Sử dụng mô hình nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng dạy học toán ở trường trung học phổ thông - Pdf 31

Chương 1. MỞ ĐẦU
1. Lời giới thiệu
Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi người học có học vấn hiện đại không chỉ
có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội ở trường phổ
thông mà còn phải có khả năng chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc
lập, khả năng giải quyết một cách sáng tạo các vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng
ngày, khả năng đánh giá các sự kiện, các hiện tượng, các tư tưởng mới một cách
thông minh, sáng suốt. Yêu cầu đổi mới này đòi hỏi việc dạy học toán phải chuyển
đổi từ việc chú trọng đến kiến thức, thành thạo các kĩ năng cơ bản và các thuật toán
có sẵn để giải quyết một lớp các bài toán quen thuộc sang việc hình thành năng lực
tư duy giải quyết vấn đề có tính thực tiễn cho học sinh. Xu hướng này đòi hỏi giáo
viên phải thay đổi cách dạy học toán của mình, phải cố gắng tìm kiếm những đổi
mới trong dạy học toán nhằm nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho chính mình và phát
triển tư duy toán học cho học sinh. Giáo viên phải tạo ra được môi trường học tập
tích cực kích thích học sinh tự tìm tòi và kiến tạo tri thức cho riêng mình thông qua
tiếp cận giải quyết vấn đề, khảo sát toán và câu hỏi kết thúc mở. Trong lúc đó,
nghiên cứu bài học với vai trò của nó (Mutara & Takahashi, 2006; Catherine &
Rebecca, 2006) là:
• Cung cấp cho giáo viên cơ hội để thấy việc dạy và học trong một lớp dưới
một dạng cụ thể. Khi quan sát một lớp học thực tế, giáo viên có khả năng để
phát triển một hiểu biết chung về thế nào là một thực hành dạy học tốt, hiểu
biết đó quay trở lại giúp các em học sinh hiểu được các em đang học được gì.
• Đặt học sinh ở vị trí trung tâm trong hoạt động phát triển nghiệp vụ của giáo
viên. Khi quan sát và thảo luận về những gì xảy ra trong lớp học, giáo viên
có cơ hội xem xét một cách kĩ lưỡng quá trình học và hiểu của học sinh
nhằm đưa ra các đổi mới trong dạy học.
• Lấy giáo viên làm trung tâm để phát triển nghiệp vụ.
Nghiên cứu bài học thật sự trở thành một mô hình thực hành dạy học hiệu quả
mà nhiều nước đã và đang sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học toán. Với xu thế

1

triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên. Nghiên cứu bài học đóng vai trò như là một
phương tiện nhằm phát triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, cải tiến việc học của
học sinh để tập trung phát triển năng lực tư duy cho học sinh. Vì vậy tồn tại nhu cầu

2


cho việc nghiên cứu “Sử dụng mô hình nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng
dạy học toán ở trường trung học phổ thông”.
1.2. Phát biểu vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu bài học với chức năng là phương tiện để phát triển nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên nhằm tập trung phát triển tư duy cho học sinh đã và đang được
nhiều nước quan tâm nghiên cứu và áp dụng trong những thực hành dạy học toán ở
trường phổ thông cũng như ở bậc đại học và mang lại hiệu quả tích cực trong việc
nâng cao chất lượng dạy học toán. Tuy nhiên ở nước ta hiếm có nghiên cứu nào
nghiên cứu về việc sử dụng mô hình nghiên cứu bài học để nâng cao chất lượng dạy
và học toán ở trường trung học phổ thông. Nhiều nghiên cứu hơn nữa cần được tiến
hành để xem xét việc sử dụng mô hình nghiên cứu bài học trong thực hành dạy học
toán ở trường trung học phổ thông ảnh hưởng tích cực như thế nào đến chất lượng
dạy học toán.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là tìm kiếm những đổi mới trong thực hành
dạy học toán ở trường trung học phổ thông nhằm phát triển nghiệp vụ sư phạm cho
giáo viên tập trung phát triển tư duy cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học
toán thông qua việc sử dụng mô hình nghiên cứu bài học; đề xuất một quy trình
nghiên cứu bài học phù hợp với thực tiễn dạy học toán ở Việt Nam.
3. Các câu hỏi nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là tìm kiếm những đổi mới trong thực hành
dạy học toán ở trường trung học phổ thông nhằm phát triển nghiệp vụ sư phạm cho
giáo viên tập trung phát triển tư duy cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học

