Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
***********
NINH THỊ MAI
KỸ NĂNG PHÂN TÍCH CÂU CỦA HỌC
SINH LỚP 4 TRƢỜNG TIỂU HỌC LIÊN
MINH - THÀNH PHỐ VĨNH YÊN VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
HÀ NỘI - 2010
Ninh Thị Mai - K32B
1
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1.Về mặt lý luận
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
khác. Vì vậy việc hình thành, rèn luyện kỹ năng phân tích câu cho học sinh là
rất quan trọng.
2. Về mặt thực tiễn
Kỹ năng phân tích câu của học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học hiện nay
còn nhiều hạn chế. Một bộ phận học sinh chưa xác định đúng các thành phần
câu như lẫn lộn chủ ngữ với trạng ngữ, chưa phân biệt được các thành phần
chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong một số câu nhất định. Có nhiều nguyên nhân
ảnh hưởng đến khả năng phân tích câu của học sinh lớp 4.
Thứ nhất, việc vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học, cách thức
tổ chức các hoạt động cho học sinh tiếp thu tri thức mới, rèn luyện củng cố
các tri thức đã học về câu của nhiều giáo viên còn hạn chế, chưa đạt hiệu quả
cao.
Thứ hai, thời gian trên lớp để giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập,
củng cố các tri thức đã học về câu chưa nhiều. Hơn nữa, ở bậc Tiểu học lại
không được giao bài tập về nhà cho học sinh. Chính điều này đã gây hạn chế
trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng phân tích câu cho học sinh.
Thứ ba, những kiến thức các em đã được hình thành, rèn luyện trên lớp
cần được tiếp tục rèn luyện ở nhà. Nhưng hiện nay gia đình vẫn chưa phát
huy được hết vai trò của mình mà vẫn đặt phần lớn trách nhiệm cho giáo dục
nhà trường. Điều này cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập, rèn luyện kỹ
năng của học sinh.
Thứ tư, các em tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng đạt mức độ nào còn
tuỳ thuộc vào ý thức học tập và khả năng nhận thức của từng em.
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ trong quá trình nghiên cứu của mình
đã đề cập đến vấn đề câu như: Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thìn, Hoàng
Trọng Phiến,… Song việc nghiên cứu cụ thể về kỹ năng phân tích câu của
các trường Tiểu học nói chung.
4. Giả thuyết nghiên cứu đề tài
Kỹ năng phân tích câu của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Liên Minh
đạt mức trung bình - khá. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên,
trong đó nguyên nhân quan trọng là học sinh chưa nắm vững khái niệm về
câu, thành phần câu; thời gian thực hành, rèn luyện kỹ năng chưa nhiều; giáo
viên chưa chủ động hình thành cho học sinh các kỹ năng nói chung và kỹ
năng phân tích câu nói riêng. Nếu cải tiến các phương pháp dạy học cho phù
Ninh Thị Mai - K32B
4
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
hợp với trình độ, khả năng nhận thức của học sinh và chủ động tiến hành phụ
đạo cho những học sinh yếu, kém, trung bình thì kỹ năng phân tích câu của
học sinh có thể sẽ được nâng cao.
5. Khách thể nghiên cứu đề tài
Khách thể nghiên cứu là 39 học sinh lớp 4E và 41 học sinh lớp 4B
trường Tiểu học Liên Minh - thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
6. Đối tƣợng nghiên cứu đề tài
Kỹ năng phân tích câu của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Liên Minh thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: chỉ nghiên cứu kỹ năng phân tích câu
với các bài tập mà giáo viên đặt ra trong các tiết dự giờ, tiết dạy thử rồi ghi
chép lại.
- Quan sát giáo viên về phương pháp giảng dạy, về cách thức tổ chức
các hoạt động học tập cho học sinh trong tiết học.
9.3. Phƣơng pháp đàm thoại
- Trò chuyện với học sinh để phát hiện ra mức độ, khả năng sử dụng
tiếng Việt mà học sinh đã đạt được ở dạng ngôn ngữ nói và phát hiện ra khả
năng nhận thức của học sinh.
- Trò chuyện để tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình của học sinh.
9.4. Phƣơng pháp phân tích sản phẩm
Phương pháp này sử dụng khi thu bài của học sinh để đánh giá, phân
loại bài làm của học sinh theo các mức độ đã đặt ra.
9.5. Phƣơng pháp điều tra cơ bản
Trước khi tiến hành nghiên cứu thực trạng, chúng ta phải nắm rõ số
lượng học sinh, trình độ hiện tại của học sinh, thành phần học sinh không đạt
yêu cầu (học sinh khuyết tật, thiểu năng trí tuệ,…) để quá trình nghiên cứu
thực nghiệm đạt yêu cầu.
