) từ một số loài thực vật và nấm, Peter J. Houghton và cộng sự đã phát hiện được khả năng
ức chế AchE của 14-taraxeren-3β-ol với giá trị IC50 là 79µM [63].

Vị trí


1.09s

0.91s

0.94s

26



1.14s

0.97s

1.09s

27

13α

0.92s

1.09s

0.91s

28

17β

Hợp chất EA1, EA2, EA3

Vị trí

EA1 (1)

EA2 (3)

EA3 (2)

14-taraxeren-3-on

14-taraxeren-3β-ol

14-taraxeren-3α-ol

[TL1,2]

[TL2]

(epitaraxerol) [TL3]

C
δ C (CDCl3,
125MHz)

δ H (CDCl3,
500MHz)

δ C (CDCl3,


δ H (CDCl3, 500MHz)

δ C (CDCl3,
125MHz)

37.6

37.7(CH2)

26.7

25.0(CH2)

76.2(CH)

3.40(br)

38.8

39.1(C)

-

55.7(CH)

55.4

49.2(CH)


48.9(CH)

10

35.7(C)

37.4

37.5(C)

11

17.4(CH2)

17.3

17.4(CH2)

12

37.6(CH2)

37.5

35.1(CH2)

13

37.7(C)


116.7(CH)

5.52(dd, J=8.0,
3.5)


16

36.6(CH2)

36.5

36.7(CH2)

17

37.5(C)

37.8

35.8(C)

18

48.8(CH)

49.5

48.7(CH)


32.2(CH2)

23

26.1(CH3)

1.08s

27.7

0.93s

33.3(CH3)

0.94s

24

21.3(CH3)

1.06s

15.3

0.80s

22.1(CH3)

0.82s


25.5(CH3)

0.92s

25.7

1.09s

29.8(CH3)

0.91s

28

29.9(CH3)

0.83s

29.7

0.82s

21.2(CH3)

0.86s

29

33.3(CH3)



1. Đã xử lý mẫu cây Giá tạo cao chiết tổng và cao chiết phân đoạn bằng các dung môi hữu cơ khác
nhau.
2. Bằng việc kết hợp các phương pháp sắc ký đã phân lập được 3 hợp chất từ cao chiết n-hexan của
cây Giá, kết hợp với các phương pháp phổ hiện đại bao gồm cộng hưởng từ hạt nhân một chiều
(1H-NMR, 13C-NMR, DEPT), phổ khối lượng (ESI-MS) đã phân lập được cấu trúc hóa học của 3
hợp chất. Các hợp chất đó là:
- Hợp chất EA1 (1): 14-taraxerene-3-one
- Hợp chất EA3 (2): 14-taraxerene-3α-ol (epitaraxerol)
- Hợp chất EA2 (3): 14-taraxerene-3β-ol (taraxerol)

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1. Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên
ST&TNSV - Viện KH&VN Việt Nam.

Page 24


2. Lã Đình Mỡi, Dương Đức Huyến, Nguyễn Tiến Bân (2004), Chi Đơn tía (Excoecaria L.), chi
Lãnh công (Fissistigma Griff.) Tài nguyên thực vật Đông Nam Á, Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội, tập 9(6), trang 3-18.
3. Phạm Hoàng Hộ,Cây cỏ Việt Nam, quyển 2 trang 284.
4. Ammanamanchi S.R. Anjaneyulu , Vadali Lakshmana Rao, (2000),Phytochemistry, V. 55, p.
891-893.
5. Tenji Konishi, Takao Konoshima, Takashi Maoka and Yasuhiro Fujiwara, (2000), Tetrahedron
Letters, V.41, p. 3419.
6. Ammanamanchi S.R. Anjaneyulu, Vadali Lakshmana Rao, (2002), Phytochemistry, V.62, p.
585-586.
7. Tenji Konishi, Takao Konoshima, Takashi Maoka and Yasuhiro Fujiwara, (2003),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status