 Nghiên cứu bài học: là một hình thức phát triển nghiệp vụ sư phạm lâu dài mà
ở đó một nhóm giáo viên hợp tác thực hiện các nghiên cứu dựa vào các bài học một
cách có hệ thống và sau đó sử dụng những gì họ thu nhận được từ tư duy của học
sinh để trở thành những nhà dạy học hiệu quả hơn.
Theo tiếng Nhật nghiên cứu bài học là “jugyokenkyu” có nghĩa là nghiên cứu và
cải tiến một bài học cho đến khi nó hoàn hảo. Nghiên cứu bài học là một tiếp cận
toàn diện hơn về phát triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, trong đó việc sửa lại
và cải tiến bài học là một phần nhỏ trong quy trình; nghiên cứu bài học cũng là một

4


quy trình phát triển những thói quen về việc tự phản ánh và cải tiến thông qua việc
hợp tác với các đồng nghiệp.
 Quy trình nghiên cứu bài học: là một chuỗi gồm các bước mà nhóm nghiên
cứu tham gia nghiên cứu bài học sử dụng. Có nhiều biến thể của quy trình này, ở
đây ta mô phỏng quy trình nghiên cứu bài học gồm có các bước như sau: (1) lên kế
hoạch bài học, (2) thực hiện kế hoạch bài học và quan sát, (3) thảo luận và phán
ánh, (4) sửa lại kế hoạch bài học theo sơ đồ:
(1) Lên kế hoạch bài học

(2) Thực hiện và quan sát

(3) Thảo luận và phản ánh

(4) sửa lại kế hoạch bài học

Sơ đồ 1: Quy trình nghiên cứu bài học

 Vấn đề: là bài toán mà cách thức hoàn thành hay kết quả của nó chưa được

Đơn giản

1. Nhận biết

Sơ đồ 2:Sáu cấp độ nhận thức của Bloom
 Tư duy toán học: là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng của học sinh để đạt đến
một kết luận có cơ sở từ những dữ liệu toán học đã cho. Đặc trưng quan trọng nhất
của tư duy toán học, là tính có vấn đề. Tư duy phải được gắn với những tình huống
có vấn đề. Học sinh phải đặt được giả thuyết, rồi từ những mối liên hệ trong tình
huống có vấn đề để đi đến kết luận và lý giải kết quả đạt được. Những kết quả này
sẽ được tổng hợp thành những ý tưởng toán học mới. Ở đây, chúng ta chia tư duy
toán học thành bốn thành phần chính là nhắc lại, hiểu, phê phán, sáng tạo. Với quan
điểm này thì quá trình suy luận toán học là một bộ phận của tư duy toán học nó nằm
trên mức độ tư duy nhắc lại.

6


Tư duy nhắc lại: bao gồm những kỹ năng tư duy mà về bản chất hầu như là tự
động hoặc phản xạ. Trong toán học, thông thường đó là sự gọi lại những tính chất
quen thuộc, những định lí, công thức, thuật toán …đã biết.
Tư duy hiểu: là loại tư duy cơ bản bao gồm việc hiểu các khái niệm và khả năng
nhận ra những áp dụng của chúng vào các bài toán, các tình huống trong toán học
cũng như trong đời sống.
Tư duy phê phán: là khả năng xem xét các mối liên hệ, đánh giá mọi khía cạnh
của bài toán hay tình huống. Tư duy phê phán cũng thể hiện qua việc học sinh có
khả năng nhận ra giả thiết và các yêu cầu của bài toán, hoặc phát hiện được tính hợp
lý của các điều kiện bài toán, tính đầy đủ của lời giải... Tư duy phê phán bao gồm
các kỹ năng như:
- Tập trung vào những yếu tố của bài toán hay tình huống khó khăn;