9.6. Phƣơng pháp thử nghiệm tác động
Phương pháp này dùng để tác động hình thành, phát triển kỹ năng phân
tích câu cho học sinh và để chứng minh cho giả thuyết đã nêu.
Đối tượng thử nghiệm tác động là học sinh lớp 4B và lớp 4E trường
Tiểu học Liên Minh - thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
Cụ thể trong khóa luận đã sử dụng phương pháp thử nghiệm tác động
như sau: Tiến hành đo thực trạng kỹ năng phân tích câu của học sinh hai lớp
4B và 4E trường Tiểu học Liên Minh qua hệ thống bài tập đã xây dựng. Sau
Ninh Thị Mai - K32B
6
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của đề tài
1. Khái niệm học sinh tiểu học
Lứa tuổi học sinh tiểu học bắt đầu từ 6 tuổi, kết thúc 11 tuổi. Đó là những
em đang học từ lớp 1 đến lớp 5.
Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển của trẻ em có hoạt động học
là hoạt động chủ đạo, đây là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện có đối tượng là
tri thức khoa học.
Nhờ thực hiện hoạt động học mà hình thành và phát triển ở học sinh các
quá trình tâm lý có chủ định, đặc biệt là hình thành kiểu tư duy mới là tư duy
khoa học.
Nhờ thực hiện hoạt động học và các dạng hoạt động khác mà hình thành ở
học sinh những thành phần cơ bản của nhân cách con người, những gì học
sinh tiếp thu được ở cấp Tiểu học sẽ đi suốt cuộc đời con người.
Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khả năng phát triển,
được biểu hiện ở việc tiếp thu nội dung các môn học.
2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4
2.1. Đặc điểm sinh lý
Sự phát triển cơ thể ở lứa tuổi này diễn ra bình thường, toàn bộ độ cong
của xương cột sống đang hình thành, bộ xương đang ở giai đoạn cốt hoá.
Sự hình thành các vùng trên vỏ não đạt được các chỉ số gần giống người
lớn, cấu tạo tế bào thần kinh gần giống với cấu tạo tế bào thần kinh người lớn,
thuỳ trán phát triển mạnh. Những đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi để học
sinh tiến hành hoạt động học có đối tượng là tri thức khoa học. Quá trình
hưng phấn mạnh hơn ức chế dẫn đến học sinh tiểu học dễ hiếu động, chưa
làm chủ được cảm xúc của mình. Những đường liên hệ thần kinh tạm thời
Ninh Thị Mai - K32B
Động cơ học tập là yếu tố tâm lý thúc đẩy học sinh học, là nguyên nhân
của hoạt động học. Có hai loại động cơ:
- Động cơ nhận thức (động cơ bên trong) là đối tượng của hoạt động học
mà kết quả là sau khi học sinh tiếp thu được đối tượng này thì thoả mãn nhu
cầu nhận thức. Nói cách khác, cái thôi thúc học sinh học là tri thức.
Ninh Thị Mai - K32B
9
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
- Động cơ xã hội (động cơ bên ngoài) là động cơ thoả mãn nhu cầu mà đối
tượng của nó bám theo đối tượng của hoạt động học, sau khi tiếp thu được đối
tượng của hoạt động học thì học sinh thoả mãn được nhu cầu đó. Nói cách
khác, cái thôi thúc học sinh học không phải là tri thức mà là các mối quan hệ
xã hội của học sinh.
Cả hai loại động cơ trên đều được hình thành ở mỗi học sinh, tuy nhiên
chúng được sắp xếp theo thứ bậc trong đó có một loại là chủ đạo. Nhưng xét
theo quan điểm sư phạm thì động cơ nhận thức có giá trị hơn, bởi vì động cơ
này tạo sự say mê, tính tự giác, tính kiên trì trong học tập của học sinh.
4. Hành động học tập
Hành động học tập là quá trình học sinh tác động trực tiếp vào đối tượng
học để tạo ra các sản phẩm học tập, đạt được các chỉ tiêu đã định trước. Mỗi
hành động bao gồm một hệ thống các thao tác, thao tác vốn là một hành động
Hành động phân tích là hành động phân giải đối tượng thành các yếu tố và
mối quan hệ của chúng. Mục đích của hành động phân tích là phát hiện ra
nguồn gốc vật chất của khái niệm và nội dung khái niệm. Do đó, hành động
phân tích là hành động tiên quyết trong quá trình học sinh tiếp thu khái niệm.