 Thực hành dạy học hiệu quả: là thực hành dạy học có những đặc trưng sau:
- Các hoạt động lấy học sinh làm trung tâm để phát triển tư duy cho học sinh;
- Liên quan đến các kinh nghiệm sống hằng ngày của học sinh;
- Học sinh hiểu những gì đang được dạy và có thể áp dụng những điều ấy để
giải quyết các vấn đề;
- Có một kế hoạch tốt về các hoạt động của học sinh;
- Học sinh tích cực tham gia trong các hoạt động có hứng thú và có ý nghĩa;
- Sử dụng các phương tiện dạy học để nâng cao việc hiểu khái niệm cho học
sinh.
5. Ý nghĩa của nghiên cứu
Sử dụng mô hình nghiên cứu bài học trong thực hành dạy học toán ở trường
trung học phổ thông sẽ tạo ra những thực hành dạy học toán hiệu quả nhằm phát
triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên tập trung phát triển tư duy cho học sinh.
Thông qua nghiên cứu này, một quy trình nghiên cứu bài học phù hợp với thực tiễn
dạy học ở trường trung học phổ thông Việt Nam sẽ được đề xuất nhằm phổ biến

8


một phương pháp thực hành dạy học toán tiên tiến ở nước ta để nâng cao chất lượng
dạy học toán ở trường trung học phổ thông.
6. Tóm tắt và cấu trúc của luận văn
Luận văn được trình bày trong năm chương, phần tài liệu tham khảo và phụ
lục:
Chương 1. Mở đầu
Chương 2. Các nghiên cứu liên quan
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Các kết quả nghiên cứu
Chương 5. Kết luận, lí giải và áp dụng
Tài liệu tham khảo

việc dạy học đặt biệt là dạy học toán.
2. Nền tảng lí thuyết
Tích hợp các tiếp cận như lí thuyết kiến tạo, lí thuyết tình huống, giải quyết vấn
đề, khảo sát toán và câu hỏi kết thúc mở vào nghiên cứu bài học sẽ mang lại hiệu
quả tích cực trong các thực hành dạy học đặc biệt là dạy học toán ở trường phổ
thông nhằm phát triển tư duy toán học cho học sinh.
 Lý thuyết tình huống trong dạy học
Theo Brousseau lí thuyết tình huống không có gì khác hơn là một hệ thống các
điều kiện cần được thỏa mãn để tạo ra những cơ hội cho người học đi tới lời giải
trong những điều kiện thuận lợi. Lí thuyết tình huống gắn liền với những giả thuyết
sau:
- Chủ thể học tập bằng cách tự thích nghi với một môi trường sinh ra những
mâu thuẫn, những khó khăn và sự mất cân bằng.
- Một môi trường không có dụng ý sư phạm là không đủ để chủ thể kiến tạo
được tất cả các kiến thức mà xã hội mong muốn họ lĩnh hội được.
- Kiến thức được hình thành dựa trên những kiến thức cũ và có khi chống lại
những kiến thức cũ trước đó.
Hệ thống dạy học theo quan điểm của lí thuyết tình huống bao gồm thầy giáo,
học sinh, môi trường, tri thức trong mối quan hệ giữa thầy giáo - học sinh - môi
trường với các tri thức trong một tình huống dạy học được minh họa như sau

10


Học sinh

Thầy giáo

Môi trường


bên ngoài ý thức của chủ thể.
Lý thuyết kiến tạo thể hiện niềm tin rằng tất cả các tri thức đều là sản phẩm của
hoạt động nhận thức của chúng ta. Bằng cách xây dựng trên những kiến thức đã
được kiến tạo, học sinh có thể nắm bắt tốt hơn các khái niệm và có thể đi từ nhận
biết sự vật sang hiểu nó. Kiến thức được kiến tạo khuyến khích tư duy phê phán, nó
cho phép học sinh tích hợp các khái niệm theo nhiều cách khác nhau. Khi đó học
sinh có thể trình bày khái niệm, kiểm chứng, bảo vệ và phê phán về khái niệm được
xây dựng. Thầy giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ học sinh xây dựng
kiến thức chính xác. Đôi khi học sinh kiến tạo tri thức cho mình nhưng chỉ đúng
trong trường họp cụ thể. Khi đó thầy giáo cần phải đưa ra thêm những tình huống
cho phép học sinh thử nghiệm kiến thức của mình. Một khi học sinh nhận ra rằng tri
thức được kiến tạo của các em không đúng với tình huống mới các em có thể điều
chỉnh và kiểm tra tính đúng đắn cho phù hợp.
Học sinh tự kiến tạo tri thức mới cho riêng mình vì thế vai trò của người thầy
không phải là đọc giảng, giải thích hoặc nỗ lực chuyển tải các kiến thức toán học
mà là tạo ra những tình huống cho học sinh thiết lập các cấu trúc nhận biết. Học
sinh sẽ học toán tốt nhất khi các em được đặt trong một môi trường xã hội tích cực
mà ở đó các em có khả năng kiến tạo cách hiểu biết về toán của riêng mình.
Theo quan điểm này có nhiều cách tiếp cận để cải thiện việc dạy học toán như
tìm nhiều cách khác nhau để thu hút từng cá nhân học sinh tham gia, phát triển môi
trường giàu thông tin để khảo sát toán học. Chuẩn bị nhiều bài toán hoặc vấn đề liên
quan để giúp học sinh đối chứng thực nghiệm.
 Phát triển tư duy toán học cho học sinh
Việc học toán là một quá trình sáng tạo chứ không phải là việc tiếp thu một thực
thể kiến thức có sẵn. Nhiệm vụ của người thầy giáo là mở rộng trí tuệ của học sinh
chứ không phải là làm đầy trí tuệ của các em bằng cách truyền thụ các tri thức đã
có. Việc mở rộng trí tuệ đòi hỏi giáo viên phải dạy cho học sinh tự suy nghĩ để giải
quyết các vấn đề mà các em gặp phải trong quá trình học tập cũng như trong cuộc

12


13


- Kiểm chứng, chứng minh, phản bác và giải thích những ý tưởng của mình;
- Diễn đạt các ý tưởng toán học bằng cách dùng ngôn ngữ của mình;
- Làm việc vừa cá nhân vừa hợp tác;
- Dùng máy tính điện tử và máy tính bỏ túi để khám phá các ý tưởng toán;
- Dùng máy tính như là một công cụ để tiết kiệm sức lao động;
- Sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau để giải quyết vấn đề;
- Dùng các mô hình toán học để hỗ trợ giải quyết vấn đề;
- Trải nghiệm năng lực về các ý tưởng toán và các phương pháp tư duy.
Giáo viên sẽ:
- Hỏi các câu hỏi kết thúc mở;
- Chấp nhận nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải quyết một vấn đề;
- Lắng nghe học sinh nói về việc học toán của mình;
- Đưa ra các hoạt động theo nhiều bối cảnh khác nhau;
- Đáp ứng nhiều kiểu học tập;
- Xây dựng các kiến thức trên các kiến thức đã có của học sinh.
Những hoạt động trong lớp sẽ:
- Thách thức học sinh và gắn liền với những khái niệm toán học sâu sắc;
- Cho phép nhiều cách tiếp cận;
- Đưa đến nhiều khái niệm liên quan;
- Bao gồm những vấn đề không quen thuộc, xác định lỏng lẻo, nhiều khía
cạnh;
- Làm cho học sinh hứng thú.

 Tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học, nó không
chỉ là mục đích mà còn là phương tiện chính của việc học toán. Trong xu hướng đổi

- Bị cuốn hút vào bài toán đòi hỏi các em phải đặt ra các được câu hỏi, thu
thập dữ liệu và tiến hành nghiên cứu.

15


- Những câu hỏi chú trọng vào kiến thức toán nào sẽ được học và những câu
hỏi chỉ có thể trả lời bởi các em tham gia tích cực trong quá trình khám phá
và học tập.
Khảo sát có kết thúc mở, đặc biệt là các câu hỏi có kết thúc mở tạo ra cơ hội
cho học sinh sáng tạo toán học và mỗi lời giải tìm ra thì nhiều hướng giải khác có
thể làm theo được. Mở rộng khảo sát ban đầu có thể hình thành các câu hỏi mới và
vấn đề mới cho việc khảo sát tiếp theo. Thông qua quá trình học sinh tiến hành khảo
sát toán các năng lực tư duy cấp cao của các em được phát triển.
3. Các nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu bài học bắt đầu ở Nhật như là một hoạt động phát triển nghiệp
vụ sư phạm cho giáo viên. Những giáo viên có kinh nghiệm thường xuyên tham gia
vào quy trình này để kiểm tra và cải tiến một cách có hiệu quả các thực hành dạy
học của họ. Các giáo viên trong nhóm nghiên cứu hợp tác với nhau để lên kế hoạch
cho một bài học nhằm đáp ứng được các câu hỏi hoặc các mục đích được thiết lập
từ trước. Sau đó, một giáo viên trong nhóm có kinh nghiệm giảng dạy sẽ dạy bài
học này trong khi các giáo viên khác quan sát. Tiếp theo, các giáo viên trong nhóm
nghiên cứu sẽ thảo luận về tiết học này và sửa lại kế hoạch bài học cho phù hợp và
một giáo viên khác sẽ dạy nó trong một lớp học khác. Quy trình quan sát và thảo
luận được lặp lại một vài lần và cuối cùng là viết báo cáo (Fernandez & Chokshi,
2002). Nguồn gốc của nghiên cứu bài học của Nhật đôi khi được xem là bài học
nghiên cứu (Lewis, 2000), là truy nguyên nghĩa ở những năm đầu của thế kỉ 20
(Fernandez, 2002).
Nghiên cứu bài học lần đầu tiên được giới thiệu đến Mỹ bởi Makoto Yoshida
như là một chủ đề trong luận văn của ông. Nghiên cứu này đã hấp dẫn người hướng

Mục đích của nghiên cứu này là tìm kiếm những đổi mới trong thực hành
dạy học toán ở trường trung học phổ thông nhằm phát triển nghiệp vụ sư phạm cho
giáo viên tập trung phát triển tư duy cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học
toán thông qua việc sử dụng mô hình nghiên cứu bài học; đề xuất một quy trình
nghiên cứu bài học phù hợp với thực tiễn dạy học toán ở Việt Nam. Phần này mô tả
phương pháp được sử dụng để tiến hành nghiên cứu này. Nó được chia thành các
phần: (1) thiết kế nghiên cứu; (2) đối tượng tham gia; (3) công cụ; (4) quy trình thu
thập và phân tích dữ liệu và (5) hạn chế.