Phân tích được diễn ra ở cả ba hình thức hành động tuỳ theo đối tượng đang ở
hình thức nào. Trình độ thực hiện hành động phân tích tuỳ thuộc vào sự nắm
vững tri thức đã tiếp thu được, bởi vì công cụ của hành động phân tích là tri
thức.
6. Kỹ năng
6.1. Khái niệm kỹ năng
Trong Tâm lý học, việc tìm hiểu kỹ năng không phải là một vấn đề mới.
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học như:
V.S.Kudin, N.D.Lêvitôp, A.V.petrorxki,…Ở nước ta, một số tác giả cũng đã
tìm hiểu, nghiên cứu về kỹ năng.
Theo Từ điển Tiếng Việt [9]: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức
thu nhận được trong một lĩnh vực nhất định vào thực tế” .
Theo Lê Văn Hồng [12].: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái
niệm, cách thức, phương pháp,...) để giải quyết một nhiệm vụ mới”
Theo Bùi Văn Huệ [1]: “Kỹ năng là vận dụng tri thức, khái niệm, định
nghĩa, định luật,... vào thực tiễn. Kỹ năng vẫn còn là hành động ý chí, đòi
hỏi phải động não, suy xét, tính toán, phải có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành
được”.
Ninh Thị Mai - K32B
11
Khoa Giáo dục Tiểu học
kỹ năng đó.
Ninh Thị Mai - K32B
12
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
- Mục đích hình thành kỹ năng.
- Các thao tác tương ứng cùng với những phương tiện thực hiện các thao
tác.
6.3. Phân biệt kỹ năng, kỹ xảo
Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức vào hành động thực hành đã được
củng cố.
Kỹ xảo được hiểu là loại hành động được tự động hoá do luyện tập.
Kỹ năng và kỹ xảo về bản chất đều là thuộc tính kỹ thuật của hành động cá
nhân. Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã
được lĩnh hội, luyện tập trong thực tiễn. Nhưng so với kỹ năng thì kỹ xảo
thuần thục hơn, tự động hoá và được giải phóng khỏi sự kiểm soát của ý
thức. Nhờ có kỹ xảo, con người có thể đạt được kết quả cao trong hành động.
6.4. Phân loại kỹ năng
Mỗi loại hành động khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật tương ứng khác
nhau. Căn cứ vào tính chất của mỗi loại hoạt động, ta có thể chia thành các kỹ
năng sau:
- Kỹ năng hoạt động trí tuệ.
như: phân tích, tổng hợp, mô hình hoá, cụ thể hoá, đọc sách, tra cứu tài liệu,
lập biểu đồ, thí nghiệm,…
Kỹ năng học tập của học sinh có những đăc trưng sau:
- Kỹ năng học tập thể hiện mặt năng lực học tập của học sinh, liên quan
chặt chẽ với hiệu quả học tập và là yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả
học tập.
- Kỹ năng học tập thể hiện mặt kỹ thuật của hành động học tập, là sự tổ
hợp các phương thức thực hiện hành động học tập đã được học sinh nắm vững
và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đã đề ra.
- Kỹ năng học tập là một hệ thống phức tạp và có tính phát triển, bao gồm
trong nó những kỹ năng chuyên biệt. Có những kỹ năng chung, cơ bản cần
thiết cho nhiều môn học, có những kỹ năng của từng môn học.
6.6. Sự hình thành kỹ năng ở học sinh tiểu học
Khi nghiên cứu sự hình thành kỹ năng, nhiều nhà tâm lý học đã khẳng
định: “Thực chất của việc hình thành kỹ năng là làm cho học sinh nắm vững
một hệ thống phức tạp các thao tác, nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những
thông tin chứa đựng trong tài liệu học tập, trong nhiệm vụ học tập và đối
Ninh Thị Mai - K32B
14
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
chiếu chúng với những hành động cụ thể”. Do đó, để hình thành kỹ năng (chủ
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Theo Tâm lý học, ta xét hai phương diện:
Thứ nhất, phân tích là quá trình thực hiện các thao tác vật chất bằng tay,
bằng sức mạnh cơ bắp tác động trực tiếp lên đối tượng, nhằm làm biến đổi đối
tượng để phát hiện ra bản chất của đối tượng. Ngược lại, tổng hợp là quá trình
thực hiện các thao tác vật chất bằng tay, bằng sức mạnh cơ bắp để sắp xếp lại
các bộ phận đã được phân tích thành đối tượng chỉnh thể, để khái quát thành
khái niệm.
Thứ hai, phân tích và tổng hợp là những thao tác tư duy cơ bản, tất cả
những cái tạo thành hoạt động trí tuệ đều là những dạng khác nhau của quá
trình phân tích và tổng hợp. Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối
tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau. Ngược lại,
tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời
nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể.
Phân tích và tổng hợp có tác động qua lại, mật thiết với nhau, tạo thành sự
thống nhất không tách rời được: sự phân tích được tiến hành theo hướng tổng
hợp, còn sự tổng hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích. Kỹ năng
phân tích và kỹ năng tổng hợp có vai trò quan trọng nhất trong hệ thống các
kỹ năng học tập.
8. Kỹ năng phân tích câu
8.1. Câu
8.1.1. Định nghĩa
Định nghĩa về câu đã có từ rất lâu đời, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa
Hoàn cảnh giao tiếp được coi là điều kiện để câu xuất hiện và tồn tại. Bởi
câu chỉ có ý nghĩa khi nó được sinh ra trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất
định. Câu không gắn với hoàn cảnh giao tiếp là câu vô nghĩa.
- Câu phải có ngữ điệu.
Ngữ điệu là dấu hiệu để kết thúc câu. Khi nói, ngữ điệu thể hiện ở những
quãng ngừng, nghỉ. Khi viết, ngữ điệu kết thúc bằng dấu câu.
8.2. Phân tích câu
Muốn phân tích đúng một câu, đòi hỏi người phân tích phải nắm được các
kiến thức ngữ pháp, ngữ nghĩa và nắm được cách thức, phương pháp để phân
tích câu. Phân tích câu chính là phân tích cấu trúc của câu.
Theo Diệp Quang Ban [11], trong câu có bốn kiểu cấu trúc khác nhau, đó
là:
- Cấu trúc cú pháp
Ninh Thị Mai - K32B
17
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện
- Cấu trúc thức
- Cấu trúc đề-thuyết
Ở bậc Tiểu học, hình thành và phát triển kỹ năng phân tích câu cho học
sinh chủ yếu đi vào phân tích cấu trúc cú pháp của câu.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
9.2. Vị ngữ
Khái niệm: Vị ngữ là thành phần chính của câu, thể hiện nội dung thông
báo ( hoạt động, trạng thái, tính chất, đặc điểm, quan hệ, nhận xét,…) của đối
tượng được nêu ở chủ ngữ, cùng với chủ ngữ tạo nên nòng cốt câu.
Vị trí: Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự C-V, nhưng vị ngữ có
thể đứng trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo hoặc mang màu
sắc tu từ.
Cách xác định vị ngữ: Muốn tìm vị ngữ của câu, phải thực hiện các bước
phân tích cấu trúc câu: xác định nòng cốt câu (tối giản), xác định chủ ngữ,
phần còn lại là vị ngữ của câu (phần nêu thông báo về đối tượng được nói đến
ở chủ ngữ).
Cấu tạo của vị ngữ: Vị ngữ có thể được cấu tạo từ một từ (động từ, tính từ,
danh từ, đại từ, số từ), một cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ cố
định, cụm C-V hay một giới ngữ.
9.3.Trạng ngữ
Khái niệm: Trạng ngữ là thành phần câu có tác dụng bổ sung ý nghĩa tình
huống cho nòng cốt câu. Ý nghĩa tình huống có thể là thời gian, nơi chốn,
mục đích, phương tiện, nguyên nhân, trạng thái....
Vị trí: Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, ở giữa câu hoặc ở cuối câu nhưng
vị trí phổ biến của trạng ngữ là đứng ở đầu câu.
Cách xác định trạng ngữ: Trạng ngữ có thể được xác định bằng cách xác
định thành phần chính của câu, sau đó xác định thành phần phụ của câu và
dựa vào dấu hiệu có dấu phẩy tách nó với nòng cốt câu kết hợp với nghĩa chỉ
thời gian, nơi chốn, mục đích,....của trạng ngữ để phân biệt nó với đề ngữ.
Cấu tạo của trạng ngữ: Trạng ngữ được làm từ một từ, một cụm từ hoặc
một giới ngữ.
- Rèn luyện các năng lực phân tích, lĩnh hội có cơ sở khoa học các hiện
tượng ngữ pháp từ đó hiểu và cảm các sản phẩm giao tiếp ngôn ngữ một cách
chính xác, tinh tế.
- Nâng cao năng lực viết và nói, khi viết và nói đảm bảo phù hợp với các
quy tắc ngữ pháp, thích hợp với hoàn cảnh giao tiếp, đạt được trình độ trong
sáng chuẩn mực của tiếng Việt. Đồng thời phát hiện và sửa chữa được những
lỗi thường mắc trong hoạt động giao tiếp.