1. Thiết kế nghiên cứu

17


Thiết kế nghiên cứu lịch sử và thiết kế nghiên cứu quan sát sẽ được dùng
trong nghiên cứu này. Thiết kế nghiên cứu lịch sử được lựa chọn bởi vì chúng tôi
muốn có một hiểu biết sâu sắc về mô hình nghiên cứu bài học cũng như vai trò và
các áp dụng của nó trong thực hành dạy học toán ở các nước. Chúng tôi sẽ tiến hành
dạy thực nghiệm ở trường trung học phổ thông theo mô hình nghiên cứu bài học đã
được mô phỏng nhằm đề xuất một quy trình nghiên cứu bài học phù hợp với thực
tiễn dạy học ở nước ta nhằm tập trung phát triển nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
và tư duy toán học của học sinh. Muốn đưa ra được một quy trình nghiên cứu bài
học phù hợp chúng tôi phải tiến hành các thực hành dạy học và quan sát sau đó là
phản ánh nên một thiết kế nghiên cứu quan sát là cần thiết.
2. Đối tượng tham gia.
Thành phần tham gia trong nghiên cứu này gồm:
 Giáo viên: một nhóm nghiên cứu với khoảng mười giáo viên toán trong một
trường trung học phổ thông và một số giảng viên ở bộ môn Phương pháp giảng dạy
toán trường Đại học Sư phạm Huế.
 Học sinh: tất cả các học sinh ở hai lớp khác nhau trong một trường trung học

giảng dạy toán trường Đại học Sư phạm Huế, nếu thành phần tham gia được mở
rộng ra ở các trường khác nhau thì các kết luận được đưa ra để trả lời cho các câu
hỏi nghiên cứu sẽ đúng đắn hơn; (2) nghiên cứu sẽ giả thiết rằng đối tượng tham gia
nghiêm túc trong khi tiến hành, cũng có thể xảy ra trường hợp một số đối tượng
không thật sự nghiêm túc vì vậy kết quả rút ra có thể không đúng đắn; (3) nghiên
cứu giả thiết rằng nhóm nghiên cứu hiểu rõ cách tiến hành mô hình nghiên cứu bài
học nhưng cũng có khả năng một số giáo viên trong nhóm nghiên cứu có thể không
hiểu hoặc hiểu nhầm nhiệm vụ; (4) nếu các kế hoạch bài học được tiến hành dạy,
thảo luận và chỉnh sửa nhiều lần thì kết luận thu đuợc sẽ đáng tin cậy hơn, tuy nhiên
những điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất đã không cho phép.
6. Tóm tắt
Trong chương này chúng tôi đã trình bày các thiết kế nghiên cứu, đối tượng
tham gia trong nghiên cứu, công cụ nghiên cứu, quy trình thu thập và xử lý dữ liệu
cũng như hạn chế của nghiên cứu này. Tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày các kết quả
thu được từ nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu quan sát.

19


Chương 4. KẾT QUẢ
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày những thông tin đã thu được từ việc
giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Chúng tôi sẽ trình bày các kết quả này
thành hai phần. Phần thứ nhất trình bày các kết quả thu được từ nghiên cứu lịch sử.
Phần thứ hai trình bày các kết quả thu được từ việc thực nghiệm.
Chương 5. KẾT LUẬN, LÝ GIẢI VÀ ÁP DỤNG
Trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích các kết quả được trình
bày ở chương 4. Trước hết, chúng tôi sẽ trình bày các kết luận về những kết quả đó,
rút ra những nhận xét và trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Tiếp theo
chúng tôi sẽ lý giải cho các kết quả đạt được và cuối cùng là đưa ra các đề nghị về
việc áp dụng các kết quả thu được vào việc dạy học toán hiện nay và đề xuất hướng

Educational Forum.
9. Catherine Lewis (2006). Professional development through lesson study:
Progress and Challenges in the U.S, Paper presented at APEC-Tsukuba
International Conference, January 2006, Tokyo, Japan.
10. David Tall (1991). Advanced Mathematical Thinking, Kluwer Academic
Publishers, Dordrecht, Boston, London.
11. W. A. Weber (2001). Research Methods, Regional Center for Science and
Mathematics Penang, Malaysia.
12. Leslie P.Steffe, Pearla Nesher, Paul Cobb, Gerald A.Goldin, Brain Greer
Theories of Mathematical Learning.
13. Alfred S.Posamentier Stephen Krulik (1998). Problem-solving strategies for
efficient and elegant solutions, Corwin press.
Phụ lục
• Các kế hoạch bài học.
• Các thước phim về các tiết học.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status