Để đạt được mục đích nêu trên, việc thực hành ngữ pháp cần tuân thủ các
nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành, nguyên tắc tích cực hóa và ý thức hóa
Ninh Thị Mai - K32B
20
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
vốn kinh nghiệm ngôn ngữ của học sinh, nguyên tắc kết hợp phát triển tư duy
và phát triển ngôn ngữ, nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp,... Cần
quán triệt các nguyên tắc này trong việc xây dựng nội dung thực hành và cả
trong phương pháp tiến hành thực hành.
Thực hành trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong dạy học ngữ pháp
nói riêng có vị trí vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong quá trình tổ
chức dạy học. Có dạy học thực hành, môn Tiếng Việt mới thực hiện được
mục tiêu đầu tiên của chương trình Tiếng Việt là "hình thành và phát triển ở
học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi
Khoa Giáo dục Tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Kiểu bài tập này nhằm ôn tập, củng cố, đánh giá kỹ năng phân tích cú
pháp của học sinh tiểu học. Muốn tìm đúng các thành phần câu, học sinh phải
biết đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi cho các thành phần tương ứng.
- Bài tập vạch sẵn ranh giới các thành phần câu, học sinh gọi tên từng
thành phần.
Ví dụ: Hãy gọi tên từng bộ phận được đánh số trong câu sau:
"Vào một đêm cuối xuân 19471, khoảng 2 giờ sáng2, trên đường đi công
tác3, Bác Hồ4 đến nghỉ chân ở một nhà bên đường5."
b. Dạy bài tập cấu trúc.
Bài tập cấu trúc được xây dựng từ dễ đến khó. Loại bài tập này vừa có tác
dụng củng cố khái niệm và quy tắc ngữ pháp vừa rèn luyện năng lực tạo lập
các sản phẩm mới.
Khi hướng dẫn học sinh thực hiện dạng bài tập cấu trúc, giáo viên cần chú
ý đến các bước:
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của đề bài và hiểu rõ ngữ liệu đã cho.
- Thực hiện đúng các yêu cầu của đề bài.
- Kiểm tra lại sản phẩm mới theo yêu cầu luyện tập và theo các chuẩn
ngôn ngữ.
Bài tập cấu trúc gồm các kiểu bài sau:
- Bài tập ghép các bộ phận chủ ngữ ở bên trái với bộ phận vị ngữ thích hợp
ở bên phải để tạo thành câu.
Ví dụ: Ghép từ thích hợp ở cột A với từ ngữ ở cột B để tạo thành câu kể Ai
Ví dụ: Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho những câu sau:
a. ..., em giúp bố mẹ làm những công việc gia đình.
b. ..., em hăng hái nghe giảng và phát biểu ý kiến.
c. ..., hoa đã nở.
Để làm được các dạng bài tập trên, học sinh phải xác lập được sự tượng
hợp giữa chủ ngữ với vị ngữ, giữa trạng ngữ với nòng cốt câu. Giáo viên
hướng dẫn, định hướng để học sinh thực hiện xác lập sự tương hợp đó.
c. Dạy bài tập sáng tạo.
Mục đích chủ yếu của loại bài tập này là rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho
học sinh tiểu học. Bài tập sáng tạo yêu cầu học sinh tự mình tạo nên sản phẩm
ngôn ngữ theo một yêu cầu nào đó.
Dạy học sinh thực hành loại bài tập sáng tạo, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh thực hiện tốt các bước sau:
- Phân tích yêu cầu của bài tập và phân tích mẫu hoặc phần ngữ liệu cho
sẵn.
- Tiến hành các thao tác tạo lập sản phẩm sao cho đáp ứng đúng và đủ các
yêu cầu của bài tập.
- Kiểm tra lại sản phẩm theo các yêu cầu và đối chiếu với mẫu, sửa chữa,
điều chỉnh sản phẩm nếu sai sót.
Các kiểu bài tập sáng tạo
- Cho sẵn từ đảm nhiệm một chức năng ngữ pháp nhất định, yêu cầu đặt
câu.
Ví dụ 1: Đặt câu với những từ ngữ sau làm chủ ngữ:
a. Các chú công nhân
b. Mẹ em
Ninh Thị Mai - K32B
24
chung, nắm được cơ sở xây dựng bài tập, tuần tự thực hiện và phải có mẫu lời
giải đúng.
Dạy bài tập ngữ pháp nói chung, bài tập thành phần câu nói riêng là tổ
chức, hướng dẫn học sinh làm bài tập, bao gồm các bước sau:
Ninh Thị Mai - K32B
25
Khoa Giáo dục Tiểu học